1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Hạ phosphat máu ở bệnh nhân thông khí cơ học

5 69 1

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 5
Dung lượng 373,44 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nghiên cứu Hạ phosphat máu ở bệnh nhân thông khí cơ học thực hiện trên 30 bệnh nhân có thông khí cơ học tại khoa hồi sức tích cực ‐ chống độc (ICU nội khoa), Bệnh viện Nhân dân Gia định Thành phố Hồ Chí Minh - từ tháng 01/2013 đến cuối tháng 05/2013, được định lượng phosphat máu vào ngày thứ 1, thứ 3 kể từ khi được thông khí cơ học tại khoa ICU và vào thời điểm cai máy thở.

Trang 1

Huỳnh Văn Ân*,  Ngô Văn Thành*, Phan Văn Phong* 

TÓM TẮT 

Mục tiêu nghiên cứu: Khảo sát tỷ lệ hạ phosphat máu ở các bệnh nhân có thông khí cơ học, và sự liên quan  giữa nồng độ phosphat máu và cai máy thất bại. 

Đối tượng và Phương pháp nghiên cứu: mô tả, cắt ngang, tiến cứu. 30 bệnh nhân có thông khí cơ học tại 

Khoa Hồi sức tích cực‐ Chống độc (ICU Nội khoa), Bệnh viện Nhân Dân Gia Định, Thành phố Hồ Chí Minh – 

từ tháng 01/2013 đến cuối tháng 05/2013, được định lượng phosphat máu vào ngày thứ 1, thứ 3 kể từ khi được  thông khí cơ học tại Khoa ICU và vào thời điểm cai máy thở. 

Kết quả: 20% (6/30) bệnh nhân có Thông khí cơ học tại ICU Nội Khoa có hạ phosphat máu (<0,80 mmol/L) 

trong ngày đầu và 33,3% (10/30 BN) ở ngày thứ 3 thông khí cơ học. Nồng độ phosphat máu N3 giảm so với N1  trung bình là 0,26 mmol/L. Ở thời điểm cai máy thành công (n = 15), nồng độ phosphat máu là 1,14 ± 0,28  mmol/L, trong khi các lần cai máy thất bại (n = 13), nồng độ phosphat máu trung bình là 0,96 ± 0,34 mmol/L (p 

= 0,007).  

Kết luận: Hạ phosphate máu, nếu không được điều chỉnh hoặc cung cấp bổ sung, sẽ gia tăng tỷ lệ mắc và 

mức độ nặng của bệnh kể từ khi bệnh nhân được thông khí cơ học. Ở thời điểm cai máy thở thành công, nồng độ 

phosphat máu cao hơn so với thời điểm cai máy thất bại.  

Từ khóa: Hạ Phosphat máu, Thông khí cơ học  

ABSTRACT 

HYPOPHOSPHATEMIA IN PATIENTS WITH MECHANICAL VENTILATION 

Huynh Van An, Ngo Van Thanh,  Phan Van Phong  

* Y Hoc TP. Ho Chi Minh * Vol. 17 ‐ No 6 ‐ 2013: 105 ‐ 109 

Purpose:  Explore the ratio of Hypophosphatemia in patients with mechanical ventilation and analyse the 

relation between hypophosphatemia and the unsuccessful withdrawal of mechanical ventilation. 

Materials  and  method:  Descriptive,  cross  sectional  and  prospective  study.  30  patients  with  mechanical 

ventilation in Intensive Care Unit (Medical ICU) of Nhan Dan Gia Dinh Hospital, HCMC from Jan, 2013 until  end of May, 2013 were quantitative tested the serum Phosphate on the 1 st , the 3 rd  days of ventilation in ICU and 

on the mechanical ventilation withdrawal day. 

