1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng và gây mê hồi sức trong phẫu thuật cấp cứu chấn thương sọ não

4 147 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 4
Dung lượng 751,39 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mục tiêu nghiên cứu của đề tài này nhằm đánh giá hiệu quả điều trị chấn thương sọ não, từ đó xây dựng qui trình điều trị và gây mê hồi sức trong phẫu thuật cấp cứu bệnh nhân chấn thương sọ não. Mời các bạn cùng tham khảo bài viết để nắm rõ nội dung chi tiết của đề tài nghiên cứu này.

Trang 1

167

NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG VÀ GÂY MÊ HỒI SỨC

TRONG PHẪU THUẬT CẤP CỨU CHẤN THƯƠNG SỌ NÃO

Nguyễn Văn Chừng*, Nguyễn Ngọc Anh**, Phạm Văn Hiếu***

TÓM TẮT

Mục tiêu nghiên cứu: Đánh giá hiệu quả điều trị chấn thương sọ não, từ đó xây dựng qui trình điều trị và gây mê hồi

sức trong phẫu thuật cấp cứu bệnh nhân chấn thương sọ não

Phương pháp: Tiền cứu, mô tả, cắt ngang

Kết quả: Nghiên cứu 275 BN được phẫu thuật cấp cứu chấn thương sọ não ở bệnh viện Nhân Dân 115 TP Hồ Chí

Minh từ tháng 7 năm 2005 đến tháng 3 năm 2006

thương Nguyên nhân thường gặp nhất là tai nạn giao thông: 82,18%, tuổi trung bình: 33,32 ±13,01 (từ 7 đến 74), tỉ lệ nam/nữ = 6/1, chấn thương sọ não nặng: 33,82%, có đặt nội khí quản cấp cứu: 77,41%, truyền dịch trước mổ: 98,81%, phẫu thuật trong “thời gian vàng”: 49,82%, thở máy sau mổ ≥ 12giờ: 63,64%, dùng Midazolam và Fentanyl để an thần và giảm đau cho bệnh nhân thở máy: 54,55%, kết quả bất thường với khí máu động mạch lần đầu là 25,81%, với ion đồ là 25,09%, với áp lực tĩnh mạch trung tâm là 83,16% và tỉ lệ tử vong là 9,45%

Kết luận: Bệnh nhân chấn thương sọ não cần được cấp cứu kịp thời, ổn định hô hấp, tuần hoàn, tránh những tổn

thương não thứ phát, gây mê hồi sức thích hợp, chủ động thở máy sau mổ, cân bằng dịch, điện giải, kiềm - toan … để giảm

tỉ lệ tử vong và hạn chế di chứng

ABSTRACT

EVALUATION CLINICAL OF FEATURES AND ANESTHESIA IN ACUTE HEAD INJURY OPERATION

Nguyen Van Chung, Nguyen Ngoc Anh, Pham Van Hieu

* Y Hoc TP Ho Chi Minh * Vol 12 - No 3 – 2008: 166 - 171

Objectives: Assessment the effects of treatment of head injury to establish a protocol for treatment and anesthesia in

emergency neurosurgical head injury patients

Method: Prospective, descriptive, cross-sectional study

Results: This prospective, cross-sectional study of 275 patients of emergency neurosurgical head injury at People 115

Hospital in HCM city, from July 2005 to March 2006 All of them were postoperatively confirmed as acute intracranial hematoma effect in head injury The most common cause of head injury is traffic accident 82.818%, the mean age is 33,32±13,01 (range 7 to 74), male/female=6/1, severe head injury: 33.82% with emergency endotracheal intubation: 77.41%, 98.18% were infused at preoperation period, operation in “Golden time”: 49.82%, used ventilation post operative more than 12 hours: 63.64%, Midazolam plus Fentanyl as sedation and analgesia for assisted ventilation patients: 54.55%, 25,81% abnormal first blood gas result, 25,09% ionogram abnormal, 83.16% CVP abnormal and mortality rate: 9.45%

