Nghiên cứu nhằm đánh giá hiệu quả của máy điện châm sử dụng miếng dán điện xung kết hợp tiêm thuốc prostigmin trong điều trị bệnh nhân bí đái cơ năng sau mổ trĩ. 60 bệnh nhân được chẩn đoán bí đái cơ năng sau mổ trĩ hỗn hợp độ III bằng phương pháp Milligan Morgan, được chia làm hai nhóm, nhóm chứng được tiến hành điều trị bằng máy điện châm sử dụng miếng dán điện xung đơn thuần và nhóm can thiệp sử dụng phương pháp trên kết hợp tiêm dưới da 01 ống thuốc Prostigmin 0,5mg/ml.
Trang 1ĐIỀU TRỊ BÍ ĐÁI CƠ NĂNG TRÊN BỆNH NHÂN SAU MỔ TRĨ BẰNG MÁY ĐIỆN CHÂM SỬ DỤNG MIẾNG DÁN ĐIỆN XUNG
KẾT HỢP TIÊM PROSTIGMIN
Tạ Đăng Quang 1 , Nguyễn Thị Thảo 2
1
Trường Đại học Y Hà Nội, 2 Trường Cao đẳng Phương Đông – Đà Nẵng Nghiên cứu nhằm đánh giá hiệu quả của máy điện châm sử dụng miếng dán điện xung kết hợp tiêm thuốc prostigmin trong điều trị bệnh nhân bí đái cơ năng sau mổ trĩ 60 bệnh nhân được chẩn đoán bí đái cơ năng sau mổ trĩ hỗn hợp độ III bằng phương pháp Milligan Morgan, được chia làm hai nhóm, nhóm chứng được tiến hành điều trị bằng máy điện châm sử dụng miếng dán điện xung đơn thuần và nhóm can thiệp sử dụng phương pháp trên kết hợp tiêm dưới da 01 ống thuốc Prostigmin 0,5mg/ml Nhóm chứng và nhóm can thiệp tỉ lệ thành công lần lượt là 86,7% và 93,3% (p > 0,05) Trong đó nhóm can thiệp đạt hiệu quả tốt hơn thể hiện qua số lượng nước tiểu trung bình lần đầu sau can thiệp nhiều hơn và số lần can thiệp ít hơn so với nhóm chứng (p < 0,01) Chưa thấy tác dụng không mong muốn của phương pháp trên.
Từ khóa: bí đái, máy điện châm sử dụng miếng dán điện xung, prostigmin
Địa chỉ liên hệ: Tạ Đăng Quang – Khoa Y học cổ truyền –
Trường Đại học Y Hà Nội
Email: drdangquang@gmail.com
Ngày nhận: 28/7/2016
Ngày được chấp thuận: 08/10/2016
I ĐẶT VẤN ĐỀ
Bí đái là tình trạng không đái được mặc dù
bàng quang có chứa đầy nước tiểu, trong khi
chức năng thận vẫn còn và tiếp tục sản xuất
nước tiểu [1] Bí đái cơ năng sau mổ trĩ là tình
trạng thường gặp, nguyên nhân thường do tác
dụng phụ của thuốc gây tê tủy sống và tình
trạng đau sau mổ [2; 3] Cắt trĩ bằng phương
pháp Milligan Morgan là một phương pháp
phổ biến đang được áp dụng rộng rãi tại nhiều
cơ sở y tế hiện nay với ưu điểm dễ áp dụng,
hiệu quả điều trị cao, tuy nhiên thường gây
đau và bí đái sau mổ Theo báo cáo của các
nghiên cứu trong và ngoài nước, tỷ lệ bệnh
nhân bí đái cơ năng sau mổ trĩ bằng phương
pháp Milligan Morgan là 25,6% và 19,6% [4;
5] Để điều trị bí đái cơ năng sau mổ, y học
hiện đại thường tiến hành đặt sonde tiểu, tuy
giải quyết được vấn đề triệt để nhưng có thể
để lại biến chứng tổn thương niệu đạo, bàng quang, nhiễm khuẩn tiết niệu [6 - 8]
Bí đái được mô tả trong phạm vi chứng Long bế của y học cổ truyền, để điều trị chứng Long bế, y học cổ truyền có thể sử dụng điện châm, xoa bóp bấm huyệt, máy điện châm sử dụng miếng dán điện xung [9 - 11] Điện châm
