1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Khảo sát sự hiểu biết các dấu hiệu nguy hiểm toàn thân của các bà mẹ có con đến khám Bệnh viện Nhi Đồng Nai - năm 2009

6 77 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 6
Dung lượng 423,95 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nghiên cứu được tiến hành với mục tiêu nhằm đánh giá khả năng kiến thức, thái độ, hành vi của các bà mẹ về các dấu hiệu nguy hiểm toàn thân tại khoa khám bệnh, bệnh viện Nhi Đồng Đồng Nai. Đề tài được tiến hành theo thiết kế nghiên cứu mô tả cắt ngang 7 giờ đến 16 giờ mỗi ngày từ tháng 5/2009 đến 11/2009.

Trang 1

KHẢO SÁT SỰ HIỂU BIẾT CÁC DẤU HIỆU NGUY HIỂM TOÀN THÂN CỦA CÁC BÀ MẸ CÓ CON ĐẾN KHÁM BỆNH VIỆN NHI ĐỒNG NAI –

NĂM 2009

Trần Thanh Huỳnh*

TÓM TẮT

Đánh giá khả năng kiến thức, thái độ, hành vi của các bà mẹ về các dấu hiệu nguy hiểm toàn thân tại khoa khám bệnh, bệnh viện Nhi Đồng Đồng Nai

Đối tượng và phương pháp: Tất cả các bà mẹ có trẻ trong độ tuổi từ 1 tháng đến ≤ 15 tuổi đến khám bệnh

tại Khoa Khám Bệnh - Bệnh viện Nhi Đồng - Đồng Nai trong giờ hành chánh.Đề tài được tiến hành theo thiết kế nghiên cứu mô tả cắt ngang 7 giờ đến 16 giờ mỗi ngày từ tháng 5/2009 đến 11/2009

Kết quả: Kiến thức đúng của các bà mẹ.Trẻ ói tất cả mọi thứ 24,1%; Trẻ không thể uống hoặc bú được 34%;

Trẻ co giật 71,8%; Trẻ li bì hay khó đánh thức 34,8%.Thái độ đúng của các bà mẹ.Trẻ ói tất cả mọi thứ 52,5%;

Trẻ không thể uống hoặc bú được 58,3%; Trẻ co giật 80,4%; Trẻ li bì hay khó đánh thức 56,2% Hành vi đúng

của các bà mẹ Trẻ ói tất cả mọi thứ 66,3%; Trẻ không thể uống hoặc bú được 74,1%; Trẻ co giật 98,5%; Trẻ li bì hay khó đánh thức 78,9%

Kết luận: Tổ chức triển khai tốt các chương trình “chăm sóc sức khỏe ban đầu” tới các địa phương, nhất là

những nơi vùng sâu vùng xa, dân tộc ít người đang sinh sống, các khu công nghiệp

Từ khóa: dấu hiệu nguy hiểm, trẻ em

ABSTRACT

THE MOTHERS’ KNOWNLEDGE OF DANGER THREATENS TO ALL OVER THEIR CHILDREN IN

MEDICAL EXAMINATION AT DONG NAI CHILDREN’S HOSPITAL

Tran Thanh Huynh * Y Hoc TP Ho Chi Minh * Vol 15 - Supplement of No 3 - 2011: 64 - 69

An evaluation of the mothers’ knowledge, attitude and behaviour of the dangeriuos threatens to their children

at paediatrics ward of Dong Nai Children’s Hospital

Methods:All of mothers who took their children at from 01 month old to 15 years old to a medical

examination at Dong Nai Children’s Hospital during office hours This survey is worked out with the method of cross-sectional description study

Results: Mothers’ correct knowledge: Children vomit all like milk or foods covering 24.1%, can not drink or

be breast-fed or bottle-fed 34%; Children fall in convulsive fit 71.8% and fall in sound sleep then hardly to be awakened 34.8%; Mothers’ correct attitude: Children vomit all like milk or foods getting result of 52.5%, can not drink or be breast-fed 58.3%, fall in convulsive fit 80.4% and fall in sound sleep then hardly to be awakened 56.2%

Mothers’ correct behaviour: Children vomit all like milk or foods obtaining 66.3%, can not drink or be breast-fed or bottle-breast-fed 74.1%; Children fall in convulsive fit achieving 66.3%, fall in sound sleep 78.9%