Conclusions: Patient with brain injury must be immediately manage for stable blood circulation and respiration,

prevent secondary lesions, suitable anesthesia and resuscitation, artificial ventilation at post operation period, balance of homeostasis, electrolytes and alkaloid - acid,… to reduce the morbidity and mortality rate as well as the sequelae

ĐẶT VẤN ĐỀ

Theo thống kê của Bộ Y Tế Việt Nam, tai nạn giao

thông (TNGT) đang xếp hàng thứ chín gây ra tử vong

trong dân số cả nước, đa số do chấn thương sọ não

(CTSN) Thống kê của Ủy ban an toàn giao thông

trong những năm gần đây tử vong do TNGT mỗi năm

12.000-14.000 người, trong đó 65-70% là CTSN Tại

bệnh viện BV Chợ Rẫy, năm 1995 có 23.737 trường

hợp nhập viện do tai nạn giao thông (TNGT), 91,42%

là chấn thương sọ não Tỉ lệ tử vong của BN chấn

thương sọ não rất cao ở khoa hồi sức tích cực

Hiểu biết về bệnh học của CTSN, sinh lý bệnh của tăng áp lực nội sọ (ALNS) để đưa ra phương pháp điều trị tốt nhất đối vớ nh nhân CTSN nặng vẫn còn là một thách thức đối với các bác sĩ (BS) gây mê hồi sức (GMHS) và phẫu thuật viên (PTV) thần kinh từ nhiều năm nay Phát hiện và giải quyết sớm các nguyên nhân

n thương thứ phát là một yêu cầu cấp thiết trong GMHS PT cấp cứu CTSN Để giải quyết được các nguyên nhân này cần có một qui trình cấp cứu hồi

sứ nh nhân ngay sau khi xảy ra chấn thương (CT) cũng như trước mổ, trong mổ và sau mổ Chiến lược