là một thủ thuật xâm lấn, xoa bóp bấm huyệt đòi hỏi sức người, đồng thời khi thực hiện phương pháp này đòi hỏi người thực hiện phải có kiến thức về y học cổ truyền Máy điện châm sử dụng miếng dán điện xung đã được nghiên cứu và sử dụng đạt hiệu quả cao trong điều trị và dễ áp dụng [10; 11] Tuy nhiên, bệnh nhân còn tình trạng đi tiểu không hết bãi, phải đi tiểu nhiều lần gây nhiều khó chịu cho người bệnh Prostigmin là thuốc kháng cholinesterase có tác dụng làm tăng co bóp
cơ thành bàng quang, được chỉ định trong điều trị bí đái cơ năng [12] Việc kết hợp máy điện châm sử dụng miếng dán điện xung với Prostigmin nhằm nâng cao hiệu quả điều trị bí
Trang 2đái cơ năng đã được tiến hành có kết quả tại
Trung Quốc [13] song chưa có nghiên nào tại
Việt Nam Vì vậy, nghiên cứu được tiến hành
với mục tiêu:
1 Đánh giá tác dụng của máy điện châm
sử dụng miếng dán điện xung kết hợp thuốc
Prostigmin trong điều trị bí đái cơ năng sau
mổ trĩ hỗn hợp độ III bằng phương pháp
Milligan Morgan, so sánh hiệu quả với máy
điện châm sử dụng miếng dán điện xung
2 Theo dõi tác dụng không mong muốn
của phương pháp này trên lâm sàng
II ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP
1 Đối tượng
60 bệnh nhân được chẩn đoán bí đái cơ
năng sau mổ trĩ hỗn hợp độ III bằng phương
pháp Milligan Morgan tại Khoa Ngoại - Bệnh
viện Y học cổ truyền Trung ương từ tháng
9/2014 đến tháng 1/2015
* Tiêu chuẩn chọn bệnh nhân
- Bệnh nhân từ 18 tuổi trở lên
- Được chẩn đoán xác định là bí đái cơ
năng sau mổ cắt trĩ hỗn hợp độ III bằng
phương pháp Milligan Morgan
- Không rối loạn nhịp tim, nhịp tim > 60 lần/
phút
* Tiêu chuẩn loại trừ bệnh nhân
- Bệnh nhân chẩn đoán bí đái do nguyên
nhân thực thể (U tiền liệt tuyến, u bàng
quang…)
- Bệnh nhân có rối loạn nhịp tim, nhịp
chậm (nhịp tim < 60 lần/phút)
Thuốc Prostigmin (Prostigmin methylsufat) 0,5mg/1ml x 01 ống của Hameln Pharm GmbH - Đức
3 Phương tiện nghiên cứu
Miếng dán điện xung: 4 miếng, làm bằng gel dẫn điện do Công ty Shenzhen Osto Tech-nology Co., Ltd - Quảng Đông, Trung Quốc sản xuất
Máy điện châm: do Công ty Đầu tư phát triển công nghệ và xây lắp sản xuất, Model
1592 - ET - TK21
4 Phương pháp
* Thiết kế nghiên cứu: tiến cứu, so sánh
kết quả trước và sau điều trị và so sánh với nhóm chứng
* Quy trình nghiên cứu: Bệnh nhân phù
hợp với tiêu chuẩn lựa chọn, được tiến hành đánh giá các triệu chứng lâm sàng trước can thiệp: toàn trạng: ý thức, mạch, nhiệt độ, huyết
áp, thời gian xuất hiện bí đái tính từ thời điểm sau phẫu thuật, đo kích thước cầu bàng quang và các thông tin chung của bệnh nhân (tuổi, giới, nghề nghiệp, tiền sử)
Tính từ thời điểm can thiệp: tiến hành theo
dõi và thu thập các chỉ số nghiên cứu khi có
sự thay đổi (tình trạng tiểu tiện, thời gian tiểu được sau can thiệp, số lần can thiệp)
Liệu trình điều trị: được tiến hành ngay sau
khi bệnh nhân được chẩn đoán bí đái cơ năng sau mổ:
Nhóm can thiệp
Dán miếng dán: núm kim loại để mắc điện cực được dán vào vị trí huyệt, phần bản điện được dán bao phủ vùng cầu bàng quang
Trang 3Chỉnh máy điện châm: tần số tả 6 Hz,
cường độ: chỉnh tối thiểu để tạo được sự rung
động trên bề mặt da bụng, phù hợp với