Conclusions:“The Initial Health Care Program” should be carried out at localities; especially, at any remote

region, ethnic minority areas and industrial parks

* Bệnh viện Nhi Đồng Đồng Nai

Tác giả liên lạc: ĐD Trần Thanh Huỳnh, ĐT: 0955 260 257, Email: trungnghialddn@yahoo.com

Trang 2

Key words: danger threaten, children

ĐẶT VẤN ĐỀ

Theo ghi nhận của Tổ chức Y tế Thế giới

(WHO) và Quỹ Trẻ em nhi đồng Liên hợp

quốc (UNICEF), hằng năm trên thế giới có

trên 10 triệu trẻ em chết trước 5 tuổi, 70%

nguyên nhân tử vong là do phối hợp nhiều

bệnh lý khác nhau như: viêm phổi, tiêu chảy,

sởi, sốt rét và suy dinh dưỡng Tỷ lệ tử vong

của trẻ dưới 5 tuổi ở các nước đang phát triển

có thu nhập thấp nhiều gấp 10 lần so với các

nước công nghiệp phát triển(2)

Trong những năm gần đây, Khoa Cấp cứu

Bệnh viện Nhi Đồng - Đồng Nai tiếp nhận bệnh

nhi nặng mỗi năm mỗi nhiều hơn Cụ thể bệnh

nhân nặng vào khoa cấp cứu năm 2006 có 11.174

bệnh nhân, 2007 có 14.638 bệnh nhân, 2008 có

15.693 bệnh nhân, 2009 có 19.631 bệnh nhân; Và

bệnh nhân tử vong ngoại viện năm 2006 có 31

bệnh nhân, 2007 có 34 bệnh nhân, 2008 có 48

bệnh nhân, 2009 có 36 bệnh nhân

Đồng Nai là một tỉnh nằm trong vùng kinh

tế trọng điểm, có nhiều khu công nghiệp với

nhiều nhà máy, nên có rất nhiều lao động nhập

cư từ nông thôn, từ các tỉnh khác Đây là lực

lượng lao động trong độ tuổi sinh sản nên kèm

với họ là số đông trẻ em

Chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài

“Khảo sát sự hiểu biết các dấu hiệu nguy hiểm

toàn thân của các bà mẹ có con đến khám Bệnh

viện Nhi Đồng - Đồng Nai.”

Mục tiêu chung

Khảo sát sự hiểu biết các dấu hiệu nguy

hiểm toàn thân của các bà mẹ có con đến khám

Bệnh viện Nhi Đồng - Đồng Nai

Mục tiêu cụ thể

Xác định tỷ lệ bà mẹ có kiến thức, thái độ,

hành vi đúng về dấu hiệu nguy hiểm toàn thân

ĐỐI TƯỢNG - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU Đối tượng nghiên cứu

Tiêu chí chọn mẫu

Tất cả các bà mẹ có trẻ trong độ tuổi từ 1 tháng đến ≤ 15 tuổi đến khám bệnh tại Khoa Khám Bệnh - Bệnh viện Nhi Đồng - Đồng Nai trong giờ hành chánh

Tiêu chí loại trừ

Bà mẹ đã được phỏng vấn rồi

Bà mẹ rối loạn tâm thần

Bà mẹ bệnh tật: câm điếc bẩm sinh

Không có bà mẹ đi kèm

Phương pháp nghiên cứu

Thiết kế nghiên cứu

Đề tài được tiến hành theo thiết kế nghiên cứu mô tả cắt ngang

Cỡ mẫu

Đề tài nghiên cứu được tính theo công thức:

n = Z

2 P(1-P)

e2

Ta có: n = 1.96

2 x 0.5 (1 - 0.5) 0.052 = 384

Để kết quả điều tra được mở rộng, chúng tôi chọn cỡ mẫu (10 huyện và 1 thành phố) đơn vị

n = 384 x 11 # 4.200 đối tượng

Chúng tôi chọn đủ 4.200 đối tượng

Chọn mẫu

Các đối tượng được chọn vào mẫu khảo sát theo phương pháp chọn ngẫu nhiên: cha mẹ trẻ đến đăng ký khám bệnh theo số thứ tự 5, 10, 15, 20,… trong thời gian nghiên cứu, thỏa các tiêu chuẩn chọn bệnh và loại trừ, được đưa vào nhóm nghiên cứu