* Đại Học Y Dược TP Hồ Chí Minh ** Bệnh viện Nhân Dân 115

*** Bệnh viện Nguyễn Đình Chiểu, Bến Tre

Trang 2

hạ thấp tỉ lệ tử vong và di chứng của CTSN là sự thúc

đẩy xây dựng mạng lưới điều trị CTSN ở các địa

phương sao cho thích hợp

Đối vớ nh nhân CTSN nặng đưa đến phù não tăng

ALNS diễn biến phức tạp, tử vong cao Trong hoàn cảnh

chưa có phương tiện đo ALNS, Doppler xuyên sọ, đo độ

bão hòa oxy tĩnh mạch trộn (SvO2), thực hiện đặt nội khí

quản (NKQ) hồi sức trước mổ, chống phù não với

Mannitol (M), ổn định hô hấp, tuần hoàn, cân bằng dịch,

điện giải, kiềm-toan trước, trong và sau mổ, thở máy sau

mổ đã đem lại hiệu quả nhất định tại BV Nhân Dân 115

TP Hồ Chí Minh Công tác điều trị này phù hợp với điều

kiện ở nước ta trong giai đoạn hiện nay

Từ năm 2000, tạ n đa khoa tỉnh Bến Tre

đã triển khai PT cấp cứu CTSN Tiến hành nghiên cứu

này chúng tôi muốn góp phần để phục vụ nh

nhân CTSN tốt hơn trong tương lai

PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Bệnh nhân

275 trường hợp CTSN có máu tụ cấp tính được

điều trị tại BV Nhân Dân 115 TP Hồ Chí Minh từ

tháng 7/2005 đến tháng 3/2006 Tất cả đều có chẩn

đoán trước mổ bằng CT scan là có máu tụ trong hộp sọ

và thương tổn phù hợp khi mổ Máu tụ mãn tính và

máu tụ không do CT không nằm trong nghiên cứu này

Phương pháp

Tiền cứu, mô tả, cắt ngang

Dữ kiện nghiên cứu

sử CT Đánh giá lâm sàng, thang điểm hôn mê

Glasgow, tình trạng hô hấp, tuần hoàn, tổn thương não

dựa trên CT scan, từ đó phân loại CTSN Xử trí trước

mổ như đặt NKQ thở máy, truyền dịch trước mổ,

chống phù não, GM phối hợp cân bằng trong mổ và

hồi sức sau mổ như an thần giảm đau, thở máy sau mổ,

cân bằng dịch, điện giải, kiềm toan, đánh giá kết quả

điều trị

Xử lý số liệu bằng phần mềm EpiData và Stata8

2003

KẾT QUẢ

Qua 275 trường hợp được phẫu thuật chúng tôi

nhận thấy:

Tuổi trung bình 33,3±13,1; nhỏ nhất 7 tuổi, lớn

nhất 74

Nam/nữ = 6/1, tai nạn giao thông 82,18%, mổ

trước 4 giờ kể từ khi nhập viện 49,82%

nh nhân

nh nhân hôn mê khi nhập viện

12% có huyết áp tâm thu (HATT) <90mmHg khi

vào việ nh nhân phù não chẩn đoán dựa

CT scan

Phân loại CTSN

Loại CTSN Tần suất Tỉ lệ

Truyền dịch trước mổs

Dịch truyền Tần suất Tỉ lệ

Đặt NKQ cấp cứu, giúp thở trước mổ 77,41% cho CTSN nặng

Tỉ lệ chung của đặt NKQ cấp cứu

Có đặt NKQ Không đặt NKQ

Thuốc dẫn mê

Có 18 trường hợp sử dụng thuốc co mạch để nâng Huyết áp, phẫu thuật trước 4 giờ kể từ khi nhập viện có 49,82%

Thuốc dãn cơ duy trì

Thuốc Pancuronium Vecuronium Rocuronium

Thuốc duy trì mê

Thuốc Tần suất Tỉ lệ (%)

Thuốc dãn cơ đặt NKQ

Thuốc Tần suất Tỉ lệ (%)

Truyền Mannitol 20% chiếm tỉ lệ 19,64%

Mannitol (ml) Tần suất Tỉ lệ

nh nhân sử dụng Fentanyl trong mổ, liều trung bình: 218,00 ± 70,92 mcg

Truyền dung dịch HaeSteril 6% chiếm 56%

Truyền máu chiếm tỉ lệ 32,73%

Mannitol truyền trước mổ 74,07%, trong mổ 12,96%, sau mổ 12,97%

Thở máy sau mổ ≥ 12giờ chiếm tỉ lệ 63,64% được phân bố theo biểu đồ sau

Trang 3

< 12giờ 12 - 100giờ > 100giờ

An thần và giảm đau trong thở máy

Kết quả khí máu động mạch

Khí máu Tần suất Tỉ lệ

Kết quả ion đồ

Ion đồ Tần suất Tỉ lệ

Kết quả áp lực tĩnh mạch trung tâm (CVP)

CVP (cmH 2 O) Tần suất Tỉ lệ

Tương quan loại CTSN với đặt NKQ

Loại CTSN Đặt NKQ cấp cứu

Có Không

P= 0,0001

Kết quả điều trị

Chấn thương sọ não nặng thì sử dụng Mannitol nhiều

hơn, thuốc co mạch nhiều hơn, mất cân bằng dịch, điện

giải, kiềm toan nhiều hơn, thở máy sau mổ nhiều hơn, tử

vong nhiều hơn với p<0,05 Tuy nhiên thời gian thở máy

không tương quan với tỉ lệ tử vong (p>0,05)

BÀN LUẬN

Chấn Thương Sọ Não hay gặp ở độ tuổi lao động,

nam nhiều hơn nữ 6 lần, đa phần là do TNGT (82,18%), (Nguyễn Hữu Hữu 79%(9), Nguyễn Văn Nhiều 93%(11), ở Australia 31%) CTSN thường đi kèm với đa chấn thương, đặc biệt là chấn thương cột sống cổ, sốc chấn thương, sốc mất máu, mất dịch, rối loạn hô hấp tuần hoàn, đây là những yếu tố sẽ gây ra tổn thương thứ phát làm nặng hơn tổn thương ở não

