Những dấu hiệu cảnh báo nguy hiểm trong chứng bệnh đau đầu; đau đầu Migrain: lâm sàng và điều trị; mô tả biểu hiện của đau đầu do căng thẳng;… là những nội dung chính mà Bài giảng Đau đầu và đau lưng hướng đến trình bày.
Trang 1ĐAU ĐẦU VÀ ĐAU LƯNG
PGS TS Nguyễn Hữu Công
TRỌNG TÂM DÀNH CHO SINH VIÊN
1 Những dấu hiệu cảnh báo nguy hiểm trong chứng bệnh đau đầu
2 Đau đầu Migrain: lâm sàng và điều trị
3 Mô tả biểu hiện của:
a Đau đầu do căng thẳng (căng cơ)
b Đau vùng đầu mặt do dây V
4 Đau dây thần kinh tọa do thoát vị đĩa đệm thắt lưng: lâm sàng và điều trị
5 Lâm sàng của hẹp ống sống thắt lưng
Phần 1: ĐAU ĐẦU
I CƠ SỞ:
Đau đầu là một triệu chứng thần kinh rất thường gặp và có thể xuất phát từ:
- Các cấu trúc thần kinh: các sợi thần kinh sọ V, IX, X và rễ cổ C1 và C2
- Các cấu trúc khác của sọ như: các động mạch trong và ngoài sọ, màng não, các xoang, màng xương và các cơ vùng đầu và cổ, phần trên của cột sống cổ
1 Phân loại đau đầu:
Hội Đau đầu Quốc tế (International Headache Society) năm 2004 phân loại đau đầu thành 3 nhóm chính là:
- Đau đầu nguyên phát: quan trọng nhất là đau đầu Migraine, ngoài ra còn có đau đầu nguyên phát không do Migraine (Đau đầu căng thẳng, đau đầu thành chuỗi…)
- Đau đầu thứ phát: đau
đầu sau chấn thương,
đau đầu do căn
nguyên mạch máu và
do các cấu trúc khác ở
vùng đầu mặt (viêm
xoang, khối u…)
- Đau các dây thần kinh
sọ, cùng với đau vùng
mặt nguyên phát và
các đau đầu khác
2 Các dấu hiệu cảnh báo:
Trang 2Nói chung đa số các đau đầu có nguyên nhân lành tính Trong đa số các trường hợp, chỉ cần hỏi bệnh sử kỹ, thăm khám lâm sàng nội chung và thần kinh, là đủ chẩn đoán căn nguyên đau đầu Tuy nhiên, nếu có những biểu hiện cảnh báo sau đây thì phải lưu ý khả năng bệnh nguy hiểm tính mạng:
1) Các chấn thương vùng cổ và đầu, cần hỏi kỹ vỉ có thể chính bệnh nhân cũng không để ý
2) Yếu tố thời gian của đau đầu: mới bị lần đầu, hoặc đau đầu cũ đột ngột tăng lên, hoặc đau đầu rất dữ dội xuất hiện đột ngột
3) Đau đầu tăng tiến không ngưng
4) Đau đầu mới có ở những người trên 50 tuổi
5) Có dấu hiệu thần kinh kèm theo như: co giật, lú lẫn, ngủ gà, yếu bại chi thể và khám đáy mắt có phù gai thị
6) Có dấu hiệu nhiễm trùng, cứng gáy
7) Có sẵn bệnh hệ thống (như bệnh sử ung thư)
Khi có một trong vài biểu hiện như vậy, tùy trường hợp, cần khẩn trương hoàn
thành các xét nghiệm bổ sung chẩn đoán (1) Nếu bị chảy máu trong sọ, bệnh nhân
thường đau đầu đột ngột và dữ dội, nôn ói, thay đổi ý thức (sững sở hoặc hôn mê),
và có thể có hội chứng màng não nếu chảy máu ở khoang dưới nhện (2) Viêm màng não thì đau đầu có thể tăng dần trong vài ngày kèm sốt hoặc hội chứng màng não, có thể co giật lú lẫn (3) Khoảng 2/3 bệnh nhân u não có đau đầu, u não trên lều hay
đau ra phía trước (trán), u não dưới lều hay đau ra phía sau hay vùng trên ổ mắt Đau đầu ở một bên hoặc cả hai bên, bệnh tăng từ từ, trong một ngày thì sáng sớm hay bị đau nặng hơn Khám đáy mắt thấy có phù gai thị Khám thần kinh có thể thấy có triệu chứng thần kinh khu trú như yếu bại hay tê bì nửa người, thất điều (ataxia)… Trên một người lớn, nếu đau đầu và lần đầu tiên xuất hiện cơn động kinh, thì bao giờ cũng nghi ngờ có u não hoặc nhiễm ký sinh trùng, cần chụp CT scan não, hoặc tốt nhất là chụp MRI não U não đe dọa tính mạng, điều trị tạm thời bằng Corticosteroid và Mannitol, điều trị triệt để bằng phẫu thuật, Gamma knife hoặc hóa chất