Đánh giá các yếu tố

Địa chỉ Nghề nghiệp Trình độ học vấn

Trang 3

Kiến thức, thái độ, hành vi về dấu hiệu nguy

hiểm toàn thân (Trẻ ói tất cả mọi thứ; trẻ không

thể uống hoặc bú được; trẻ co giật; trẻ li bì hay

khó đánh thức)

Xử lý số liệu

Số liệu thu thập và xử lý bằng phần mềm

SPSS 16.0 for windows

Định nghĩa biến số

Kiến thức: những điều hiểu biết, có nhiều

kiến thức cuộc sống, không ngừng nâng cao

kiến thức cho mình

Thái độ: mặt biểu hiện bề ngoài ý nghĩ, tình

cảm đối với ai hay việc gì, thông qua nét mặt cử

chỉ, lời nói chỉ, hành động

Hành vi: cách ứng xử được biểu hiện bằng

cử chỉ, hành động cụ thể

Dấu hiệu nguy hiểm toàn thân theo IMCI

(Integrated Management of Childhood Illness)

Trẻ không uống hoặc bú được: khi trẻ

không thể mút hoặc nuốt được khi cho uống

hoặc bú mẹ

Trẻ nôn tất cả mọi thứ: khi trẻ không thể giữ

lại bất cứ thứ gì đã ăn hoặc uống

Trẻ co giật: tay chân trẻ co cứng, trẻ có thể

mất ý thức hoặc không đáp ứng với tiếng động

Trẻ li bì khó đánh thức: trẻ không thức hoặc

không tỉnh táo, ngủ gà gật không quan tâm đến

những gì xảy ra chung quanh

Ý thức: sự cảm nhận và nhận biết sự vật

khách quan được phản ảnh vào bộ óc con người

Đáp ứng: đem lại đúng các yếu tố, đòi hỏi

Ngũ gà gật: ngũ ở tư thế ngồi hoặc đứng, lơ

mơ, lúc gật bên nầy, lúc gật bên kia, thỉnh

thoảng tỉnh dậy

Kiến thức đúng: Khi trẻ có một trong các

biểu hiện như sau: trẻ không uống hoặc bú

được, hoặc trẻ nôn tất cả mọi thứ, hoặc trẻ co

giật, hoặc trẻ li bì khó đánh thức thì được gọi

là TRẺ CÓ DẤU HIỆU NGUY HIỂM TOÀN THÂN, cha mẹ trẻ phải hiểu rằng cháu đang

bị bệnh nặng thậm chí rất nặng

Thái độ đúng: Khi trẻ có dấu hiệu nguy

hiểm, cha mẹ trẻ phải hiểu rằng trẻ đang cần được đưa đi khám bệnh tại các cơ sở y tế, không được để ở nhà hoặc để theo dõi thêm vì chỉ các

cơ sở y tế đó mới có các thầy thuốc chuyên môn,

am hiểu về các dấu hiệu nguy hiểm toàn thân cùng với các thiết bị, thuốc men cần thiết để kịp thời khám chữa bệnh cho cháu

Hành vi đúng: Đối với trẻ có dấu hiệu

nguy hiểm, cha mẹ trẻ phải hiểu rằng hành động đúng đắn nhất lúc này là phải đưa ngay trẻ đến khám bệnh kịp thời tại các cơ sở y tế Tuyệt đối không được chần chờ chậm trể, tuyệt đối không được tự ý mua thuốc về điều

trị cho cháu

KẾT QUẢ Phân bố theo địa phương (n = 4.200)

Bảng 1: Phân bố theo địa phương

Nhận xét: đa số dân cư tại TP Biên Hòa 2.162/4.200 chiếm tỷ lệ (51,5%)

Nghề nghiệp của các bà mẹ (n = 4.200)

Bảng 2: Nghề nghiệp của các bà mẹ

Nghề nghiệp của các bà mẹ n Tỷ lệ %

Trang 4

Nghề nghiệp của các bà mẹ n Tỷ lệ %

Nhận xét: Bà mẹ là công nhân 2.587/4.200

chiếm tỷ lệ (61,6%)

Trình độ học vấn của các bà mẹ (n = 4.200)

15

826

1990 1221

148

Mù chữ Cấp I Cấp II Cấp III Đại học

Biểu đồ 1: Trình độ học vấn của các bà mẹ

Nhận xét: TĐHV của bà mẹ: mù chữ (0,4%);

cấp I (19,6%); cấp II (47,4%)

