1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Khảo sát phù hoàng điểm trong bệnh lý võng mạc đái tháo đường bằng chụp cắt lớp võng mạc OCT

6 112 3

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 6
Dung lượng 572,47 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nghiên cứu được thực hiện với mục tiêu nhằm khảo sát phù hoàng điểm trong bệnh lý võng mạc đái tháo đường (ĐTĐ) bằng chụp cắt lớp võng mạc OCT. Nghiên cứu phân tích hàng loạt ca bệnh nhân đái tháo đường. Bệnh nhân sẽ được đo thị lực kính, khám lâm sàng, chụp OCT hoàng điểm và chụp mạch huỳnh quang để khảo sát vùng hoàng điểm.

Trang 1

KHẢO SÁT PHÙ HOÀNG ĐIỂM TRONG BỆNH LÝ VÕNG MẠC ĐÁI THÁO ĐƯỜNG BẰNG CHỤP CẮT LỚP VÕNG MẠC OCT

Võ Quang Hồng Điểm*, Võ Thị Hoàng Lan*, Nguyễn Xuân Trường*

TÓM TẮT

Mục tiêu: Khảo sát phù HĐ trong bệnh lý võng mạc đái tháo đường (ĐTĐ) bằng chụp cắt lớp võng mạc

OCT

Phương pháp: Nghiên cứu tiến cứu, cắt ngang, mô tả có phân tích hàng loạt ca bệnh nhân đái tháo đường

Bệnh nhân sẽ được đo thị lực kính, khám lâm sàng, chụp OCT HĐ và chụp mạch huỳnh quang để khảo sát vùng hoàng điểm

Kết quả: Nghiên cứu gồm 267 mắt của 146 bệnh nhân với tỷ lệ phù HĐ phát hiện trên lâm sàng là 27%, tỷ

lệ phù HĐ trên OCT là 36%, trong đó phù nhẹ chiếm 49%, phù trung bình 26%, và phù nặng 25% Khi độ dày trung bình võng mạc HĐ  219 hoặc  320µm, thì có sự nhất trí cao giữa chẩn đoán phù HĐ trên lâm sàng với phù HĐ trên OCT

Kết luận: OCT là phương tiện khách quan để chẩn đoán và theo dõi phù HĐ do ĐTĐ nhưng khám đáy mắt

bằng sinh hiển vi với kính không tiếp xúc vẫn còn có giá trị lâm sàng

Từ khóa: Phù hoàng điểm, bệnh lý võng mạc, đái tháo đường, chụp cắt lớp võng mạc

ABSTRACT

USING OPTICAL COHERENCE TOMOGRAPHY (OCT) TO STUDY THE DIABETIC MACULAR

OEDEMA

Vo Quang Hong Điem, Vo Thi Hoang Lan, Nguyen Xuan Truong

* Y hoc TP Ho Chi Minh * Vol 15 – No 2 – 2011: 106 - 111

Purpose: Using Optical Coherence Tomography (OCT) to study the diabetic macular oedema

Method: Prospective, cross sectional – descriptive study with analysis in diabetic patients These patients

have had corrected visual acuity, clinical examination, OCT and Fluorescein fundus Angiography was used for macular analysis

Result: Study in 267 eyes of 146 diabetic patients: clinical macular oedema is 27%, macular oedema in OCT

is: ”36% (mild:49% - moderate: 26% - severe: 25%) When the macular thickness is  219 or  320µm, we found the agreement between clinical macular oedema and OCT macular oedema

Conclusion: OCT is an objective method for diagnosis and follow-up diabetic macular oedema However

clinical examination with non contact lense still have the clinical value

Key words: macular oedema, diabetes, Optical Coherence Tomography (OCT)

ĐẶT VẤN ĐỀ

Phù hoàng điểm (HĐ) là nguyên nhân gây

giảm thị lực thường gặp nhất đối với bệnh

nhân đái tháo đường (ĐTĐ) týp 2(6,11) Trên lâm sàng, để chẩn đoán phù hoàng điểm, cần

sử dụng các phương tiện khám đáy mắt cho phép nhìn bằng hai mắt như sinh hiển vi, soi