ngưỡng chịu đựng của bệnh nhân
Tiêm dưới da Prostigmin 0,5mg/1ml x 01
ống, ngay lúc vừa chỉnh xong máy điện châm
(sử dụng một lần duy nhất, những lần can
thiệp tiếp theo (nếu có) sẽ không sử dụng
thuốc Prostigmin)
Thời gian can thiệp cho một liệu trình là 30
phút Nếu bệnh nhân chưa tiểu tiện được sẽ
tiến hành can thiệp lần kế tiếp sau khi kết thúc
liệu trình trước đó 30 phút Số lần can thiệp tối
đa là ba liệu trình Nếu sau ba liệu trình, bệnh
nhân vẫn chưa tiểu tiện được sẽ tiến hành đặt
sonde tiểu Trong quá trình điều trị, nếu bệnh
nhân khó chịu nhiều, sẽ tiến hành đặt sonde
tiểu ngay
Nhóm chứng
Tiến hành quy trình như nhóm can thiệp
nhưng không tiêm Prostigmin
* Các chỉ tiêu nghiên cứu
Các chỉ tiêu liên quan đến đặc điểm lâm
sàng chung của bệnh nhân: tuổi, giới, mức độ
cầu bàng quang
Các chỉ tiêu đánh giá kết quả điều trị
- Kết quả điều trị bí đái sau can thiệp: tiểu
được và không tiểu được
- Số lượng nước tiểu lần đầu sau can thiệp
- Số lần can thiệp
Tác dụng không mong muốn của phương
pháp: mẩn ngứa chỗ miếng dán, vựng châm,
buồn nôn, nôn
5 Xử lý số liệu: phần mềm SPSS 16.0.
6 Đạo đức trong nghiên cứu: Nghiên
cứu chỉ nhằm nâng cao kết quả điều trị cho bệnh nhân, không nhằm mục đích nào khác Bệnh nhân được lựa chọn theo tiêu chuẩn nghiên cứu và tự nguyện tham gia nghiên cứu Bệnh nhân được giải thích rõ về tác dụng của phương pháp Bệnh nhân có quyền rút khỏi nghiên cứu bất cứ thời điểm nào Khi tiến hành nghiên cứu, nếu có bất thường trong quá trình điều trị, bệnh nhân đều được theo dõi xử trí cho phù hợp tùy theo tình trạng bệnh, có thể đổi phương pháp khác
III KẾT QUẢ
1 Đặc điểm bệnh nhân nghiên cứu
Nhóm can thiệp và nhóm chứng đảm bảo không có sự khác biệt về tuổi, giới, và mức độ cầu bàng quang Trong nghiên cứu này, tuổi trung bình của bệnh nhân là 46 ± 13,71 và mức độ cầu bàng quang từ 5 - 10 cm chiếm tỷ
lệ cao nhất là 60% cho cả hai nhóm
2 Hiệu quả điều trị
Ở cả hai nhóm, tỷ lệ thành công sau can thiệp đều rất tốt, ở nhóm chứng là 86,7% và ở nhóm can thiệp là 93,3% Tuy nhóm can thiệp
có tỷ lệ thành công cao hơn nhóm chứng, song không có sự khác biệt về kết quả điều trị chung sau can thiệp của hai nhóm, p > 0,05 (bảng 1)
Trong số các bệnh nhân tiểu được sau can thiệp (nhóm can thiệp: 28/30; nhóm chứng: 26/30), số lượng nước tiểu lần đầu ở nhóm can thiệp cao hơn so với nhóm chứng,
sự khác biệt có ý nghĩa thống kê, p < 0,01 (bảng 2)
Trang 4Bảng 1 Kết quả điều trị chung sau can thiệp
Kết quả
Nhóm chứng (n = 30) Nhóm can thiệp (n = 30)
p
> 0,05
Nhóm
Bảng 2 Số lượng nước tiểu lần đầu sau can thiệp
Số lượng
nước tiểu (ml)
Nhóm chứng (n = 26) Nhóm can thiệp (n = 28)
p
< 0,01
Nhóm
Trong số các bệnh nhân tiểu được sau can thiệp (nhóm can thiệp: 28/30; nhóm chứng: 26/30),
số lượng nước tiểu lần đầu ở nhóm can thiệp cao hơn so với nhóm chứng, sự khác biệt có ý nghĩa thống kê, p < 0,01
Bảng 3 Số lần can thiệp của hai nhóm
X
Số
lần can thiệp
Nhóm chứng (n = 26) Nhóm can thiệp (n = 28)
p
< 0,01
Nhóm tiểu được