Results:  20%  (6/30)  mechanically  ventilated  patients  in  Medical  ICU  got  the  Hypophosphatemia  (<0.80 

mmol/L) on the 1 st  day and 33.3% (10/30 patients) on the 3 rd  day of mechanical ventilation. Serum phosphate on  the 3 rd  day was lower than that of the 1 st  day 0.26 mmol/L, averagely. In the successful withdrawals of mechanical  ventilation (n=15), the serum phosphate were 1.14 ± 0.28 mmol/L  vs  0.96 ± 0.34 mmol/L in failed withdrawal  cases (n=13) (p = 0.007). 

Conclusion:  Hypophosphatemia,  if  is  not  properly  adjusted,  will  increase  both  of  incidence  and  severity 

when the patients start the mechanical ventilation. The serum phosphate was higher in succesful withdrawal of  mechanical ventilation than that in unsuscefful withdrawal cases. 

Key words: Hypophosphatemia, Mechanical ventilation. 

 Khoa Hồi sức tích cực – Chống độc BV. Nhân Dân Gia Định 

Trang 2

Hàm  lượng  phosphat  hoặc  phospho  máu  ở 

người  trưởng  thành,  bình  thường  từ  2,5  ‐  4,5 

mg/dL  (0,81  ‐  1,45  mmol/L).  Duy  trì  nồng  độ 

phosphat máu bình thường là vấn  đề  sống  còn 

đối với chức năng tế bào(2).  

Dù hiếm gặp ở cộng đồng, hạ phosphat máu 

thường gặp ở bệnh nhân khoa Hồi sức tích cực ‐ 

Chống  độc  (ICU)  như  nhiễm  trùng,  bệnh  phổi 

tắc nghẽn mạn tính  

Hạ phosphat máu xảy ra ở khoảng 2,2 ‐ 3,1% 

bệnh  nhân  nhập  viện  và  28  ‐  33%  bệnh  nhân 

nhập  ICU(4,13).  Nghiên  cứu  của  Hoffmann  tại 

Nam  Phi  (2008)  cho  thấy  rằng  45%  các  trường 

hợp  hạ  phosphat  máu  trong  bệnh  viện  xảy  ra 

trên bệnh nhân ICU(10). 

Tại Bệnh viện Nhân Dân Gia Định chúng tôi 

(2013),  tần  suất  hạ  phosphat  máu  ở  các  bệnh 

nhân ICU Nội khoa là 31,97%(11).  

Hạ  phosphat  máu  có  thể  gây  suy  hô  hấp(2). 

Hạ  phosphat  máu  cũng  làm  suy  yếu  sức  co  cơ 

hoành  trong  lúc  suy  hô  hấp(2,3).  Tuy  vậy,  hạ 

phosphat  máu  lại  ít  được  quan  tâm  chẩn  đoán 

và  điều  trị,  trong  bối  cảnh  bệnh  nhân  có  nhiều 

bệnh nặng, phối hợp, đặc biệt là các bệnh nhân 

có thông khí cơ học. 

Hạ  phosphat  máu  gặp  trong  21,5%  các 

trường  hợp  suy  hô  hấp;  mức  độ  hạ  phosphat 

máu không tương ứng với mức độ nặng của suy 

hô hấp(2,6). 

Vì vậy chúng tôi tiến hành nghiên cứu đoàn 

hệ  tiền  cứu  nhằm  đánh  giá  tỷ  lệ  hạ  phosphat 

máu ở các bệnh nhân có thông khí cơ học điều 

trị tại Khoa Hồi sức tích cực ‐ Chống độc và sự 

liên  quan  giữa  nồng  độ  phosphat  máu  và  cai 

máy thất bại.  

Mục tiêu nghiên cứu. 

Khảo sát tỷ lệ hạ phosphat máu ở các bệnh 

nhân có thông khí cơ học điều trị tại Khoa Hồi 

sức  tích  cực  ‐  Chống  độc  và  sự  liên  quan  giữa 

nồng độ phosphat máu và cai máy thất bại.  

ĐỐI TƯỢNG VÀ THIẾT KẾ NGHIÊN CỨU 

Nghiên cứu mô tả, cắt ngang, tiến cứu. 