Kiến thức đúng về dấu hiệu nguy hiểm

toàn thân của các bà mẹ (n = 4.200)

Bảng 3: Kiến thức đúng về dấu hiệu nguy hiểm toàn

thân

Dấu hiệu nguy hiểm toàn thân n Tỷ lệ %

Trẻ ói tất cả mọi thứ 1009 24,1%

Trẻ không thể uống hoặc bú được 1430 34 %

Kiến

thức

Trẻ li bì hay khó đánh thức 1461 34,8%

Nhận xét: Kiến thức đúng (trẻ ói tất cả mọi

thứ 24,1%, trẻ không thể uống hoặc bú được

34%, trẻ co giật 71,8%, trẻ li bì hay khó đánh

thức 34,8%)

Thái độ đúng về dấu hiệu nguy hiểm toàn

thân của các bà mẹ (n = 4.200)

Bảng 3.4 Thái độ đúng về dấu hiệu nguy hiểm toàn

thân

Dấu hiệu nguy hiểm toàn thân n Tỷ lệ %

Trẻ ói tất cả mọi thứ 2203 52,5%

Trẻ không thể uống hoặc bú được 2451 58,3 %

Thái

độ

Trẻ li bì hay khó đánh thức 2360 56,2%

Nhận xét: Thái độ đúng (trẻ ói tất cả mọi thứ

52,5%, không thể uống hoặc bú được 58,3%, trẻ

co giật 80,4%, li bì hay khó đánh thức 56,2 %)

Hành vi đúng về dấu hiệu nguy hiểm toàn thân của các bà mẹ (n = 4.200)

Bảng 5: Hành vi đúng về dấu hiệu nguy hiểm toàn

thân

Dấu hiệu nguy hiểm toàn thân n Tỷ lệ %

Trẻ ói tất cả mọi thứ 2785 66,3% Trẻ không thể uống hoặc bú được 3112 74,1%

Hành

vi

Trẻ li bì hay khó đánh thức 3315 78,9% Nhận xét: Hành vi đúng (ói tất cả mọi thứ

66,3%, không thể uống hoặc bú được 74,1%, trẻ

co giật 98,5%, trẻ li bì hay khó đánh thức 78,9%)

BÀN LUẬN Tình hình phân bố theo địa phương

Thành phố Biên Hòa đã chiếm tỷ lệ rất cao 51,5 nghiên cứu 4.200 mẫu, kế đến là các huyện lân cận chung quanh thành phố Biên Hòa như: huyện Trảng Bom 14%, huyện Long Thành chiếm tỷ lệ 8,7%, huyện Thống Nhất chiếm tỷ lệ 7,5%, huyện Vĩnh Cửu chiếm tỷ lệ 6,4%

Ở những nơi vùng sâu vùng xa, nhất là vùng các dân tộc ít người đang sinh sống như ở các xã như Tà Lài của huyện Tân Phú…, có nhiều trường hợp trẻ đến cơ sở y tế chậm trễ một phần do đường sá xa xôi, giao thông cách trở bất tiện, nhưng phần lớn do ba mẹ hoặc người chăm sóc trẻ không biết được đâu là những dấu hiệu nặng báo động đưa cháu bé kịp thời đến cơ sở y tế

Nghề nghiệp và trình độ học vấn của các

bà mẹ

Kết quả ghi nhận được nghề nghiệp các bà mẹ: nội trợ 25,4%; công nhân 61,6%; công chức 4,9%; làm nông / làm rẫy 4,2% và nghề khác 3,9% Đồng Nai là tỉnh có rất nhiều khu công nghiệp và nhiều nhà máy đang hoạt động (hiện

có 29 khu công nghiệp đang hoạt động với hơn 335.000 công nhân đang lao động trong hơn 700 nhà máy) Trong lực lượng lao động đó có rất