Trong số các bệnh nhân tiểu được sau can thiệp (nhóm can thiệp: 28/30; nhóm chứng: 26/30), nhóm can thiệp có tỷ lệ bệnh nhân tiểu được sau 1 lần can thiệp cao hơn so với nhóm chứng Sự
Trang 5IV BÀN LUẬN
Trong nghiên cứu này, tuổi trung bình của
bệnh nhân là 46 ± 13,71, do nghiên cứu được
tiến hành trên bệnh nhân sau mổ trĩ và độ tuổi
này là độ tuổi thường gặp của bệnh Kết quả
này cũng phù hợp với các nghiên cứu về bệnh
trĩ của nhiều tác giả trong và ngoài nước [14;
15] Các bệnh nhân trong nghiên cứu đều
được tiến hành vô cảm bằng phương pháp
gây tê tủy sống, sử dụng thuốc Marcain
(Bupivacaine hydrochloride) với thời gian bán
thải là 1,5 - 5,5 giờ [12], qua theo dõi trên lâm
sàng, thường sau 2 - 3 giờ bệnh nhân bắt đầu
có cảm giác buồn tiểu Bệnh nhân luôn được
truyền dịch trước, trong và sau khi phẫu thuật,
với chức năng thận bình thường, khi bệnh
nhân bắt đầu có cảm giác buồn tiểu thì trong
bàng quang trung bình đã có khoảng hơn 200
ml nước tiểu, do đó kích thước cầu bàng
quang từ 5 - 10 cm chiếm tỷ lệ cao trong
nghiên cứu Thuốc gây tê tủy sống làm tăng
trương lực cơ thắt cổ bàng quang gây bí tiểu
[16] Phác đồ với các huyệt được sử dụng
nằm ngay phía trên bàng quang (khi bệnh
nhân có cầu bàng quang) nên khi được kích
thích sẽ tác động trực tiếp, tạo những nhát
bóp nhân tạo làm tăng áp lực, thắng được
sức cản của cơ thắt cổ bàng quang giúp tăng
khả năng đi tiểu cho bệnh nhân
Theo y học cổ truyền, sau phẫu thuật, kinh
mạch bị tổn hại, khí trệ huyết ứ dẫn đến bàng
quang khí hóa bị rối loạn mà dẫn đến bí đái
Huyệt Khúc cốt là huyệt hội của mạch Nhâm
và kinh túc quyết âm Can, có tác dụng điều trị
bí tiểu và giảm đau Huyệt Khí hải có tác dụng
giảm đau, thông dương khí Huyệt Quy lai
thuộc kinh Vị có tác dụng giảm đau tại chỗ
Bên cạnh đó, ở nhóm can thiệp được sử dụng
thêm thuốc Prostigmin là thuốc kháng
cholinesterase nên làm vững bền acetylcholin
nội sinh, gây các triệu chứng cường hệ cholinergic ngoại biên và trung ương, làm tăng trương lực cơ thành bàng quang, nên khi kết hợp với điện châm sử dụng miếng dán sẽ làm tăng tác dụng, kéo dài thời gian co bóp của cơ thành bàng quang nên giúp tăng thêm hiệu quả điều trị
V KẾT LUẬN
Kết quả nghiên cứu cho phép đưa ra một
số kết luận như sau:
- Điện châm sử dụng miếng dán kết hợp thuốc Prostigmin có hiệu quả điều trị bí đái cơ năng trên bệnh nhân sau mổ trĩ hỗn hợp độ III bằng phương pháp Milligan Morgan
- Điện châm sử dụng miếng dán điện xung kết hợp thuốc Prostigmin có hiệu quả tốt hơn
so với điện châm sử dụng miếng dán điện xung
- Chưa thấy tác dụng không mong muốn trong điều trị bí đái cơ năng sau mổ trĩ của điện xung trị liệu kết hợp thuốc prostigmin
Lời cảm ơn
Để hoàn thành nghiên cứu này, nhóm nghiên cứu xin chân thành cảm ơn tập thể y bác sĩ Khoa Ngoại, Phòng Kế hoạch tổng hợp, Bệnh viện Y học cổ truyền Trung ương đã tận tình giúp đỡ tạo điều kiện cho chúng tôi trong quá trình nghiên cứu
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 Trường Đại học Y Hà Nội - Bộ môn
Nội (2004) Nội khoa cơ sở tập II Nhà xuất
bản Y học, 355.