Tiêu chuẩn chọn bệnh 

Các bệnh nhân có thông khí cơ học điều trị  tại Khoa Hồi sức tích cực ‐ Chống độc, Bệnh viện  Nhân  dân  Gia  Định  thời  gian  từ  đầu  tháng  01/2013 đến cuối tháng 5/2013 (5 tháng). 

Tiêu chuẩn loại trừ  

Bệnh  nhân  có  suy  thận  mạn  hoặc  bệnh  lý  tuyến cận giáp. 

Tiến hành 

Bệnh  nhân  được  định  lượng  phosphat  máu  vào ngày N1 và N3 từ khi thông khí cơ học và ở  thời điểm cai máy thở. 

Ghi  nhận  các  bệnh  lý  gây  suy  hô  hấp  phải  thông khí cơ học của bệnh nhân. 

Ghi  nhận  tỷ  lệ  và  mức  độ  nặng  của  hạ  phosphat máu ở bệnh nhân có thông khí cơ học. 

Tìm  hiểu  sự  liên  quan  giữa  nồng  độ  phosphat máu và cai máy thành công hoặc thất  bại. 

KẾT QUẢ 

Sau 5 tháng nghiên cứu, chúng tôi thu thập  được 30 bệnh nhân (BN), gồm 12 nam, 18 nữ.  

Đặc tính dân số học. 

Tuổi  trung  bình  của  nhóm  bệnh  nhân  nghiên cứu là 71,3 ±  18,9.  Trẻ  nhất  là  23  và  lớn  tuổi nhất là 96. Tỷ lệ nam:nữ là 1:1,5. 

Đặc điểm bệnh học 

Chỉ định thông khí cơ học 

Bảng 1: Chỉ định thông khí cơ học 

N = 30 (100%)

Ngừng tim 5 (16,7%) Bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính (COPD) 4 (13,3%)

Nhiễm khuẩn huyết 1 (3,3%) Chỉ  định  thông  khí  cơ  học  do  viêm  phổi 

chiếm tỷ lệ 66,7% (20/30 BN). 

Nồng  độ  phosphat  máu  trong  24  giờ  đầu  thông khí cơ học (N1) là 1,33 ± 0,71 mmol/L. 

Trang 3

Tỷ  lệ  hạ  phosphat  máu  trong  24  giờ  đầu 

thông khí cơ học là 20% (6/30 BN). 

Bảng 2: Mức độ hạ phosphat máu trong 24 giờ đầu 

thông khí cơ học 

Hạ Phosphat máu N1 N = 6 Tỷ lệ

Mức độ nhẹ: 0,65 - < 0,80 mmol/L 2 33,3%

Mức độ vừa: 0,32 - < 0,65 mmol/L 4 66,7%

Mức độ nặng: < 0,32 mmol/L 0 0%

Hạ  Phosphat  máu  trong  24  giờ  đầu  Thông 

khí cơ học ở mức độ vừa (66,7%) và nhẹ (33,3%). 

Nồng độ Phosphat máu ở ngày thứ 3 Thông 

khí cơ học (N3) là 1,07 ± 0,58 mmol/L. 

Tỷ lệ Hạ Phosphat máu ở ngày thứ 3 Thông 

khí cơ học là 33,3% (10/30 BN) 

Bảng 3: Mức độ hạ phosphat máu ở ngày thứ 3 

thông khí cơ học 

Hạ Phosphat máu N3 N = 10 Tỷ lệ

Mức độ nhẹ: 0,65 - < 0,80 mmol/L 4 40%

Mức độ vừa: 0,32 - < 0,65 mmol/L 5 50%

Mức độ nặng: < 0,32 mmol/L 1 10%

Hạ phosphat máu ở ngày thứ 3 Thông khí cơ 

học đa số mức độ vừa (50%) và nhẹ (40%). Có 1 

trường hợp hạ phosphat máu nặng. 