* Bộ môn Mắt – Đại học Y Dược TP HCM

Tác giả liên lạc: BS Võ Quang Hồng Điểm Email: voquanghongdiem@gmail.com

Trang 2

đáy mắt gián tiếp hay chụp đáy mắt hình nổi

Mặc dù 2 cách khám đáy mắt trên gần như

được chấp nhận là tiêu chuẩn vàng hay tiêu

chuẩn vàng trên lâm sàng trong đánh giá phù

hồng điểm, chúng cĩ khuyết điểm là chủ

quan, định tính, địi hỏi người quan sát phải

cĩ kỹ năng tốt và kinh nghiệm nhiều cũng

như người bệnh phải hợp tác tốt(10,13) Gần

đây, với kỹ thuật chụp định khu sử dụng

sĩng ánh sáng cĩ độ kết hợp thấp OCT

(Optical Coherence Tomography) hay gọi gọn

hơn và dễ hình dung hơn là kỹ thuật chụp cắt

lớp võng mạc OCT, ta cĩ thể dễ dàng khảo sát

độ dày võng mạc HĐ và tình trạng phù HĐ

Thời gian để thực hiện một lần chụp cắt lớp

võng mạc OCT chỉ khoảng 5-10 phút (bao

gồm cả hướng dẫn bệnh nhân)(1,3,5).Trong

nghiên cứu này, chúng tơi khảo sát phù HĐ

trong bệnh lý võng mạc đái tháo đường bằng

chụp cắt lớp võng mạc OCT nhằm khẳng định

ưu điểm của phương pháp mới này so với

phương pháp khám lâm sàng

ĐỐI TƯỢNG - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Đối tượng nghiên cứu là các bệnh nhân ĐTĐ

đang điều trị bệnh ĐTĐ Nghiên cứu loại trừ các

đối tượng sau: sẹo giác mạc, đục thủy tinh thể,

xuất huyết pha lê thể nằm trên trục thị giác,

màng trước võng mạc hồng điểm, phù gai thị,

cĩ các bệnh khác về võng mạc (thối hĩa hồng

điểm, tắc tĩnh mạch võng mạc, lỗ HĐ…), viêm

nội nhãn và đã cĩ laser quang đơng võng mạc

hay phẫu thuật nội nhãn

Phương pháp nghiên cứu là tiến cứu, cắt

ngang, mơ tả cĩ phân tích hàng loạt ca Các

bệnh nhân sẽ được khai thác bệnh sử để ghi

nhận các biến số nền trong đĩ quan trọng là loại

ĐTĐ, thời gian mắc bệnh ĐTĐ và tình trạng

kiểm sốt đường huyết Bệnh nhân được đo thị

lực kính, khám mắt bằng kính sinh hiển vi với

kính khơng tiếp xúc Superfield để đánh giá phù

hồng điểm, độ nặng của bệnh VMĐTĐ, chụp

mạch huỳnh quang, và chụp OCT hồng điểm

Do chưa cĩ số liệu độ dày HĐ ở người

Việt nam bình thường, nên chúng tơi cĩ thực

hiện thêm một mẫu tham khảo nhỏ gồm 30 người bình thường

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

Ở mẫu tham khảo, chúng tơi thu được kết quả như sau:

Bảng 1: Độ dày và thể tích võng mạc vùng HĐ của

mắt người bình thường trong mẫu tham khảo (n=60)

nhất

Lớn Nhất (1)

TB  2 ĐLC (2)

Độ dày (µm)

Chính giữa hồng điểm 144  19 94 184 182 HĐ1mm 181  18 143 219 217 HĐ1mm 0.142 

0.014 0, 112 0, 171 0, 170 HĐ3mm 1, 794  0,

094 1, 590 1, 940 1, 982

Thể tích (mm 3 )

HĐ6mm 6, 728  0,

358 5, 936 7, 318 7, 444 Căn cứ vào kết quả độ dày và thể tích võng mạc của mắt người bình thường trong mẫu tham khảo, chúng tơi chọn mức giới hạn giữa võng mạc bình thường và võng mạc phù là giá trị lớn nhất (1) hoặc giá trị “TB+2ĐLC” (2) nếu giá trị nào lớn hơn Cụ thể như sau:

Độ dày:

Chính giữa hồng điểm: 184 µm HĐ1mm: 219 µm

Thể tích:

HĐ1mm: 0,171 mm3

HĐ3mm: 1,982 mm3

HĐ6mm: 7,444 mm3

Mẫu nghiên cứu gồm 146 bệnh nhân (gồm

267 mắt) được khám lâm sàng và chụp OCT, cĩ

105 bệnh nhân (gồm 189 mắt) được chụp mạch huỳnh quang Cĩ 25 bệnh nhân chỉ được khảo sát 1 mắt vì mắt kia khơng thỏa mãn tiêu chuẩn chọn vào mẫu nghiên cứu

Tuổi trung bình của người trong mẫu nghiên cứu là 56,3 tuổi (95%CI=54,8-57,8) Bệnh nhân nhỏ tuổi nhất là 26 tuổi, lớn tuổi nhất là 73 tuổi Trong mẫu nghiên cứu cĩ 92 bệnh nhân nữ (chiếm 63%) Thời gian phát hiện mắc bệnh ĐTĐ

Trang 3

trung bình của bệnh nhân trong mẫu nghiên

cứu là 8,2  5,7 năm; ngắn nhất là 1 năm và dài

nhất là 24 năm Có 15 bệnh nhân ĐTĐ type 1

(chiếm 10,3%) và và 131 bệnh nhân ĐTĐ type 2

(chiếm 89,7%) Thời gian phát hiện mắc bệnh

ĐTĐ ở bệnh nhân ĐTĐ type 1 là 7,8  5,0 năm

và type 2 là 8,2  5,8 năm Thời gian phát hiện

mắc bệnh ĐTĐ trung bình ở bệnh nhân chưa có

bệnh VMĐTĐ (4,9  3,8 năm) ngắn hơn ở bệnh

nhân đã có bệnh VMĐTĐ (9,6  5,7 năm) (kiểm

định Mann-Whitney, p<0,05) Có 84 bệnh nhân

kiểm soát đường huyết tốt (chiếm 57,5%), 33

kiểm soát chưa tốt (chiếm 22,6%) và 29 không rõ

(chiếm 19,9%) Trong nghiên cứu: 85 mắt chưa

có bệnh VMĐTĐ (chiếm 32%), 140 mắt có bệnh

VMĐTĐ không tăng sinh (chiếm 52%) và 42 mắt

có bệnh VMĐTĐ tăng sinh (chiếm 16%)

Bảng 2: Phân bố mức độ bệnh VMĐTĐ theo phân

loại bệnh ĐTĐ

Phân loại bệnh ĐTĐ Phân độ

Chưa có

VMĐTĐ không

TS 8 (31%) 132 (55%) 140 (52%)

VMĐTĐTS 18 (69%) 24 (10%) 42 (16%)

Khám lâm sàng bằng đèn khe với kính

không tiếp xúc, có 194 mắt được đánh giá là

không có phù HĐ(chiếm 73%), 60 mắt được

đánh giá là có phù HĐ (chiếm 22%) và còn lại 13

mắt (chiếm 5%) nghi ngờ có phù hoàng điểm

Nếu tính gộp nghi ngờ là có thì tỷ lệ phù HĐ

trên lâm sàng của mẫu nghiên cứu là 27% Tỷ lệ

phù HĐ ở bệnh nhân ĐTĐ type 1 là 77-81% (nếu

tính gộp nghi ngờ) cao hơn nhiều so với type 2

là 17-22% Ở 85 mắt chưa có bệnh VMĐTĐ

không thấy có phù HĐ trên lâm sàng Tỷ lệ phù

HĐ trên lâm sàng càng tăng khi bệnh VMĐTĐ

càng nặng Ở mắt có phù HĐ trên lâm sàng, số

mắt có bệnh VMĐTĐ không tăng sinh và tăng

sinh gần tương đương nhau

Chỉ có 105 bệnh nhân được chụp mạch

huỳnh quang bao gồm 189 mắt Trong số đó

có 50 mắt (chiếm 26,5%) không có rò huỳnh

quang và 139 mắt (chiếm 73,5%) có rò huỳnh

quang tại hoàng điểm Trong 50 mắt không có

rò huỳnh quang, có 25 mắt (50%) chưa có bệnh VMĐTĐ và 25 mắt (50%) có bệnh VMĐTĐ không tăng sinh Đối với 139 mắt có

rò huỳnh quang, 97 mắt (70%) có bệnh VMĐTĐ không tăng sinh và 42 mắt (30%) có bệnh VMĐTĐ tăng sinh Đáng chú ý là toàn

bộ 42 mắt có bệnh VMĐTĐ tăng sinh của mẫu nghiên cứu đều có rò huỳnh quang tại hoàng điểm