3 Các xét nghiệm:
Các xét nghiệm cho bệnh nhân bị đau đầu:
a Hình ảnh học:
Thường chỉ thực hiện khi bệnh nhân có một hoặc vài dấu hiệu cảnh báo nêu trên Trong trường hợp đau đầu không cấp tính thì MRI cho thông tin tốt hơn nhiều so với
CT scan Trong trường hợp đau đầu cấp tính (cần xử trí trong vòng vài giờ) thì CT scan giúp phát hiện chảy máu khoang dưới nhên, chảy máu trong não, và nứt vỡ xương sọ Mặt khác, CT scan phổ thông hơn so với MRI Chụp Xquang thường cho xương sọ và cột sống cổ khi bệnh nhân có chấn thương, nhằm phát hiện nứt sọ, sai khớp C1-C2…
Trang 3Cần làm khi nghi ngờ do viêm màng não hoặc viêm não, nghi do ung thư màng não Đôi khi nghi đau đầu do chảy máu khoang dưới nhện trong khi hình ảnh học sọ não (CT scan hoặc MRI) bình thường Ngoài ra, có một số bệnh nhân bị đau đầu do tăng áp lực dịch não tủy, hay ngược lại, do giảm áp lực dịch não tủy Nhắc lại về dịch não tủy trong trường hợp chẩn đoán phân biệt giữa chảy máu khoa dưới nhện với máu do chạm mạch: nếu thời gian khởi phát dưới 12h thì chỉ cần đếm và so sánh số lượng tế bào giữa ống thứ nhất với ống cuối cùng, nếu trên 12h thì quay ly tâm và xem hiện tượng nhiễm sắc vàng (Xanthochromia) của dịch
c Điện não đồ:
Về nguyên tắc, EEG không có giá trị trong chẩn đoán đau đầu Tương tự như vậy là điện thế gợi (evoked poteintials) và siêu âm xuyên sọ Trên thực tế, có một số bệnh nhân đau đầu có kèm EEG hình ảnh sóng dạng động kinh (epileptiform) và dùng thuốc chống động kinh thì hết đau đầu (với điều kiện không có triệu chứng tổn thương thần kinh khu trú hoặc CT scan não bình thường)
d Xét nghiệm máu:
Bệnh nhân đau đầu trên 50 tuổi và nghi do viêm động mạch tế bào khổng lồ (giant cell arteritis) nên kiểm tra tốc độ lắng máu (thường sẽ trên 100mm/1h đầu), nồng độ CRP (thường tăng)
II ĐAU ĐẦU MIGRAINE:
Migraine là dạng đau đầu lặp đi lặp lại hay gặp nhất Bệnh có xu hướng gia đình, nhất là thể kinh điển, và một số tác giả nghĩ đến căn nguyên di truyền Có nhiều giả thuyết về sinh lý bệnh, nhưng đều chưa được chứng minh rõ ràng, có thể kể ra 4 cơ chế sau:
- Ức chế vỏ não lan rộng
- Nguồn phát tại thân não
- Phức hợp “dây V + mạch máu” với giai đoạn co mạch gây ra các triệu chứng thần kinh trong cơn Aura và giai đoạn giãn mạch gây đau đầu
- Tăng nhạy cảm trung ương và ngoại biên
Ngày nay, người ta cho rằng là do tăng nhạy cảm cảu các tận cừng thần kinh trong mạch máu, giải phóng chất P (substance P) và các peptide khác
1 Lâm sàng:
Bệnh thường khởi phát sau tuổi dậy thì với những cơn đau đầu:
- Cơn đau đầu kéo dài vài giờ cho đến 1 ngày hoặc 2-3 ngày Thường đau nửa đầu (nửa bên phải hoặc nửa bên trái), cũng có người đau toàn bộ đầu Thông thường mỗi tháng một hoặc hai cơn, nếu chữa trị không tốt thì các cơn có thể dày dần lên và mỗi cơn cũng kéo dài thời gian hơn