Trang 5

nhiều các ông bố bà mẹ trong độ tuổi sinh sản

đang làm việc, với kết quả chúng tôi thấy cha

mẹ là công nhân 61,6%

TĐHV của các bà mẹ cho ta thấy hiện nay

các bậc cha mẹ không biết chữ chiếm tỷ lệ 0,4%,

cấp I chiếm tỷ lệ 19,7%, cấp II chiếm tỷ lệ 47,4%,

như vậy các bà mẹ mù chữ, cấp I và cấp II chiếm

tổng tỷ lệ 67,5% một tỷ lệ khá cao so với tổng số

các bà mẹ được phỏng vấn Một vấn đề hiển

nhiên cần thiết là các bà mẹ cũng cần có TĐHV

tương đối để khi có các cuộc tuyên truyền về

CSSKBĐ trên các phương tiện thông tin hoặc

qua các sách báo Song do khách quan, tỷ lệ các

bà mẹ có TĐHV còn thấp chiếm tỷ lệ rất lớn (mù

chữ, cấp I và cấp II là 67,5%)

Kiến thức của các bà mẹ về các dấu hiệu

nguy hiểm toàn thân

Với kết quả của chúng tôi, do sự nhận thức

còn tương đối thấp của các bậc cha mẹ về tình

trạng bệnh của trẻ như: trẻ ói tất cả mọi thứ

đúng 24,1%; trẻ không thể uống hoặc bú được

đúng 34%; trẻ li bì hay khó đánh thức đúng

34,8% hoặc sự chủ quan của gia đình, ảnh

hưởng rất quan trọng trong việc phát hiện bệnh

ở trẻ và có khi làm trẻ nặng thêm

Kiến thức nói chung và kiến thức về trẻ có

dấu hiệu nguy hiểm toàn thân của bậc cha mẹ

rất cần thiết trong việc phát hiện bệnh ở trẻ,

cũng như việc theo dõi và chăm sóc ban đầu là

hết sức quan trọng

Thái độ của các bà mẹ về các dấu hiệu nguy

hiểm toàn thân

Các dấu hiệu bệnh nặng theo IMCI với thái

độ đúng của các bà mẹ hoặc người thân trong

gia đình rất quan trọng trong việc xử lý tại nhà

cũng như đem trẻ đến sớm các cơ sở y tế Kết

quả nghiên cứu cho thấy thái độ đúng của bà

mẹ đạt tương đối như: trẻ ói tất cả mọi thứ

52,5%; trẻ không thể uống hoặc bú được 58,3%

và trẻ li bì khó đánh thức 56,2% Khi trẻ trẻ có

dấu hiệu nguy hiểm toàn thân, thái độ đúng của

cha mẹ là yếu tố rất quan trọng trong quá trình

điều trị cho trẻ cũng như chăm sóc trẻ khi bị bệnh

Hành vi của các bà mẹ về các dấu hiệu nguy hiểm toàn thân

Hành vi đúng của các bà mẹ: về trẻ ói tất cả mọi thứ 66,3%; trẻ không thể uống hoặc bú được 74,1%; trẻ li bì hay khó đánh thức 78,9%, nhưng hiện nay một số các bậc cha mẹ rất chủ quan cho

là bệnh đơn giản, trẻ bệnh tự đi mua thuốc cho trẻ uống đến khi trẻ nặng đem đến bệnh viện thường quá trễ có khi bệnh nhân đã tử vong Điều cần thiết nhất là mỗi phụ huynh nên trang

bị những kiến thức cơ bản về bệnh để từ đó có cách chăm sóc và điều trị đúng hướng

KẾT LUẬN Kiến thức đúng của các bà mẹ

Trẻ ói tất cả mọi thứ 24,1%; Trẻ không thể uống hoặc bú được 34%; Trẻ co giật 71,8%; Trẻ li

bì hay khó đánh thức 34,8%

Thái độ đúng của các bà mẹ

Trẻ ói tất cả mọi thứ 52,5%; Trẻ không thể uống hoặc bú được 58,3%; Trẻ co giật 80,4%; Trẻ

li bì hay khó đánh thức 56,2%

Hành vi đúng của các bà mẹ

Trẻ ói tất cả mọi thứ 66,3%; Trẻ không thể uống hoặc bú được 74,1%;

Trẻ co giật 98,5%; Trẻ li bì hay khó đánh

thức 78,9%

KIẾN NGHỊ Đối với cộng đồng

Cần có sự phối hợp giửa ngành Y tế với các ngành khác nhất là 2 ngành Giáo dục và Văn hoá trong việc truyền bá kiến thức y tế

Cần có sự hổ trợ của các tổ chức đoàn thể (Đoàn Thanh Niên, Hội Phụ nữ, Hội Nông dân…) và các phương tiện thông tin đại chúng như báo chí, phát thanh truyền hình… vì đây là các phương tiện đóng vai trò quan trọng trong việc phổ biến kiến thức y tế cho cộng đồng Đưa các chương trình y tế cơ bản, chăm sóc