Biểu đồ 1: Phân bố phù HĐ trên LS theo mức độ

bệnh VMĐTĐ

Bảng 3: Phân bố rò huỳnh quang theo mức độ

VMĐTĐ

Phân độ bệnh VMĐTĐ Chụp mạch

huỳnh

Tổng

số

Không rò 25 (100%) 25 (20%) 0

50 (26% )

(100%)

139 (74% )

Đối chiếu với chẩn đoán phù HĐ trên lâm sàng, ta thấy toàn bộ 50 mắt không có rò huỳnh quang đều được nhận định là không

có phù HĐ trên lâm sàng Đối với 139 mắt có

rò thì có 66 mắt không có phù, 60 mắt có phù

và 13 mắt nghi ngờ có phù HĐ trên lâm sàng

Bảng 4: Phân bố dò huỳnh quang theo tình trạng phù

HĐ trên LS

Phù HĐ trên LS Chụp mạch

Không dò 50 (43%) 0 0 50 (26%)

Có dò 66 (57%) 13 (100%) 60

(100%)

139 (74%)

Trang 4

Tổng số 116 13 60 189

Chúng tôi đề nghị phân loại phù HĐ trên

OCT dựa vào độ dày võng mạc (µm) vùng

HĐ1mm như sau:

 219: chưa có phù HĐtrên OCT

220-319: phù HĐ nhẹ trên OCT

320-419: phù HĐ trung bình trên OCT

 420: phù HĐnặng trên OCT

Bảng 5: Chẩn đoán phù HĐ trên OCT và trên lâm

sàng

Phù hoàng điểm trên OCT Phù HĐ

trên LS Chưa có

 219 (*)

Phù nhẹ 220-319 (*)

Phù TB

320-419 (*)

Phù nặng 

420 (*)

Tổng

số

Không có

Ta thấy khi độ dày trung bình võng mạc

HĐ219 hoặc 320µm, thì có sự nhất trí cao giữa

chẩn đoán phù HĐ trên lâm sàng với phù HĐ

trên OCT Trong khi nếu HĐ có phù nhẹ trên

OCT có đến 65% trường hợp được đánh giá là

không có phù trên lâm sàng

Bảng 6: Chẩn đoán phù HĐ trên OCT và trên lâm

sàng

Phù HĐ trên LS

C Không có

Nếu xem OCT là phương tiện khách quan,

đáng tin cậy trong chẩn đoán phù hoàng điểm,

ta có thể tính được độ nhạy cảm và độ đặc hiệu

của phương pháp đánh giá phù HĐ bằng đèn

khe với kính không tiếp xúc dựa vào kết quả

nêu ra trong bảng sau:

Độ nhạy cảm: 65/(65+32) = 5%

Độ đặc hiệu: 162/(8+162) = 95%

Độ chính xác: (65+16)267 = 85%

Hệ số Kappa: 0,659

Hệ số Phi: 0,672

19 mắt có co kéo pha lê thể hoàng điểm Độ dày võng mạc HĐ trung bình của những mắt này là 392  104µm, khác có ý nghĩa thống kê (t-test, p<0,05) so với những mắt không có co kéo (240114µm) Tất cả các mắt có co kéo pha lê thể

HĐ đều có phù HĐ trên OCT Đặc biệt trong 9 mắt chưa có bệnh VMĐTĐ nhưng có phù HĐ (nhẹ) trên OCT, 3 mắt (chiếm 33%) có co kéo pha

lê thể - hoàng điểm

BÀN LUẬN

Tỷ lệ phù HĐ trên lâm sàng chung của mẫu nghiên cứu là 22%-27% (nếu gộp luôn những trường hợp nghi ngờ) Tỷ lệ này cao hơn nhiều