- Phụ nữ thường bị nhiều hơn nam giới và cơn thường hay xảy ra hoặc nặng hơn vào thời điểm ngay trước khi hành kinh, nhiều người hết đau khi mang thai,
Trang 4thuốc ngừa thai dễ làm tăng bệnh đau đầu Migraine, về già có xu hướng giảm bệnh
- Triệu chứng kèm theo: trong cơn đau đầu thường có buồn nôn và nôn ói, có thể chóng mặt hệ thống (chóng mặt với cảm giác xung quanh quay vòng hay nghiêng đi) Bệnh nhân thường cảm giác khó chịu và sợ ánh sáng (chứng sợ ánh sáng) và tiếng ồn (chứng sợ âm thanh), bệnh nhân hay tìm chỗ yên tĩnh và tối để nằm, hoặc ngủ một giấc thì hết đau đầu
2 Phân loại đau đầu Migraine:
a Migraine kinh điển (Classical Migraine):
Còn gọi là Migraine có Aura: ngoài các triệu chứng như mô tả ở trên, ngày hôm trước khi bị (giai đoạn tiền triệu – Prodromal period) có thể có cảm giác bất an, kích thích bồn chồn hoặc ngược lại là trầm cảm và mệt mỏi, rồi ngay trước khi xảy ra đau đầu có một giai đoạn Aura (hiện tượng thoáng ngay trước cơn) kéo dài 5-15 phút Trong giai đoạn aura, bệnh nhân có rối loạn thị giác: nhìn nhòe như có ruồi bay, có vòng tròn sáng rực rỡ nhiều màu sắc, có khoảng mù (một vùng mất thị giác) trong vùng thị trường, hoặc những đường sáng lấp lánh zic zac Sau đó đau đầu thường một bên, đau có tính nhịp đập của mạch Giai đoạn sau cơn bệnh nhân có thể mệt mỏi
Do có những rối loạn thị giác, nên loại Migraine này còn gọi là Migraine thị giác (ophthalmic/ocular Migraine) Một số trường hợp đau đầu không nhiều, chỉ có rối loạn thị giác hoặc có các cơn chóng mặt nôn ói
b Migraine thông thường (Common Migraine):
Còn được gọi là Migraine không có aura: không có tiền triệu và Aura thị giác như mô tả ở trên
c Migraine biến chứng (Complicated Migraine):
Có các triệu chứng thần kinh ở ngay trong cơn hoặc kéo dài một thời gian ngắn sau khi hết cơn đau Bao gồm: bán manh (mù một nửa thị trường), tê bì nửa người, bại nửa người Trong đó có Migraine nền (Basilar Migraine): chóng mặt đi kèm với nhìn đôi, rối loạn phát âm, thất điều, đôi khi trạng thái sững sờ, và đau đầu thường
ở vùng chẩm
Trang 5d Migraine mất bù (Decompensated Migraine) hay trạng thái Migraine (Status Migrainosus):
Các cơn dày tới mức đau
đầu liên miên không ngừng
3 Cận lâm sàng:
Nếu bệnh sử tương đối
điển hình của bệnh đau đầu
Migraine, khám thần kinh
không có dấu hiệu tổn thương
khu trú, và không có các dấu
hiệu cảnh báo (red flags), thì
thường không cần hình ảnh
học Điện não đồ thường cũng không giúp ích gì nhiều cho chẩn đoán
4 Điều trị cơn Migraine:
- Nếu cơn đau đầu nhẹ, chỉ cần dùng thuốc giảm đau thông thường như aspirin, acetaminophen hay kháng viêm không steroid (NSAIDs) Có dạng thuốc kết hợp aspirin + acetaminophen + caffeine để điều trị cơn đau đầu
- Nếu cơn đau đầu ở mức độ vừa hoặc nặng, đáp ứng kém với các thuốc giảm đau triệu chứng kể trên, thì dùng Dihydroergotamine (DHE) dạng uống, tiêm dưới da, tiêm bắp và tiêm tĩnh mạch; hoặc dùng thuốc nhóm Triptan (Naratriptan, Rizatriptan, Sumatriptan, và Zolmitriptan), dạng chích dưới da, uống, hoặc xịt mũi Tuy nhiên không nên dùng các thuốc này quá thường xuyên (không quá 2 ngày trong 1 tuần), có thể gây ra cái gọi là đau đầu do dùng thuốc quá nhiều (Medication-overuse Headache) hay đau đầu do thuốc gây nên