Chúng tôi đánh giá và phân loại bệnh nhân (BN) ngay khi nhập viện để có kế hoạch điều trị đúng đắn trước, trong và sau mổ Có 33,82% nh nhân chấn thương sọ não (CTSN) nặng, hôn mê khi nhập viện cần phải đặt nội khí quản (NKQ) cấp cứu và thở máy tại khoa cấp cứu (77,41%), khi chụp CT scan cho đến lúc chuyển đến phòng mổ, (80-90% CTSN nặng có phù não, bệnh nhân uống rượu thì nguy cơ càng cao)(0) nh nhân hạ HA trước, trong hoặc sau mổ, trong đó có 6,53% phải dùng thuốc vận mạch để nâng HA Dùng thuốc vận mạch làm co mạch gây thiếu máu não, nhưng theo sinh lý bệnh học của phù não và tăng ALNS thì hạ HA sẽ có nguy cơ phù não nặng hơn Những trường hợp truyền NaCl 0,9%, cao phân tử, truyền máu mà vẫn không nâng được HA chúng tôi quyết định dùng thuốc vận mạch (18 BN)

Những trường hợp nh nhân có phù não, CTSN nặng chúng tôi quyết định tăng thông khí, có thể điều chỉnh áp lực dương cuối kỳ thở ra (PEEP) đến = 10 cmH2O nhưng không kéo dài và tiến hành phẫu thuật (PT) giả do khi PEEP cao sẽ hạn chế tuần hoàn Mặt khác tăng thông khí làm giảm PaCO2 và tăng PaO2 gây ra co mạch và thiếu máu não Thông khí hỗ trợ cho

nh nhân chấn thương sọ não (CTSN) đòi hỏi phải có kinh nghiệm, linh hoạt và khéo léo cũng như cần các phương tiện hổ trợ như định lượng khí máu động mạch, ion đồ,… Chúng tôi thường duy trì áp lực đường thở trung bình 15,35±1,57 cmH2O PaO2 trung bình 97 mmHg, PaCO2 trung bình 19 mmHg Sinh lý bình thường của PaO2 là 75-100 mmHg, PaCO2 là 35-45 mmHg Kết quả này cho thấy các nh nhân của chúng tôi đang trong giai đoạn tăng thông khí, vì đây là kết quả xét nghiệm khí máu lần đầu, chúng tôi có điều chỉnh thích hợp sau đó Vấn đề này cho thấy vai trò của khí máu động mạch là rất quan trọng

Trong thở máy chúng tôi luôn luôn phải dùng thuốc

an thần phối hợp thuốc giảm đau, có 77,14% nh nhân phối hợp Midazolam và Fentanyl(3) Nhiều trường hợp phải dùng cả thuốc dãn cơ để nh nhân không kháng máy thở, tránh phù não

Chúng tôi thận trọng dùng Mannitol chống phù não (19,64%), liều trung bình 0,25-0,5 g/kg Dùng nhiều trước mổ (74,07%) khi có dấu hiệu tăng ALNS, HA ổn định, trong mổ ít dùng (12,96%) vì có nguy cơ làm hạ

HA, giảm áp lực tưới máu não gây phù não, dùng khối lượng lớn và kéo dài sẽ làm mất nước tăng ALNS trở lại