so với tỷ lệ 9% theo tác giả Bresnick(2) Nguyên nhân có lẽ do số bệnh nhân có giảm thị lực do phù HĐ đến khám nhiều hơn số bệnh nhân chưa có giảm thị lực Một nguyên nhân khác có thể là do cách lấy mẫu khác nhau Tỷ lệ phù HĐtrên lâm sàng ở nhóm mắt chưa có bệnh VMĐTĐ, có bệnh VMĐTĐ không tăng sinh, tăng sinh lần lượt là 0%, 23%, và 67% Trong bài tổng quan về phù HĐ do ĐTĐ, sau khi tính toán, tác giả Bresnick đã nêu tỷ lệ phù HĐ khi có bệnh VMĐTĐ không tăng sinh nhẹ là 3%, không tăng sinh trung bình - nặng là 38%, và tăng sinh là 71% Như vậy, tỷ lệ trong mẫu nghiên cứu của chúng tôi cũng tương tự Tỷ lệ này giải thích tại sao phù HĐ là một trong những nguyên nhân chủ yếu gây giảm thị lực ở bệnh nhân ĐTĐ và cho thấy tầm quan trọng của việc điều trị phù HĐĐTĐ khi bệnh VMĐTĐ càng nặng

Tỷ lệ rò huỳnh quang tại HĐ ở nhóm mắt chưa có bệnh VMĐTĐ, có bệnh VMĐTĐ không tăng sinh, tăng sinh lần lượt là 0%, 80%, và 100% Điều này phù hợp với cơ chế bệnh sinh của bệnh VMĐTĐ và chứng tỏ khi bệnh VMĐTĐ càng nặng thì hàng rào máu võng mạc

bị tổn thương càng rõ Những mắt không có rò huỳnh quang tại HĐ không thấy có phù HĐ trên lâm sàng Điều này hợp lý vì cơ chế của phù HĐ là do tổn thương hàng rào máu võng mạc - biểu hiện bằng rò huỳnh quang trên chụp mạch huỳnh quang Ngược lại, có 47% mắt có rò

Trang 5

huỳnh quang tại HĐ nhưng không có phù HĐ

trên lâm sàng có lẽ do hàng rào máu võng mạc

đã bị tổn thương nhưng các thành phần của

võng mạc vẫn còn hoạt động bù trừ được để giữ

cho võng mạc không bị phù(9,12,14)

Tỷ lệ phù HĐ trên OCT ở các nhóm mắt có

bệnh VMĐTĐ ở các giai đoạn khác nhau thì cao

hơn tỷ lệ phù HĐ trên lâm sàng Trong số

những mắt có bệnh VMĐTĐ không tăng sinh,

có 20 mắt không có phù HĐ trên lâm sàng

nhưng có phù HĐ trên OCT: 19 mắt thuộc nhóm

phù nhẹ (độ dày HĐ trong khoảng 220-319µm),

và 1 mắt phù trung bình (độ dày HĐ380µm)

Điều này cũng phù hợp vì khám lâm sàng dễ bỏ

sót những trường hợp phù nhẹ và cho thấy có

thể OCT là phương pháp nhạy cảm hơn trong

phát hiện phù hoàng điểm

Chúng tôi nhận thấy chẩn đoán phù HĐ

trên lâm sàng và trên OCT thống nhất nhau khi

độ dày HĐ bình thường ( 219µm) hoặc khi

tăng trung bình và nặng ( 320 µm) Tuy nhiên,

chẩn đoán phù HĐ trên lâm sàng và trên OCT

không thống nhất nhau khi độ dày HĐ tăng nhẹ

trong khoảng 220-319µm Nhiều tác giả cũng

nhận thấy khi độ dày HĐ tăng nhẹ thì khám lâm

sàng khó phát hiện được Tác giả Brown và cs

nghiên cứu 172 mắt và cho biết khám mắt bằng

đèn khe với kính tiếp xúc không thể phát hiện

phù HĐ ở 77% trường hợp độ dày võng mạc

tăng nhẹ (200-300µm, lưu ý: mức giới hạn bình

thường-phù chọn là 200µm)(3,4,5) Kết quả của

chúng tôi là 65% mặc dù chúng tôi sử dụng kính

không tiếp xúc có thể là do khi khám chúng tôi

biết trước thị lực đã có chỉnh kính của một số

bệnh nhân và bị ảnh hưởng trong lúc khám

đánh giá Chúng tôi đã tính được độ phù hợp

quan sát (observed hay raw agreement) của hai

phương pháp đánh giá HĐ phù (khám bằng đèn

khe với kính không tiếp xúc và chụp cắt lớp

OCT) là 85% và hệ số kappa là 0,659

Trong mẫu nghiên cứu của chúng tôi có 19

mắt có co kéo pha lê thể – hoàng điểm, chiếm tỷ

lệ 19,6% trong tổng số bệnh nhân có phù HĐ

trên OCT Trong một nghiên cứu về tỷ lệ bong

pha lể sau ở bệnh nhân có phù HĐ do ĐTĐ, tác giả Gaucher và cs nhận thấy tỷ lệ có bong pha lê thể sau không hoàn toàn và co kéo tại HĐ đối với những mắt có phù HĐ do ĐTĐ là 53% so với nhóm mắt không có phù HĐ là 22,4% (8) Tỷ

lệ của chúng tôi thấp hơn nhiều có thể là do mức độ phù HĐ của hai mẫu không giống nhau, cỡ mẫu nhỏ không ngẫu nhiên và không đại diện cho dân số

KẾT LUẬN

Tỷ lệ phù HĐĐTĐ trên lâm sàng trong tổng

số mắt bệnh nhân có bệnh ĐTĐ trong mẫu nghiên cứu là 22-27%, đối với bệnh VMĐTĐ không tăng sinh là 23-29%, VMĐTĐTS là 67-76% Độ dày HĐ của mắt bệnh nhân có bệnh ĐTĐ và thị lực có tương quan mạnh Chẩn đoán phù HĐ trên lâm sàng bằng đèn khe với kính không tiếp xúc Superfield và trên OCT có độ phù hợp chặt chẽ với độ phù hợp quan sát là 85% và hệ số kappa là 0,659 Tỷ lệ có co kéo pha

lê thể HĐ là 19,6% đối với mắt có phù HĐ đánh giá bằng OCT và 0% ở bệnh nhân không có phù hoàng điểm

TÀI LIỆU THAM KHẢO

"Reproducibility of retinal thickness measurements in normal

eyes using optical coherence tomography", Ophthalmic Surg Lasers, 29 (4), pp 280-5

Retinopathie Diabetique, Masson, Paris, pp 315-335

diabetic foveal edema: contact lens biomicroscopy compared

with optical coherence tomography", Arch Ophthalmol, 122 (3),

pp 330-5

"Comparison of the clinical diagnosis of diabetic macular edema

Ophthalmology, 111 (4), pp 712-5

and diabetic macular edema: pathophysiology, screening, and

novel therapies", Diabetes Care, 26 (9), pp 2653-64

diabetic retinopathy", Surv Ophthalmol, 28 Suppl pp 452-61

coherence tomography assessment of the vitreoretinal

relationship in diabetic macular edema", Am J Ophthalmol, 139

(5), pp 807-13

macular edema Ophthalmoscopy versus photography - Early Treatment Diabetic Retinopathy Study Report Number 5 The

Trang 6

ETDRS Research Group", Ophthalmology, 96 (6), pp 746-50;

discussion 750-1

fluorescein angiography in planning laser treatment of diabetic

macular edema", Ophthalmology, 106 (11), pp 2068-73

ĐTĐ tại BV Chợ Rẫy, Trường ĐHYD Tp HCM, Tp Hồ Chí

Minh, Luận văn thạc sĩ Y học

mạc ĐTĐ bằng quang đông võng mạc với laser YAG 532, Trường

ĐHYD Tp HCM, Tp Hồ Chí Minh, Luận văn chuyên khoa cấp

II

alterations of macular thickness before and after panretinal photocoagulation in patients with severe diabetic retinopathy

and good vision", Ophthalmology, 110 (12), pp 2386-94

chụp mạch huỳnh quang tại BV Chợ Rẫy, Trường ĐHYD Tp

HCM, Tp Hồ Chí Minh, Luận văn thạc sĩ Y học

edema", Doc Ophthalmol, 97 (3-4), pp 207-16

NHỒI MÁU CƠ TIM CẤP Ở BỆNH NHÂN RẤT TRẺ

Hoàng Quốc Hòa*

TÓM TẮT

Đặt vấn đề: Nhồi máu cơ tim (NMCT) cấp ST chênh lên thường xảy ra trên bệnh nhân (BN) từ tuổi trung