2 Kreutziger J, Frankenberger B, Luger
TJ, Richard S, Zbinden S (2010) Urinary
retention after spinal anaesthesia with
Trang 6hyperbaric prilocaine 2% in an ambulatory
setting British Journal of anaesthesia, 104(5),
582 - 586
3 Caroline Sanchez, M.D.1 and Bertram
T Chinn, M.D.1 (2011) Hemorrhoids, Clinics
in Colon and Rectal Surgery, 24(1), 5 - 13.
4 Lê Xuân Huệ (1998) Áp dụng kĩ thuật
Milligan - Morgan điều trị bệnh trĩ tại khoa
phẫu thuật tiêu hóa bệnh viện Việt Đức Tạp
chí y học thực hành, 7, 5 - 7.
5 Zhang Y, Wang Zg, Zeng Xd et al
(2015) Clinical observations on the treatment
of prolapsing hemorrhoids with tissue
selecting therapy World J Gastroenterol, 21
(8), 2490 - 2496.
6 Lê Thị Bình (2014) Thực trạng nhiễm
khuẩn tiết niệu mắc phải sau đặt thông tiểu tại
Bệnh viện Bạch Mai Tạp chí Y học thực hành,
2(905), 12 - 16
7 Nicolle, L E (2005) Catheter-related
urinary tract infection Drugs Aging, 22(8), 627
- 639
8 Tenke, P, Kovacs, B., Bjerklund
Johansen TE et al (2008) European and
Asian guidelines on management and
prevention of catheter-associated urinary tract
infections Int J Antimicrob Agents, 1, 68 - 78.
9 Tạ Đăng Quang, Lê Thành Xuân
(2014) Tác dụng giảm đau và điều trị bí đái
của điện châm trên bệnh nhân sau mổ trĩ
bằng phương pháp khâu triệt mạch Tạp chí
nghiên cứu y học, 89, 128 - 134.
10 Tạ Đăng Quang (2014) Nghiên cứu
tác dụng điều trị bí đái cơ năng của điện châm
sử dụng miếng dán nhóm huyệt UR1 trên
bệnh nhân sau mổ triệt mạch trĩ Tạp chí nghiên cứu Y Dược học cổ truyền Việt Nam,
41, 75 - 80.
11 Nguyễn Thị Thúy Vân, Tạ Đăng Quang (2015) Hiệu quả điều trị bí đái cơ
năng sau mổ trĩ của phương pháp điện châm
sử dụng miếng dán điện cực Tạp chí Y học
thực hành, 1(949), 166 - 168.
12 Bộ Y tế (2002) Dược thư quốc gia
Việt Nam Nhà xuất bản Y học.
13 Quan Ke Sheng, Ou Chun (2011).
Hiểu biết về trị liệu bí đái sau mổ hậu môn trực tràng bằng phương pháp miếng dán điện kích thích lên huyệt kết hợp với neostigmine
methylsulfate Tạp chí Trung Y Dược Nội
Mông cổ, (6), 28 - 29.
14 Nguyễn Văn Liễu, Nguyễn Đoàn Văn
Phúc, Nguyễn Thành Phúc (2011) Nghiên
cứu ứng dụng điều trị cắt trĩ theo phương pháp Longo tại Khoa Ngoại Bệnh viện Trường
Đại học Y Dược Huế Tạp chí Đại trực tràng
học, 6, 18 - 19.
15 Shalaby.R and A Desoky (2001).
Randomized clinical trial of stapled vs
Milligan-Morgan haemorrhoidectomy British Journal of
Surgery, 88, 1049 - 1053.
16 Huỳnh Tấn Hưng, Lê Việt Hoàng (2010) Điều dưỡng chăm sóc các biến chứng
sau tê tủy sống phẫu thuật chi dưới Tạp chí Y
học thực hành, 744, 48 - 49.
Summary THE EFFECT OF PAD-ELECTRO ACUPUNCTURE COMBINED WITH PROSTIGMIN INJECTION ON TREATING FUNCTIONAL URINARY
Trang 760 patients diagnosed with functional urinary retention after grade 3 mixed hemorrhoidectomy by Milligan-Morgan technique were divided into two groups: The control group was treated with pad-electro acupuncture, the study group was treated by pad-electro acupuncture and Prostigmin 0,5mg/ml SC injection The ratios of patients urinated normally after treatment of the control and the study group were 86.7% and 93.3%, respectively (p > 0.05) The study group had higher mean urine volume in the first urination after intervention and fewer times of intervention than the control group (p < 0.01) No adverse side effects were observed
Keywords: Functional urinary retention, pad-electro acupuncture, Prostigmin