do hiện tượng phản ngược của Mannitol

9,45%

26

90,55%

249

Ra viện

Tử vong

Trang 4

Có nh nhân được dẫn mê bằng Thiopental

là thuốc dẫn mê nhanh, có 97,54% nh nhân dùng dãn

cơ Suxamethonium để đặt NKQ nhanh để tránh trào

ngược, có 87,96% nh nhân dùng dãn cơ duy trì là

Vecuronium, duy trì mê với Isofluran: 98,18% là thuốc

mê hô hấp thích hợp cho gây mê mổ sọ não hiện nay Có

100% nh nhân sử dụng Fentanyl trong mổ, liều trung

bình 218±70 mcg Đây là phương pháp “gây mê phối

hợp cân bằng” thích hợp trong mổ cấp cứu CTSN Ở

khoa cấp cứu đặt NKQ với Vecuronium (100%), vì

không khắc phục được các nhược điểm của

Suxamethonium như ở phòng mổ

Phẫu thuật trong “thời gian vàng” là triển khai mổ

trước 4 giờ sau khi bị chấn thương (CT) Trong nghiên

cứu này chúng tôi không thống kê được thời gian từ lúc

CT đến lúc nhập viện, 49,82% nh nhân được mổ trước

4 giờ kể từ khi nhập viện Vấn đề đặt ra cho chúng ta là

làm thế nào triển khai được quy trình hồi sức, cấp cứu,

vận chuyể nh nhân CTSN ở tuyến trước, để tránh

được các yếu tố tổn thương não thứ phát, không mất

“Thời gian vàng” từ đó có thể hạ thấp được tỉ lệ tử vong

và di chứng

Tỉ lệ truyền máu trong nhóm nh nhân nghiên cứu

là 32,73%, truyền dịch cao phân tử 56% Tỉ lệ truyền

máu không cao, ở một số n khác truyền máu

chiếm tỉ lệ gần 100% Chúng tôi thực hiện truyền máu

khi Hemoglobine < 90g/L

(thời gian thở máy trung bình 136,50±95,82 giờ) Điều

chỉnh các thông số thở thích hợp dựa trên lâm sàng và

cận lâm sàng là một biện pháp chống phù não tích cực

Kết quả thống kê chứng minh thở máy không tương

quan với tỉ lệ tử vong

Các kết quả khác như ion đồ 25,09% bất thường

(Nguyễn Văn Nhiều ở BV Chợ Rẫy 22,58%(11)), CVP

16,84% trong giới hạn bình thường, khí máu động mạch

25,81% bất thường Như vậy ở nh nhân CTSN có sự

mất cân bằng dịch, điện giải, kiềm - toan rất nhiều, cần

phải điều chỉnh, đây là các yếu tố gây ra tổn thương não

thứ phát cũng như rối loạn hô hấp tuần hoàn có thể ngăn

ngừa được CVP ở nh nhân CTSN được giới hạn từ

6-8 cmH2O, CVP cao dễ dẫn đến phù não

Tỉ lệ tử vong trong nghiên cứu của chúng tôi là

9,45% cho các loại máu tụ cấp tính là thấp, so với bệnh

viện Bến Tre 11,31% cho máu tụ ngoài màng cứng,

32,5% ở BV Chợ Rẫy cho máu tụ trong não đối bên sau

mổ

Nghiên cứu cho thấy có sự tương quan giữa loại

CTSN và đặt NKQ trước mổ, cũng như CTSN nặng thì

sử dụng Mannitol, thuốc co mạch nhiều hơn, mất cân

bằng dịch, điện giải, kiềm - toan nhiều hơn từ đó tử vong

nhiều hơn

KẾT LUẬN

Chấn thương sọ não (CTSN) do tai nạn giao thông

(82,18%) đang là mối quan tâm cho toàn xã hội nước ta

hiện nay, làm thiệt hại rất lớn cho sức khỏe con người và

nền kinh tế quốc gia (tuổi trung bình 33,3 ± 13,1), (tử vong 9,45% chưa cao nhưng còn có khả năng hạ thấp tỉ

lệ này hơn)

nặng được đặt NKQ cấp cứu 77,41%, hồi sức tuần hoàn, truyền dị

(ion đồ bất thường 29,09%, khí máu động mạch bất thường 25,81%, CVP bất thường 83,16%), Thở máy sau mổ nhằm chống phù não tích cực (54,55%), dùng an thần giảm đau trong thở máy (77,14%)