niên trở đi Tuy nhiên, xu hướng nhồi máu cơ tim với tuổi trẻ hóa ngày càng tăng, không chỉ trên thế giới, mà còn ở Việt Nam, đặc biệt là nhóm bệnh nhân rất trẻ (tuổi ≤ 35), với những điểm khác biệt cơ bản so với nhóm bệnh nhân NMCT cấp ST chênh lên thường gặp Chúng tôi thực hiện nghiên cứu quan sát này nhằm khảo sát

đặc điểm riêng biệt của nhóm bệnh nhân NMCT tuổi rất trẻ này Mục tiêu nghiên cứu :Khảo sát về yếu tố nguy

cơ, đặc điểm lâm sàng, hình thái tổn thương mạch vành và điều trị ở nhóm bệnh nhân NMCT cấp ST chênh lên với tuổi ≤ 35 được chụp và can thiệp mạch vành tiên phát tại Bệnh viện Nhân dân Gia Định từ 04/2009 đến 09/2010

Phương pháp nghiên cứu : Hồi cứu, mô tả

Kết quả: Từ 04/2009- 09/2010, trên 210 trường hợp NMCT cấp ST chênh lên được chụp và can thiệp

mạch vành tiên phát, chúng tôi chọn được 05 (2,4%) trường hợp tuổi ≤ 35 100% là nam giới với tuổi trung bình 32,6 ± 2,0, tuổi từ 30 đến 35 Rối loạn chuyển hóa lipid, hút thuốc lá, tiền căn gia đình có bệnh mạch vành sớm, thừa cân, béo phì là các yếu tố nguy cơ được ghi nhận Trong đó, 100% trường hợp có rối loạn lipid máu, 80% trường hợp có HDL-cholesterol thấp đơn độc hoặc kèm với các rối loạn LDL- cholesterol hay Triglyceride máu Có 80% trường hợp có hút thuốc lá nhiều, 80% trường hợp có thừa cân và béo phì 100% trường họp có đau ngực kiểu vành điển hình, nhập viện sớm, bệnh cảnh lâm sàng nhẹ với điểm TIMI thấp và Killip 1 Tất cả đều có sang thương mạch vành hẹp có ý nghĩa, 80% trường hợp có huyết khối gây tắc nghẽn hoàn toàn dòng chảy mạch vành Can thiệp mạch vành sớm cho tỷ lệ thành công cao : 100% thành công về mặt thủ thuật, 80% trường hợp chức năng tâm thu thất trái bảo tồn sau can thiệp với tiên lượng ngắn hạn tốt

Kết luận: Nam giới chiếm tuyệt đối trong nhóm nhồi máu cơ tim người rất trẻ Nguyên nhân do xơ vữa

mạch vành với các yếu tố nguy cơ (YTNC) điển hình: hút thuốc lá, rối loạn lipid máu, tiền căn gia đình có bệnh mạch vành sớm, thừa cân, béo phì Rối loạn lipid máu chủ yếu là HDL-cholestrol thấp kèm LDL- cholesterol bình thường hoặc tăng hs -CRP tăng cao chứng tỏ vai trò quan trọng của viêm trong cơ chế sinh bệnh NMCT ở người rất trẻ Lâm sàng với đau ngực kiểu vành điển hình, bệnh nhân nhập viện sớm Bệnh cảnh lâm sàng thường nhẹ, can thiệp mạch vành tiên phát qua da cho kết quả tốt và tiên lượng ngắn hạn khả quan

Từ khóa: Nhồi máu cơ tim cấp ST chênh lên, Rối loạn lipid máu, Hút thuốc lá, Thừa cân, Béo phì, Động

mạch vành thủ phạm, Can thiệp mạch vành tiên phát qua da, Tiên lượng ngắn hạn

* Bệnh viện Nhân dân Gia Định, Tp Hồ Chí Minh

Tác giả liên lạc: TS BS Hoàng Quốc Hòa ĐT: 0913 155 666 E-mail: bshoangquochoa@yahoo com

Ngày đăng: 22/01/2020, 09:51

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w