So sánh kết quả phosphat máu ở thời điểm 

N1 và N3 

Bảng 4: So sánh kết quả phosphat máu ở thời điểm 

N1 và N3 của từng bệnh nhân 

Sự khác biệt

N = 30 tối thiểu trung bình tối đa

Phosphat N1 <

Phosphat N3 9 -1,07 -0,31 -0,02

Phosphat N1 >

Phosphat N3 21 0,08 0,50 1,6

70%  bệnh  nhân  (21/30  BN)  có  nồng  độ 

phosphat  máu  N3  so  với  N1  Thông  khí  cơ  học 

giảm trung bình 0,5 mmol/L.  

Nồng  độ  phosphat  máu  N3  của  cả  nhóm 

nghiên  cứu  giảm  so  với  N1  Thông  khí  cơ  học 

trung bình là 0,26 mmol/L. 

Nồng  độ  phosphat  máu  ở  thời  điểm  cai 

máy thở. 

Trong  nghiên  cứu,  có  15  lần  cai  máy  thành 

công và 13 lần thất bại.  

Bảng 5: Nồng độ phosphat máu ở thời điểm cai máy 

thở 

n Nồng độ Phosphat máu

Cai máy thành công 15 1,14 ± 0,28 mmol/L *

Cai máy thất bại 13 0,96 ± 0,34 mmol/L *

*  p = 0,007 

BÀN LUẬN 

Hạ phosphat máu được định nghĩa là nhẹ (2 

‐ < 2,5 mg/dL, hoặc 0,65 ‐ < 0,81 mmol/L), vừa (1 

‐ < 2 mg/dL, hoặc 0,32 ‐ < 0,65 mmol/L), nặng (< 1  mg/dL, hoặc < 0,32 mmol/L)(7,8,10,12,13)

Hạ phosphat máu có thể gây suy hô hấp. Ở  hầu  hết  bệnh  nhân  có  hạ  phosphat  máu,  phát  hiện  có  tình  trạng  yếu  cơ  hô  hấp  (được  định  nghĩa như áp lực hít vào tối đa thấp hoặc áp lực  thở ra tối đa thấp), mà tình trạng này không có ở  bệnh  nhân  có  phosphat  máu  bình  thường.  Sức  mạnh của cơ hô hấp cải thiện sau bù phosphat(2). 

Có sự liên quan giữa giảm áp lực hít vào tối đa 

và  mức  độ  nặng  của  hạ  phosphat  máu(2,9).  Hạ  phosphat  máu  cũng  làm  suy  yếu  sức  co  cơ  hoành trong lúc suy hô hấp(2,3). 

Hạ  phosphat  máu  gặp  trong  21,5%  các  trường  hợp  suy  hô  hấp;  mức  độ  hạ  phosphat  máu không tương ứng với mức độ nặng của suy 

hô hấp(2,6).   Viêm  phổi  là  nguyên  nhân  chủ  yếu  để  chúng  tôi  chỉ  định  thông  khí  cơ  học  với  tỷ  lệ  66,7% (20/30 bệnh nhân), kế đến là ngừng tim  16,7%  (5/30  bệnh  nhân),  bệnh  phổi  tắc  nghẽn  mạn  tính  13,3%  (4/30  bệnh  nhân).  Trong  nghiên cứu của Alsumrain, chỉ định thông khí 

cơ  học  là  nhiễm  trùng  huyết  (21‐25%),  bảo  vệ  đường thở (13‐21%), viêm phổi (12‐14%), bệnh  phổi tắc nghẽn mạn tính (10‐14%), suy tim (7‐ 15%), ngừng tim (2‐14%)(1). 

Trong  nghiên  cứu  trước  đây,  nhóm  bệnh 

nhân hạ phosphat máu tại Khoa ICU Bệnh viện 

Nhân dân Gia Định chúng tôi có tỷ lệ thông khí 

cơ  học  là  53,74%,  tình  trạng  nhiễm  trùng  có  ở  70,75%  bệnh  nhân,  trong  đó  chủ  yếu  là  nhiễm  trùng hô hấp(11). 