Vấn đề đặt ra cho các cơ sở điều trị là năng lực thầy thuốc và trang thiết bị phục v

như máy thở nhiều chức năng, máy thở di động, máy đo khí máu động mạch, thuốc Gây mê Hồi sức (GMHS) Mặt khác cần triển khai qui trình cấp cứu và điều trị cho tuyến trước không có phẫu thuật là rất cần thiết để công tác điều trị ở tuyến sau thành công hơn

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Aitkenhead AR (2002), Neurosurgical Anesthesia, Textbook of

Anesthesia 4 th edition, Churchill Livingstone in New York, pp

688-698

2 Artru AA (1994), Influence of Anesthetic Agents and Techniques on

Intracranial Hemodynamics and Cerebral Metabolism, Anesthetic

Management of Acute Head Injury, McGraw-Hill, Inc Health Profession Divison, pp 134-179

3 Bùi Văn Tuấn (2005), Xử trí kháng máy thở bằng thuốc an thần -

giảm đau - dãn cơ trong chấn thương sọ no nặng, luận văn thạc sĩ y

học, Đại Học Y Dược TP Hồ Chí Minh

4 Drummond JC, Patel PM (2000), Ronald D Miller, Neurosurgical

Anesthesia, ANESTHESIA, 5th edition, Churchill Livingstone, pp

1895-1933

5 Greenberg MS (1994), Head Trauma, Handbooks Neurosurgery 3rd

edition department of Neurosurgery Watson Clinic, Lakeland, Florida, pp 521-569

6 Larson CP (2002), Neurophysiology and Anesthesia, Clinical

Anesthesiology for Neurosurgery, 3rd edition, Large Medical Books/MC Craw – Hill Publising Division, pp 522 – 566

7 Lê Hồng Hà, Nguyễn Huỳnh Điệp (2002), Sử dụng máy thở trong

Chấn thương sọ não, những vấn đề thiết yếu trong thông khí cơ học,

NXB Đà Nẵng, tr 139-144

8 Levitt JD (1996), Increased Intracranial Pressure, Complications in

Anesthesiology 2nd edition, Lippincott Raven publishers in Philadelphia- New York, pp 391- 410

9 Nguyễn Hữu Hữu (2002), Đánh giá kết quả phẫu thuật máu tụ ngoài

màng cứng tại BV.Nguyễn Đình Chiểu Bến Tre 8/2000-8/2002, Hội

nghị khoa học lần thứ 9 sở y tế Bến Tre, tr 93-99

10 Nguyễn Văn Chừng (2004), Tăng áp lực nội sọ, phẫu thuật mở sọ,

Hướng dẫn lâm sàng GMHS, Bộ môn Gây mê Hồi sức, Đại Học Y Dược TP.Hồ Chí Minh, tr 71-73, tr 203-206

11 Nguyễn Văn Nhiều (2002), Vài nhận xét về hạ Natri máu trong chấn

thương sọ não nặng, luận văn thạc sĩ y học, Đại Học Y Dược TP Hồ

Chí Minh

12 Rosner MJ, Briant, Andrews, (1993), Pathophysiology and Management of Intracranial Pressure; the Intensive Care Management of Patients with Head Injury, Neurosurgical Intensive Care, San Francisco General Hospital, pp 57-112; pp 227-242

13 Trần Quốc Đạt (2005), Nghiên cứu lâm sàng, hình ảnh họ điều trị máu tụ trong sọ đối bên sau mổ lấy máu tụ cấp tính do chấn thương, luận văn Thạc sĩ Y học, Đại Học Y Dược TP.Hồ Chí Minh

Trương Văn Việt, Dương Minh Mẫn, Huỳnh Hồng Châu, Trần Ngọc Phúc, Võ Tấn Sơn, Trần Quang Vinh (2002), Cấp cứu chấn thương thần kinh, chuyên đề ngoại thần kinh, NXB Y học TP Hồ Chí Minh, tr 13-220

Ngày đăng: 22/01/2020, 08:40

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w