Trang 6

sức khoẻ ban đầu vào các nơi như nhà trẻ,

trường mẫu giáo, trường tiểu học

Ngành Y tế kết hợp với tổ chức Công đoàn

đẩy mạnh tuyên truyền giáo dục công tác chăm

sóc sức khoẻ ban đầu đến tận các nhà máy, xí

nghiệp nơi có các công nhân trong độ tuổi sinh

sản đang làm việc

Thành lập đường dây nóng về kiến thức y tế

cơ bản và chăm sóc sức khỏe ban đầu đồng thời

dùng nhiều phương tiện, nhiều biện pháp để

phổ biến càng rộng rãi càng tốt số điện thoại của

đường dây này tới cộng đồng

Đối với mạng lưới y tế:

Ngành Y tế cần thường xuyên có các chương

trình tuyên truyền giáo dục y tế cộng đồng trên

các phương tiện thông tin đại chúng (báo, đài

phát thanh truyền hình, mạng truyền thanh

phường xã…) bằng các phóng sự, hình ảnh, các

bài viết; bằng các bài nói, các buổi toạ đàm, các

buổi giải đáp thắc mắc của cán bộ y tế về các

chương trình hướng dẫn cách chăm sóc trẻ như:

cách cặp nhiệt độ cho trẻ và cách xử lý tại nhà

khi trẻ sốt cao, cách cho uống bù nước khi trẻ bị

tiêu chảy…

Thông qua các buổi họp hội đồng người

bệnh, thông qua những lần BS tư vấn trực tiếp

về kiến thức y tế cho các bà mẹ lúc trẻ đang nằm

viện hoặc lúc đang khám bệnh cho trẻ

Thông qua các tranh cổ động, bảng hướng dẫn, bài viết…được treo tại các khoa phòng, khu khám bệnh…., thông qua các phim tài liệu hướng dẫn chăm sóc trẻ được chiếu tại khu khám bệnh và các khoa phòng

Thông qua những bài viết nhỏ dễ hiểu dễ nhớ về cách phát hiện bệnh và cách chăm sóc khi trẻ bệnh được in trong sổ khám bệnh của bệnh nhân

Đây cũng là một kênh tuyên truyền giáo dục về kiến thức y tế rất hiệu quả bởi vì sau khi xuất viện, chính các bà mẹ sẽ là những tuyên truyền viên tích cực trong việc phổ biến những kiến thức tiếp thu được từ các y bác sỹ, các cán bộ y tế

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Bộ Y Tế Việt Nam – WHO – UNICEF (2003), “Tài liệu hướng dẫn xử trí lồng ghép các bệnh thường gặp ở trẻ em” năm 2003

2 Bộ Y tế, “XỬ TRÍ LỒNG GHÉP các bệnh thường gặp ở trẻ em ” (2003), Nhà xuất bản Y học - Nhi khoa IV “Chăm sóc sức khoẻ ban đầu”, tr 99 -105

3 Bùi Bỉnh Bảo Sơn (2009), “ Đánh giá kiến thức, thái độ, hành vi đối với bệnh co giật ” Y Học Việt Nam số 02 năm 2009, tr 157-166

4 Hồ Viết Hiếu (2009) “Sự hiểu biết của các bà mẹ về 4 dấu hiệu bệnh năng theo IMCI tại xã Hương Hồ “ Y Học Việt Nam số 02 năm 2009,

tr 211- 220

5 Lê Minh Khôi (2008) “Khi chăm sóc trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ, bạn cần biết một số dấu hiệu bệnh nặng, ngay lúc này việc cần làm là đưa đến bệnh viện”, Đại học Đà Nẵng 19/12/2008 (Internet)

6 Nguyễn Thị Hương, Đặng Thị Hồng Khánh (2010) “ Đánh giá kiến thức, thái độ chăm sóc bệnh nhân co giật do sốt cao của thân nhân” Khoa cấp cứu và Khoa Thần kinh Bệnh viện Nhi Trung Ương, Hội nghi khoa học Điều dưỡng Nhi toàn quốc lần VI, tháng 3 năm 2010, tr.162-166

Ngày đăng: 22/01/2020, 08:56

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w