- Dùng thuốc chống nôn nếu bệnh nhân bị nôn ói nhiều: ở ta hay dùng Metoclopramide (Primperan) tiêm bắp Còn có thể dùng Domperidone, Ondanseron
5 Điều trị dự phòng:
Khi có nhiều cơn lặp đi lặp lại, và các cơn nặng gây ảnh hưởng đến công việc và đời sống, hoặc bệnh nhân bị chứng đau đầu do dùng quá nhiều thuốc Có thể dùng một trong những thuốc dự phòng sau:
- Các thuốc chống động kinh: Carbamazepine, Topiramate, Gabapentin và Valproate Đặc biệt hay dùng Topiramate và Valproate
- Các thuốc chống trầm cảm: Amitriptyline, Fluoxetine, Mirtazepine, Trazodone, Venlafaxine Thông thường người ta ưa dùng Amitriptyline
- Thuốc ức chế beta: Propranolol, Atenolol, Metoprolol
- Thuốc ức chế kênh Calcium: Flunarizine và Verapamil, đặc biệt hay dùng Flunarizine
Trang 6- NSAIDs: Indomethacine, Ketoprofen, Ibuprofen, Naproxen; không nên lạm dụng những thuốc này
- Thuốc đối kháng Serotonin: Cyproheptadine
6 Điều trị trạng thái Migraine (status Migrainosus):
Dùng các Cortcosteroid (Dexamethasone hoặc Hydrocortisone) truyền dịch
III ĐAU ĐẦU CĂNG CƠ (Tension headache, Tension-type headache):
Được xếp vào loại đau đầu nguyên
phát không do Migraine Thuật ngữ
tension headache có thể dịch là đau
đầu căng cơ, vì có hiện tượng căng của
các cơ vùng thái dương và sau ót, nhưng
thực ra hiện tượng này không phải là
phổ biến ở tất cả các bệnh nhân Nhiều
bệnh nhân có bệnh sử nổi bật là lo âu,
mất ngủ và căng thẳng thần kinh, do
vậy ta còn có thể dịch là đau đầu căng
thẳng Đây là loại đau đầu mạn tính
(diễn biến kéo dài trên 15 ngày) hay gặp nhất
1 Lâm sàng:
- Tính chất đau: bệnh nhân thường than đau đầu cả hai bên thái dương, hoặc đau lan tỏa toàn bộ đầu, đau có tính chất ê ẩm nặng nề liên tục, không có tính chất nhịp đập như trong Migraine Đau kéo dài liên tục nhiều tuần hay nhiều tháng, thậm chí nhiều năm, không kiểu thành cơn lặp đi lặp lại như ở bệnh Migraine
- Triều chứng kèm theo: Bệnh nhân có thể có trầm cảm, lo âu, hoặc mất ngủ Một số ít bệnh có phối hợp cả đau đầu căng cơ với đau đầu Migraine
2 Điều trị:
- Các thuốc giảm đau thông thường như aspirin, acetaminophen, các NSAIDs (Ibuprofen, Naproxen) Tuy nhiên, đừng dùng các thuốc này quá thường xuyên, có thể gây nên chứng đau do dùng thuốc quá liều (Medication-overuse Headache), hay đau đầu bật ngược (rebound)
- Điều trị bằng thuốc chống trầm cảm: đặc biệt ưa dùng thuốc chống trầm cảm
ba vòng (Amitriptyline), nếu đau đầu mạn tính có kèm theo triệu chứng nổi bật là trầm cảm lo âu Còn có thể dùng Mirtazapine Thuốc chống trầm cảm loại ức chế tái hấp thu Serotonin (Sertralin, Flouxetin) không chứng minh được tác dụng phòng bệnh
- Thuốc chống động kinh: ví dụ Topiramate
- Các thuốc nhóm Triptans đôi khi cũng dùng chữa đau đầu căng cơ
- Thuốc giãn cơ: ví dụ Tizanidine
Trang 7- Có thể dùng thuốc an thần như Sulpiride hay Olanzapine Đừng dùng nhóm Benzodiazepine (Seduxen)