Tỷ  lệ  hạ  phosphat  máu  trong  24  giờ  đầu 

Trang 4

này là 33,3% vào ngày thứ 3 được thông khí hổ 

trợ.  Trong  khi  đó,  tại  Vellore  (Ấn  Độ),  nghiên 

cứu 28 bệnh nhân được thông khí cơ học trong 

vòng 24‐36 giờ tại ICU ghi nhận 43% bệnh nhân 

có  hạ  phosphat  máu,  những  bệnh  nhân  này  có 

tình trạng hạ thấp ngưỡng thận đối với phospho 

(p = 0,005) và tiểu phosphat không thích hợp(16).  

Chúng tôi ghi nhận nồng độ phosphat máu 

giảm theo thời gian thông khí cơ học. Nồng độ 

phosphat máu trong 24 giờ đầu thông khí cơ học 

(N1) là 1,33 ± 0,71 mmol/L, ở ngày thứ 3 thông 

khí cơ học (N3) là 1,07 ± 0,58 mmol/L. 70% bệnh 

nhân  (21/30  BN)  có  nồng  độ  phosphat  máu  N3 

giảm trung bình 0,5 mmol/L so với ngày 1 thông 

khí  cơ  học.  Nồng  độ  phosphat  máu  N3  của 

nhóm 30 bệnh nhân nghiên cứu giảm so với N1 

trung bình là 0,26 mmol/L. 

Thông  khí  dài  ngày  nếu  không  bù 

phosphat thì nồng độ phosphat của bệnh nhân 

giảm  dần,  dẫn  đến  tỷ  lệ  hạ  phosphate  máu  ở 

ngày thứ 1 từ 20% tăng lên 33,3% ở ngày thứ 3 

thông khí cơ học.  

Trong  nghiên  cứu  của  chúng  tôi,  hạ 

phosphat  máu  trong  24  giờ  đầu  thông  khí  cơ 

học chỉ ở mức độ vừa (66,7%) và nhẹ (33,3%). 

Đến ngày thứ 3 thông khí cơ học, hạ phosphat 

máu  thường  ở  mức  độ  vừa  (50%)  và  nhẹ 

(40%),  nhưng  có  1  trường  hợp  hạ  phosphat 

máu nặng (10%).  

Hạ  phosphat  máu  mức  độ  từ  nhẹ  tới  vừa 

thường  không  có  triệu  chứng.  Những  bất 

thường  lâm  sàng  nghiêm  trọng  thường  chỉ  xảy 

ra trong hạ phosphat máu nặng(8). Ở nhóm bệnh 

nhân nhập viện, tần suất hạ phosphat máu mức 

độ vừa từ 2,2 đến 3,1%, và tần suất hạ phosphat 

máu  mức  độ  nặng  là  0,2  đến  0,4%(5).  Trong 

nghiên cứu của chúng tôi trước đây (2013) trên 

bệnh  nhân  ICU  Nội  khoa  thì  phần  lớn  là  hạ 

phosphat  máu  mức  độ  từ  vừa  (61,70%)  tới  nhẹ 

(31,17%),  chỉ  ghi  nhận  1  trường  hợp  hạ 

phosphate máu mức độ nặng (2,13%)(11).  

Chúng  tôi  ghi  nhận  mức  độ  nặng  của  hạ 

phosphat  máu  cũng  tăng  theo  thời  gian  thông 

khí cơ học, số trường hợp hạ phosphat máu mức 

độ vừa và nhẹ ở ngày thứ 3 gia tăng hơn ngày  đầu  thông  khí.  Ghi  nhận  1  trường  hợp  hạ  phosphat máu mức độ nặng (phosphat máu 0,18  mmol/L) sau 3 ngày thông khí, trường hợp này  khi mới bắt đầu thông khí có phosphat máu 0,64  mmol/L, tuy ở mức độ vừa nhưng giáp ranh với  mức độ nhẹ. 

Laaban  và  cộng  sự  (Pháp)  nghiên  cứu  14  bệnh nhân COPD có thông khí cơ học, ghi nhận  phosphat  máu  giảm  có  ý  nghĩa  (p  <  0,001)  khi  thông khí cơ học ở giờ thứ 1, 4, 7, 12 và 24. Hạ  phosphat máu có ở tất cả bệnh nhân  thông  khí 

cơ học, nhưng giảm nặng (< 0,3 mmol/L) chỉ ở 2  bệnh nhân. Có sự liên quan có ý nghĩa (r = 0,56; 

p  <  0,01)  giảm  phosphat  và  tăng  pH  khi  thông  khí  cơ  học(14).  Makhoul  và  cộng  sự  (Israel)  nghiên cứu 48 bệnh nhân COPD có thông khí cơ  học, 10% có phosphat máu thấp từ nhẹ tới vừa,  8% có phosphat máu rất thấp. Suy hô hấp có ở  76,5%  bệnh  nhân  có  phosphat  máu  thấp  và  ở  15,6% bệnh nhân có phosphat máu bình thường;  nguy cơ suy hô hấp cao gấp 5 lần ở bệnh nhân 

có  phosphat  máu  thấp.  Nồng  độ  phospho  máu  thấp  góp  phần  làm  gia  tăng  mức  độ  nặng  của  đợt cấp COPD và cần phải thông khí hổ trợ(15).  Trong  nghiên  cứu  của  chúng  tôi,  nồng  độ  phosphat máu ở thời điểm cai máy thành  công 

(n  =  15)  là  1,14  ±  0,28  mmol/L  so  với  nồng  độ 

phosphat máu ở thời điểm cai máy thất bại (n =  13) là 0,96 ± 0,34 mmol/L (p = 0,007). 

Nghiên  cứu  của  Alsumrain  và  cộng  sự  tại  New Jersey (Mỹ, 2010) khảo sát sự kết hợp giữa 

hạ  phosphat  máu  và  cai  máy  thở  thất  bại  ở  2  Khoa ICU Nội khoa với 66 bệnh nhân và 193 lần  cai  máy  thở  ở  những  bệnh  nhân  này,  mà  cuối  cùng tất cả đều cai máy thành công. Ở thời điểm  cai máy thành công (n = 66), nồng độ phosphat  máu  là  1,18  ±  0,27  mmol/L,  trong  khi  tất  cả  các  lần cai máy thất bại (n = 127), nồng độ phosphat  máu trung bình là 1,06 ± 0,31 mmol/L (p = 0,008).  Bệnh  nhân  có  nồng  độ  phosphat  máu  thấp  (<  0,80  mmol/L)  có  nguy  cơ  cai  máy  thở  thất  bại  cao  hơn  bệnh  nhân  có  nồng  độ  phosphat  máu 

Trang 5

1,32;  p  =  0,01).  Nghiên  cứu  này  cho  thấy  có  sự 

kết hợp giữa hạ phosphat máu và cai‐máy‐thất‐

bại ở bệnh nhân ICU có thông khí hổ trợ(1). 

KẾT LUẬN 

Hạ  phosphate  máu,  nếu  không  được  điều 

chỉnh hoặc cung cấp bổ sung, sẽ gia tăng về tỷ lệ 

mắc  và  mức  độ  nặng  của  bệnh  kể  từ  khi  bệnh 

nhân được thông khí cơ học. 

Ở  thời  điểm  cai  máy  thở  thành  công,  nồng 

độ  phosphat  máu  cao  hơn  so  với  thời  điểm  cai 

máy thất bại. 

TÀI LIỆU THAM KHẢO 

1 Alsumrain  MH,  Jawad  SA,  Imran  NB,  Riar  S,  DeBari  VA, 

Adelman  M  (2010).  Association  of  hypophosphatemia  with 

failure‐to‐wean  from  mechanical  ventilation.  Ann  Clin  Lab  Sci. 

2010 Spring;40(2):144‐8. 

2 Amanzadeh  J,  Reilly  RF,  Jr  (2006).  Hypophosphatemia:  an 

evidence‐based  approach  to  its  clinical  consequences  and 

management. Nat Clin Pract Nephrol 2006;2:136‐48. 

3 Aubier  M  et  al  (1985).  Effect  of  hypophosphatemia  on 

diaphragmatic  contractility  in  patients  with  acute  respiratory 

failure. N Engl J Med 313: 420‐4. 

4 Brunelli  SM,  Goldfarb  S  (2007).  Hypophosphatemia:  Clinical 

Consequences  and  Management.  J  Am  Soc  Nephrol  2007, 

18:1999‐2003. 

5 Camp  MA,  Allon  M  (1990).  Severe  hypophosphatemia  in 

hospitalized patients. Miner Electrolyte Metab 1990, 16:365‐8. 

6 Fiaccadori  E  et  al  (1994).  Hypophosphatemia  and  phosphorus 

depletion in respiratory and peripheral muscles of patients with 

respiratory failure due to COPD. Chest 105: 1392‐8. 

7 Gaasbeek  A,  Meinders  AE  (2005).  Hypophosphatemia:  an 

update on its etiology and treatment. Am J Med 2005; 118:1094‐

101. 

8 Geerse  DA,  Bindels  AJ,  Kuiper  MA,  Roos  AN,  Spronk  PE,  Schultz,  MJ  (2010).  Treatment  of  hypophosphatemia  in  the 

intensive care unit: a review. Critical Care 2010, 14:R147. 

9 Gravelyn  TR  et  al  (1988).  Hypophosphatemia‐associated  respiratory muscle weakness in a general inpatient population. 

Am J Med 84: 870‐6. 

10 Hoffmann  M,  Zemlin  AE,  Meyer  WP,  Erasmus  RT  (2008).  Hypophosphataemia  at  a  large  academic  hospital  in  South 

Africa. J Clin Pathol 2008, 61:1104‐7. 

11 Huỳnh Văn Ân, Phan Văn Phong, Phạm Thái Thiện (2013). Hạ  Phosphat máu ở bệnh nhân ICU Nội khoa. Hội Nghị Khoa Học 

Kỹ Thuật Đại Học Y Dược TP. HCM lần thứ 30 ‐ 11/01/2013. Y 

Học TP. Hồ Chí Minh, Tập 17, Phụ bản của Số 1, 2013, 268‐70. 

12 Knochel JP (1985). The clinical status of hypophosphatemia: an 

update. N Engl J Med 1985; 313:447‐9. 

Hypophosphatemia  in  critically  ill  patients:  incidence  and 

associations. Crit Care Med 1992, 20:S104. 

14 Laaban  JP,  Grateau  G,  Psychoyos  I,  Laromiguière  M,  Vuong 

TK,  Rochemaure  J  (1989).  Hypophosphatemia  induced  by  mechanical  ventilation  in  patients  with  chronic  obstructive 

pulmonary disease. Crit Care Med. 1989 Nov;17(11):1115‐20. 

15 Makhoul N, R Farah, L Jacobson (2011). Hypophosphatemia as 

a prognostic value in acute exacerbation of COPD. Presented at 

31st  International  Symposium  on  Intensive  Care  and  Emergency  Medicine  ISICEM  2011,  20‐23  Mar  2011,  P369.  F1000  Posters 

2011, 2: 284 (poster) 

Kanagasabapathy  AS  (1992).  Prevalence  &  pathogenesis  of 

hypophosphatemia in ventilated patients. Indian J Med Res. 1992 

Apr;96:87‐90

 

Ngày phản biện nhận xét bài báo: 19/8/2013  Ngày bài báo được đăng: 10/12/2013 

 

Ngày đăng: 22/01/2020, 09:13

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w