- Đau đầu kháng trị có thể tiêm Botulinum toxin (biệt dược Dysport), nếu triệu chứng nổi bật là căng cơ, chích vào các điểm nhạy cảm đau ở thái dương hoặc cổ, tuy nhiên tác dụng phụ chưa được chứng minh rõ ràng
3 Dự phòng:
- Tránh lo âu, căng thẳng, có thời gian thư giản tốt
- Dùng 1 trong 3 nhóm thuốc: chống trầm cảm 3 vòng, thuốc chống động kinh, thuốc giãn cơ
IV ĐAU ĐẦU THÀNH CHUỖI (Cluster headache):
Được xếp vào loại đau đầu nguyên phát không do Migraine Tên chữ “Cluster”, dịch thành cụm hay thành chuỗi, là do các cơn đau đầu lặp đi lặp lại thành chu kỳ rồi đột ngột biến mất Trước đây còn gọi là đau đầu Horton Các tên gọi khác nhau:
“Đau đầu tự sát” (Suicide Headache), do đau kinh khủng tới mức một số bệnh nhân muốn tự sát, đau dây thần kinh kiểu Migraine (Migraine neuralgia), đau dây thần
Trang 8kinh mi (Ciliary neuralgia), đau day thần kinh đá (Petrosal neuralgia), đau dây thần kinh bướm-vòm miệng (Sphenopalatine neuralgia)…
1 Lâm sàng:
- Tuổi khởi phát thường 28-30 Tỷ lệ mắc bệnh khoảng 56-326 trên 100.000 dân, nam bị nhiều hơn nữ, tỷ lệ Nam/Nữ là 4/1-7/1 tùy tác giả báo cáo Tuổi khởi phát từ 20-50 tuổi Ít thấy mô tả và không thấy có số liệu thống kê ở Việt Nam Rượu có thể kích động gây ra cơn đau đầu
- Tính chất đau: đặc trưng là hầu như luôn luôn đau ở một bên đầu, ở trong hoặc quanh ổ mắt, và đau rất dữ dội, không theo nhịp đập mạch Các cơn đau đầu xuất hiện vào ban đêm, ít khi xảy ra vào ban ngày Cơn điển hình thường xuất hiện đột ngột sau khi bệnh nhân ngủ được một vài giờ, cơn kéo dài 15-180 phút, rồi hết rất nhanh dù không được điều trị (cơn đau tối đa chỉ kéo dài vài giờ)
- Dấu hiệu kèm theo: trong cơn, ở bên đau có thể có các biểu hiện thực vật như sụp mi nhẹ, co đồng tử, chảy nước mắt và xung huyết kết mạc (đỏ mắt), nghẹt mũi và chảy nước mũi Một số bệnh nhân bị đỏ bừng, sưng nề một bên mặt và
ra mồ hôi, tất cả chỉ ở bên bị đau Khác với Migraine, bệnh nhân bị đau đầu thành chuỗi thường rất bị kích động
- Diễn biến: thường mỗi ngày một cơn đau, đôi khi bị nhiều cơn trong một ngày,
bị hàng ngày, kéo dài trong vài tuần hay vài tháng, rồi hết hẳn các cơn Đau rất đều đặn và đúng giờ, nên ngời ta còn gọi là “đau đầu báo thức” (Alarm clock Headache) Sau một thời gian vài tháng tới vài năm, thì tái phát lại thường cũng ở cùng một bên Một số bệnh nhân bị đau đầu mạn tính: mỗi ngày vài cơn và hàng ngày trong vài năm liền
2 Điều trị cắt cơn:
- Dihydroergotamine (Tamik)
- Có thể dùng các thuốc nhóm
Triptans như Sumatriptan
- Có tác giả đề nghị cho thở O2
100% lúc khởi đầu các cơn
- Có tác giả đề nghị dùng
Verapamil, hoặc Indomethacin
3 Điều trị dự phòng:
- Có thể dùng Verapamil, Steroids
(Prednisolone hoặc Prednisone),
và các thuốc chống động kinh
Cũng có tác giả khuyên dùng Magnesium sulfate tĩnh mạch hoặc Melatonin
Trang 9V ĐAU ĐẦU DO VIÊM ĐỘNG MẠCH THÁI DƯƠNG TẾ BÀO KHỔNG LỒ:
(Temporal giant-cell arteritis):
Được xếp vào loại đau đầu thứ phát Đây là bệnh tự miễn, gây viêm các động mạch ngoài sọ, trong đó nổi bật là động mạch thái dương Bệnh thường ở người già trên 60 tuổi
1 Lâm sàng:
- Đau đầu: bệnh nhân bị đau
đầu liên miên, có thể chỉ một
bên, cũng có thể cả 2 bên
Đau có tính chất mạch đập,
nhưng dần dần cũng chuyển
thành đau liên miên không
có tính chất mạch đập
- Các biểu hiện kèm theo là
sốt nhẹ, đau mỏi khớp
xương, xét nghiệm máu có tốc độ lắng máu tăng (VS) tăng cao
- Bệnh có thể kéo dài nhiều thắng, thậm chí nhiều năm nếu không được điều trị đúng
- Biến chứng đáng sợ nhất là đột ngột mù mắt, đôi khi có liệt các dây thần kinh sọ và có thể nhồi máu não
2 Điều trị:
- Bằng Corticosteroid và các thuốc ức chế miễn dịch
VI ĐAU ĐẦU TRONG BỆNH LÝ CỘT SỐNG CỔ (Cervicogenic headache):
Được xếp vào nhóm đau đầu thứ phát
1 Lâm sàng:
- Đau ở vùng sau cổ (ót), đau nặng nề, ê ẩm và lan lên đầu, thường vùng chẩm
bị nặng hơn Có thể đau lan xuống vai
- Triệu chứng kèm theo bệnh nhân xay cổ khó khăn do đau Có thể có chóng mặt Đau thường tăng lên về chiều và đau hay tái phát khi thay đổi thời tiết Khi bệnh nặng, có thể có biểu hiện của chèn ép các rễ thần kinh ở cổ hoặc thậm chí chèn ép tủy cổ
2 Điều trị:
- Bằng NSAIDs và vật lý trị liệu (kéo giãn cột sống cổ)
VII CÁC LOẠI ĐAU Ở VÙNG MẶT:
1 Đau dây thần kinh V:
Được xếp vào nhóm đau đầu thứ ba, không phải đau đầu nguyên phát hay thứ phát Thường là đau nhánh V2 và V3, và ở một bên, ở người trên 50 tuổi Biểu hiện:
Trang 10các cơn đau chói như dao đâm, hoặc đau rát bỏng, đau rất nhanh chỉ 10-30 giậy, bệnh kéo dài vài tuần hoặc lâu hơn Không có các triệu chứng cảm giác hay vận động gì khác Đặc điểm là có các điểm cò súng (trigger point): có một điểm trên da mặt vùng má hay cằm, khi bệnh nhân chạm tay vào là sẽ làm bùng phát cơn đau Cơn đau cũng có thể bị kích động lên khi bệnh nhân nhai, nói, cười, hỉ mũi Căn nguyên của bệnh ở người già thường là do bất thường động mạch gây đè và đập vào gốc dây
V ở chỗ thoát ra khỏi cầu não Còn có các căn nguyên khác là bệnh xơ rải rác, u góc cầu tiểu não…
Điều trị bằng thuốc (Carbamazepine, Neurontine) hoặc phẫu thuật (mở sọ giải ép dây V, đốt hạch Gasser bằng sóng cao tần)
Figure 1 The trigeminal nerve supplies feeling and
movement to the face It has three divisions that branch
from the trigeminal ganglion: ophthalmic division (V1)
provides sensation to the forehead and eye, maxillary
division (V2) provides sensation to the cheek, and
mandibular division (V3) provides sensation to the jaw
Figure 2 Facial areas of trigger zones Trigger points (circles) have the greatest sensitivity
2 Đau dây thần kinh sau Zona (postzoster neuralgia):
Được xếp vào nhóm đau đầu thứ phát Nguyên nhân do bệnh Herpes Zoster, trong khi và sau khi nổi mụn Zona ở mặt (thường là nhánh V1) bệnh nhân bị đau nhiều vùng da do nhánh đó của dây V chi phối cảm giác Đau liên tục, có thể bỏng rát, có thể kèm tê bì Trên vùng da đó còn có mụn nước và sau là sẹo Điều trị đau bằng Carbamazepine, hay Neurontine phối hợp với thuốc chống trầm cảm ba vòng
3 Hội chứng Tolosa-Hunt:
Được xếp vào nhóm đau đầu thứ phát Bản chất là bệnh tự miễn gây viêm và thâm nhiễm vùng khe ổ mắt trên (Superior orbital fissure) hay xoang hang Biểu hiện: đau liên tục nặng nề ở một bên ổ mắt, kèm liệt các dây vận nhãn bên đó, có thể tê vùng trán Điều trị bằng corticosteroid
4 Đau đầu do viêm xoang: