Đề tài này được tiến hành nhằm xác định hiệu quả của kỹ thuật tạo ngõ vào đường mật xử lý sỏi đường mật trong gan tồn lưu và tái phát. Nghiên cứu bắt đâu thực hiện từ 01/2008 đến 06/2011 trên 37 trường hợp, mổ mở 28 trường hợp, mổ nội soi 9 trường hợp.
Trang 1NGHIÊN CỨU HIỆU QUẢ KỸ THUẬT MỞ THÔNG ỐNG MẬT CHỦ BẰNG TÚI MẬT ĐIỀU TRỊ SỎI ĐƯỜNG MẬT TRONG GAN
Võ Văn Hùng, Lê Quang Nghĩa, Nguyễn Cao Cương, Võ Thiện Lai *
TÓM TẮT
Đặt vấn đề: Sỏi đường mật là bệnh lý phổ biến, tỉ lệ sỏi sót và tái phát cao, điều trị sỏi tái phát còn khó khăn, phức tạp
Mục tiêu: Xác định hiệu quả của kỹ thuật tạo ngõ vào đường mật xử lý sỏi đường mật trong gan tồn lưu và
tái phát
Phương pháp: Nghiên cứu tiền cứu, mô tả Kỹ thuật: Sử dụng túi mật làm ngõ vào đường mật bằng cách
nối phễu túi mật và ống mật chủ
Kết quả: Trong thời gian từ 01/2008 đến 06/2011 thực hiện được 37 trường hợp, mổ mở 28 trường hợp,
mổ nội soi 9 trường hợp Tuổi trung bình 47,7, 25 nữ, 12 nam Đa số bệnh nhân bị nhiều sỏi trong gan, sỏi tái phát, có hẹp đường mật trong gan kèm theo Kỹ thuật mổ dễ thực hiện, 6 trường hợp cắt thùy T gan kèm theo Không có biến chứng phẫu thuật nặng Chúng tôi đã nội soi và lấy sỏi tồn lưu qua đường hầm OMC-túi mật-da
28 trường hợp, tỉ lệ hết sỏi 87,71%, số lần tán sỏi trung bình 2,43 lần (1-6 lần) Chức năng túi mật vẫn được bảo tồn, khảo sát qua siêu âm kích thước túi mật nhỏ lại sau khi ăn Có 4 trường hợp tái phát được mở lại ngõ vào này và nội soi lấy sỏi thành công
Kết luận: Đây là kỹ thuật an toàn và hiệu quả trong điều trị sỏi trong gan tồn lưu và dự phòng điều trị sỏi
tái phát, có thể thực hiện bằng phẫu thuật mở và nội soi
Từ khóa: Sỏi trong gan
ABSTRACT
RESULTS OF THE TECHNIQUE OF CHOLEDOCHOSTOMY THROUGH GALLBLADER IN
MANAGEMENT OF HEPATOLITHIASIS
Vo Van Hung, Le Quang Nghia, Nguyen Cao Cuong, Vo Thien Lai
* Y Hoc TP Ho Chi Minh * Vol 16 - Supplement of No 1 - 2012: 32 - 39
Background: Hepatolithiasis is common in East Asia, the management of residual and recurrent stones is
difficult and complex The various approaches used for the management of intrahepatolithiasis only can remove stones ( not useful in some recurrent cases)
Aims: The goal of this study is to make a long-term assessment for managing of residual and recurrent
hepatolithiasis
Methods: Prospective descriptve study In this technique we perform choledochostomy through gallblader by
anastomosing funnel of gall bladder and common bile duct
Results: Between January 2008 and June 2011, 37 patients underwent this technique (28 open surgery, 9
laparoscopic surgery) The mean age was 47.7; 25 females, 12 males Patients had a lot of hepatic stones, recurrent stones, bile duct strictures This technique is feasible There are 6 cases with hepatectomy simultaneously, no
Khoa Ngoại tổng quát Bệnh viện Bình Dân
Tác giả liên lạc: BS Võ Văn Hùng ĐT: 0903851378 E-mail:
vovanhungbvbd@yahoo.com.vn
Trang 2severe complication Following operations, stones removal and stricture dilatation were performed on 28 patients; complete stone clearance: 87.71%; median occasions 2.43 times (1-6) The function of gallblader was preserved There were 4 cases with recurrent hepatolithiasis after 6-36 months, and we reopened this access to successfully remove stones
Conclusion: The technique of choledochostomy through gallblader is safe, effective in treatment of
hepatolithiasis
Keywords: Hepatolithiasis, cholecystocholedochostomy, cholangioscopic
ĐẶT VẤN ĐỀ
Sỏi trong gan gặp nhiều tại vùng Đông Nam
Á và được xem là một bệnh khó điều trị khỏi
Tần xuất bệnh còn cao ở Trung Quốc và Đài
Loan khoảng 20%-50%(3,20,28), tại Hàn Quốc là
15%(15) Tuy nhiên, tần xuất sỏi gan tại Nhật Bản
đã giảm so với các thống kê trước đó chỉ còn
2,2%(28).Tại Đài Loan, sỏi trong gan được gọi là
bệnh “viêm gan đường mật phương Đông” hay
“viêm đường mật sinh mủ”(10) Hẹp đường mật
trong gan thường kết hợp với sỏi trong gan, tỉ lệ
hẹp đường mật trong gan trên bệnh nhân sỏi
đường mật trong gan còn khá cao tại các nước
vùng Đông Á đăc biệt là tại Đài Loan, tỉ lệ này
trong nhiều báo cáo tại châu Á thay đổi từ 46,7%
đến 85%(7,24,4,5,13,14,12,16,18) Đây là một trong những
nguyên nhân chính làm tăng tỉ lệ sỏi tồn lưu và
tái phát, làm cho bệnh sỏi trong gan khó điều trị
và cần phải can thiệp nhiều lần Tỉ lệ điều trị
thất bại có thể cao đến 77%(25) Tỉ lệ tái phát của
sỏi đường mật rất cao sau nhiều năm, đặc biệt là
sỏi trong gan, từ 40,0-63,3%(10,11) Chính vì vậy,
nhiều công trình nghiên cứu áp dụng những kỹ
thuật nhằm tạo một ngõ vào đường mật để xử lý
sỏi mật tái phát mà không cần phải mở bụng lại
Tại Việt Nam, một số bệnh viện đã áp dụng
các kỹ thuật tạo đường hầm mật-ruột-da để xử
lý sỏi tái phát như: nối ống gan-hỗng tràng với
đầu quai hỗng tràng Roux-en-Y đặt dưới da, mở
thông ống mật chủ ra da bằng một đoạn hỗng
tràng biệt lập… Các phương pháp khâu nối ruột
đều có một số biến chứng như: xì dò miệng nối,
thoát vị nội, hẹp miệng nối… Một số phương
pháp buộc phải cắt bỏ túi mật hoàn toàn bình
thường và làm mất chức năng tự nhiên của cơ
vòng Oddi Lãi sẽ dễ dàng lên đường mật gây ứ
đọng và nhiễm khuẩn, góp phần tạo sỏi tái phát
Từ năm 1994 đến nay, tại Trung Quốc có trên 20 bệnh viện đã thực hiện kỹ thuật mới nối túi mật-ống mật chủ tạo đường hầm OMC-túi mật-da để điều trị sỏi đường mật sót và tái phát rất an toàn và hiệu quả Tang L.J thực hiện 21 trường hợp từ 1996-2001, Li X thực hiện 46 trường hợp từ 1994-2003, Tian F.Z thực hiện 190 trường hợp với kết quả rất tốt(22,19,26,27) Qua đường hầm này, có thể xử lý được sỏi sót, sỏi tái phát và chụp hình đường mật Chúng tôi ứng dụng kỹ thuật trên với hy vọng góp thêm một giải pháp điều trị sỏi đường mật ở nước ta Mục tiêu: xác định hiệu quả của kỹ thuật mở thông ống mật chủ bằng túi mật trong điều trị sỏi trong gan tồn lưu và tái phát
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU Tiêu chuẩn chọn bệnh
Bệnh nhân nhập viện vì bệnh sỏi đường mật được điều trị bằng phẫu thuật có các tiêu chuẩn sau:
Được chẩn đoán có sỏi trong gan qua siêu
âm, nội soi, X quang
Sỏi trong gan tái phát
Sỏi trong gan mổ lần đầu nhưng có nhiều nguy cơ sỏi sót và tái phát: sỏi quá nhiều đầy nghẹt trong các ống mật, nhiều sỏi vụn bùn mật không lấy hết được, có hẹp đường mật
Túi mật, cơ vòng Oddi bình thường, OMC giãn > 12 mm
Phương pháp nghiên cứu
Tiền cứu mô tả, ứng dụng một phương pháp phẫu thuật mới
Kỹ thuật tạo đường hầm OMC-túi mật-da
Trang 3Ống mật chủ được mở dọc khoảng 2 cm,
gần với phễu túi mật nhất Phễu túi mật được
mở dọc hoặc mở ngang khoảng 2 cm, chọn vị trí
gần ống mật chủ, chú ý bảo tồn động mạch túi
mật và không căng sau khi nối.Ống dẫn lưu
Kehr đặt từ ống mật chủ qua miệng nối xuyên
qua đáy túi mật ra da Đáy túi mật được cố định
vào cơ thành bụng nằm ngay dưới da, di động
tốt để dễ dàng cố định túi mật
Trong trường hợp phẫu thuật nội soi, chúng
tôi sử dụng 4 trocar, sau khi gỡ dính, nội soi
đường mật và lấy sỏi, kỹ thuật nối túi mật và
ống mật chủ tương tự phẫu thuật mở
Hình 1 (nguồn Tang L.J. (26) )
Kỹ thuật nội soi
Sử dụng ống nội soi mềm có đường kính
4,9mm, có kênh dụng cụ 2 mm, đầu ống soi di
chuyển 2 chiều lên xuống Máy tán sỏi điện
thủy lực và các rọ lấy sỏi, ống cao su nong
đường mật
Nội soi đường mật lấy sỏi tồn lưu thường
được thực hiện sau khi mổ 3-4 tuần Sau khi rút
ống dẫn lưu Kehr, ống soi được đưa qua chỗ
dẫn lưu vào túi mật, qua miệng nối OMC-túi
mật, ống soi sẽ vào được đường mật trong và
ngoài gan để chẩn đoán và điều trị sỏi và hẹp
đường mật Đa số trường hợp đều có kết hợp sử
dụng rọ lấy sỏi và tán sỏi điện thủy lực
Trong trường hợp sỏi tái phát sau nhiều
tháng, bệnh nhân được gây tê tại chỗ vào lại chỗ
đáy túi mật đính dưới da Các kỹ thuật nội soi
và lấy sỏi tương tự như điều trị sỏi tồn lưu
KẾT QUẢ Đặc điểm lâm sàng
Trong thời gian từ tháng 01/2008 đến tháng 06/2011 chúng tôi thực hiện 37 TH mở thông OMC bằng túi mật tạo đường hầm ống mật chủ
- túi mật – da điều trị sỏi đường mật trong gan, tuổi trung bình 47,7 (25-82), nam 12 TH,
nữ 25 TH
Đa số bệnh nhân sống tại nông thôn 28 TH (78,4%)
Bảng 1 Nghề nghiệp
Nghề nghiệp Trí óc Nội trợ
Lao động chân tay Nông dân
Tỉ lệ 2,7 18,9 45,9 32,4 Bệnh nhân thường vào viện cấp cứu, bệnh cảnh nhiễm khuẩn đường mật có 22 bệnh nhân chiếm tỉ lệ 59,5%, có 3 trường hợp viêm tụy cấp kèm theo
Bảng 2 Số lần đã phẫu thuật đường mật
Lần 1 Lần 2 Lần 3 Lần 4 Lần 5
Bảng 3 Vị trí sỏi
Vị trí 2 bên Gan T Gan P
Phẫu thuật mở thông OMC bằng túi mật
Phẫu thuật nội soi: 9 TH, có 4 TH tái phát trong đó có 1 trường hợp đã mổ đường mật 2 lần, 4 TH có hẹp đường mật gan trái
Cắt gan thùy T kết hợp: 6TH (16,2%)
Thời gian phẫu thuật
Phẫu thuật mở 106,61 ±28,42 phút (60-150) Phẫu thuật nội soi 172,78±38,09 phút (125-240)
Thời gian nằm viện hậu phẫu trung bình 8,53±1,76 ngày (6-13) Tỉ lệ biến chứng của phẫu thuật: 10,8%(4TH/37 TH) Biến chứng nhỏ như
dò dịch chỗ mở đáy túi mật dưới da, tự lành trong vòng 14 ngày Sau phẫu thuật tất cả bệnh nhân được chụp XQ đường mật, siêu âm kiểm tra sỏi tồn lưu Kết quả chỉ có 5 TH hết sỏi, 32TH còn sỏi tồn lưu trong gan, tỉ lệ sỏi tồn lưu
Trang 486,49% Bệnh nhân được cho xuất viện và tái
khám sau phẫu thuật khoảng 1 tháng
Nội soi đường mật lấy sỏi tồn lưu
Đã có 28 TH nhập viện lại nội soi kiểm tra và
lấy sỏi nếu còn sỏi tồn lưu.Trong khi nội soi qua
đường túi mật chúng tôi nhận thấy:
Niêm mạc túi mật bình thường, không có
hiện tượng viêm hay phù nề
Miệng nối giữa túi mật và OMC rộng, 24 TH
ống nội soi qua dễ dàng Có 4TH ống soi vào
đường mật tương đối khó khăn do miệng nối bị
che phía sau ngách phễu túi mật, nhưng vẫn lấy
được hết sỏi tồn lưu 3TH, còn 1 trường hợp còn
sỏi sau 4 lần nội soi do sỏi trong gan 2 bên số
lượng sỏi nhiều và có hẹp đường mật trong gan
trái kèm theo Ống soi xuống và qua được cơ
vòng Oddi trong đa số trường hợp 24/28TH,
4TH còn lại nhìn thấy cơ vòng Oddi bình
thường nhưng không đưa ống soi xuống tá
tràng được do quá gập góc
Trong 28 trường hợp đã nội soi đường mật
lấy sỏi tồn lưu có 12 trường hợp có hẹp đường
mật trong gan chiếm tỉ lệ 42,9%, bên trái 10TH
(83,3%), bên phải 2TH (16,7%) 28 bệnh nhân
được nội soi và lấy sỏi qua đường hầm OMC-túi
mật-da tổng cộng 68 lần
Bảng 4 Số lần lấy sỏi
Số lần lấy
sỏi 1 lần 2 lần 3 lần 4 lần 5 lần 6 lần
Số lần nội soi trung bình 2,43±1,40 lần
Thời gian nội soi trung bình 65,85±18,86
phút (20-180 phút)
Để kết luận hết sỏi chúng tôi kết hợp 3 kỹ
thuật: nội soi đường mật, chụp XQ đường mật
trong khi lấy sỏi hoặc sau khi lấy sỏi, siêu âm
sau mổ Tỉ lệ sạch sỏi: 87,71%, 4 TH không hết
sỏi đều là các trường hợp sỏi trong gan 2 bên
với số lượng nhiều, trong đó có 2 TH có hẹp
đường mật kèm theo Sau khi kết luận hết sỏi
ống dẫn lưu được rút, chỗ mở dẫn lưu có thể dò
dịch mật vài ngày sau đó tự lành Chúng tôi đã
siêu âm kiểm tra chức năng túi mật sau vài
tháng, bệnh nhân được đo kích thước túi mật
trước và sau khi ăn, chúng tôi nhận thấy kích thước túi mật có co nhỏ sau khi ăn trung bình 7,64 cm2 Tất cả bệnh nhân đều ăn uống bình thường, không có biểu hiện khó tiêu hay rối loạn tiêu hóa
Biến chứng của nội soi đường mật lấy sỏi qua đường hầm OMC-túi mật-da hầu như không có, các biến chứng nhẹ như sốt lạnh run, tiêu chảy vài ngày, chảy máu đường mật nhẹ tự cầm do tán sỏi điện thủy lực
Nội soi đường mật lấy sỏi tái phát
Đã có 4 TH có sỏi trong gan tái phát sau 6,
15, 24, và 36 tháng, bệnh nhân được mở lại đường hầm OMC-túi mật-da để lấy sỏi Thủ thuật lấy sỏi được thực hiện đơn giản với vô cảm là tê tại chỗ và lấy hết sỏi thành công cả 4
TH Trong khi nội soi lấy sỏi chúng tôi nhận thấy miệng nối rất rộng như lần nội soi lấy sỏi tồn lưu, không có bất kỳ dấu hiệu viêm nhiễm
xơ hẹp miệng nối Thao tác lấy sỏi tái phát qua đường hầm OMC-túi mật-da dễ dàng, không có biến chứng
Hình 2 Miệng nối túi mật ống mật chủ
BÀN LUẬN Đặc điểm lâm sàng
Sỏi đường mật nguyên phát là một bệnh phổ biến ở phương Đông Ở Việt Nam, bệnh sỏi
Trang 5đường mật rất thường gặp tại tất cả các bệnh
viện đa khoa và ngoại khoa Tại bệnh viện
Việt-Đức trong 4 năm (1990-1994) có 2090 sỏi đường
mật, trong đó sỏi gan đơn thuần và phối hợp
75%(8) Tại bệnh viện Bình Dân trong 5 năm
(1995-1999) có 2674 trường hợp sỏi đường mật
Bệnh nhân bị sỏi đường mật thường vào
viện vì bệnh cảnh nhiễm khuẩn đường mật với
tam chứng Charcot: đau hạ sườn phải, sốt và
vàng da Đây là một loại bệnh tái diễn, bệnh
nhân có thể bị mổ nhiều lần Số bệnh nhân có
tiền căn phẫu thuật sỏi đường mật chiếm 78,6%,
trong đó 38,7% đã mổ trên 2 lần Hẹp đường
mật thường xuất hiện kèm theo bệnh lý sỏi
trong gan, là một trong những nguyên nhân gây
sỏi tái phát, tỉ lệ 75-91% Trong 28 TH đã nội soi
đường mật lấy sỏi sót có 12 TH có hẹp đường
mật trong gan chiếm tỉ lệ 42,9%, bên gan T 10TH
(83,3%), bên gan P 2TH (16,7%)
Chỉ định
Có nhiều phương pháp điều trị sỏi đường
mật được áp dụng tại Việt Nam như: Nội soi
mật tụy ngược dòng cắt cơ vòng lấy sỏi, cắt
thùy gan, mở chủ mô lấy sỏi, lấy sỏi qua da, qua
đường hầm Kehr, nối mật-ruột kết hợp với các
phương tiện nội soi, X quang trong khi mổ và
tán sỏi thủy điện lực… Nhờ sự phát triển không
ngừng của khoa học kỹ thuật ứng dụng trong Y
khoa, nhiều phương tiện, thiết bị được áp dụng
trong chẩn đoán trên và điều trị sỏi đường mật
giúp hạ thấp được tỉ lệ sỏi sót Nhưng sỏi
đường mật thường tái phát sau nhiều năm, để
ngừa sỏi trong gan tái phát, nhiều phương pháp
nối mật-ruột với hy vọng nếu có sỏi trong gan
tái phát, sỏi sẽ qua miệng nối xuống ruột Tuy
nhiên, sỏi đường mật tái phát đặc biệt là sỏi
trong gan thường kèm theo hẹp đường mật, vì
vậy sỏi không dễ dàng rơi xuống ruột qua
miệng nối Sỏi tại phân thùy phải sau, phân
thùy bên trái và đặc biệt là trong các trường hợp
sỏi đóng khuôn ở ống mật dính chặt vào thành
ống mật bị viêm rất khó xuống(22)
Các phương pháp tạo ngõ vào lấy sỏi tồn
lưu và tái phát, thường áp dụng cho bệnh đã mổ
đường mật nhiều lần, hoặc mổ lần đầu nhưng
có nhiều sỏi trong gan, có hẹp đường mật Chúng tôi chọn những bệnh nhân sỏi đường mật trong gan theo các chỉ định trên, một số trường hợp phẫu thuật nội soi có tái phát hoặc
mổ lần đầu nhưng có nhiều sỏi trong gan hoặc hẹp đường mật trong gan, chúng tôi cũng áp dụng kỹ thuật này Có nhiều tác giả áp dụng ngay kỹ thuật dự phòng sỏi đường mật tái phát ngay trong lần mổ đầu tiên, Al-Sukhni phẫu thuật 27 TH sỏi trong gan, 21 TH thực hiện kỹ thuật nối mật-ruột-da, 10/17 TH cắt gan T có kết hợp kỹ thuật nối mật-ruột-da, tỉ lệ đã mổ nối mật ruột là 15% và cắt túi mật là 48% Beckingham phẫu thuật 21 bệnh nhân nối mật-ruột-da,có 12 TH mổ lần đầu, 9 TH đã mổ 1-3 lần như cắt túi mật hở, cắt túi mật nội soi, sỏi OMC,nối mật-ruột, nội soi ổ bụng chẩn đoán(1)
Hẹp đường mật trong gan là 1 trong những nguyên nhân chính gây sỏi tồn lưu và tái phát Chen CH điều trị sỏi đường mật trong gan bằng
kỹ thuật lấy sỏi xuyên gan qua da có tỉ lệ hết sỏi
là 82%, tác giả nhận thấy nếu không có hẹp đường mật tỉ lệ còn sỏi chỉ 5%, nhưng nếu có hẹp đường mật tỉ lệ còn sỏi là 30%(2) Cheung
MT nghiên cứu 174 trường hợp sỏi trong gan, tỉ
lệ nhiễm khuẩn đường mật tái phát sau 5 năm trên bệnh nhân có hẹp đường mật là 43,2%, không có hẹp đường mật là 26,4%(4) Vì vậy trong những trường hợp sỏi trong gan có kết hợp hẹp đường mật trong gan chúng tôi đã thực hiện tạo ngõ vào đường mật bằng túi mật ngay khi bệnh nhân chưa có tiền căn phẫu thuật đường mật
Kỹ thuật mổ
Về kỹ thuật mổ, khi áp dụng, chúng tôi nhận thấy đây là một kỹ thuật dễ thực hiện, thời gian
mổ không kéo dài hơn nhiều so với các trường hợp mổ sỏi đường mật tái phát khác Diễn tiến hậu phẫu không có biến chứng lớn, 4 TH có biến chứng của chúng tôi là dò mật chỗ dẫn lưu Kehr
tự lành sau khi rút dẫn lưu Phương pháp mổ này tránh được các biến chứng của khâu nối
Trang 6ruột và của quai Roux-en-Y, một ưu điểm nữa là
bảo tồn được cơ vòng Oddi tránh được viêm
đường mật trào ngược, giun lên đường mật, bảo
tồn được cấu trúc giải phẫu bình thường của
đường mật
Hiện nay, cắt gan trong điều trị sỏi gan vẫn
được ưa chuộng, áp dụng cho cả trường hợp sỏi
gan 2 bên nếu có chỉ định, kết quả hết sỏi
98-100%, tỉ lệ sỏi tái phát 13,3-13,9%, cắt gan
điều trị sỏi trong gan được xem là an toàn,hiệu
quả và còn ngăn ngừa được ung thư đường mật
Tian FZ đã thực hiện kết hợp cắt gan trong phẫu
thuật nối túi mật-OMC, kỹ thuật này không làm
cho phẫu thuật nặng nề hơn, không làm tăng
biến chứng Chúng tôi cắt thùy trái gan kết hợp
trong 6 TH có kết quả tốt và không có biến
chứng
Nội soi lấy sỏi tồn lưu
Sau 3- 4 tuần, nội soi đường mật qua đường
hầm túi mật rất dễ dàng, không cần phải nong
đường hầm như lấy sỏi qua đường hầm Kehr,
khi nội soi, tất cả các trường hợp ống soi mềm
đều lên được đường mật trong gan và đến vùng
cơ vòng Oddi Vài trường hợp khó khăn trong
việc tìm miệng nối OMC-túi mật do túi mật to
hoặc do phễu túi mật to che lấp miệng nối
Trong những trường hợp này, chúng tôi cho
tháo bớt nước trong túi mật và tìm chỗ có mật
chảy vào túi mật từ đường mật, thường miệng
nối OMC-túi mật nằm trong vùng này Ngoài
ra, kỹ thuật tạo đường hầm OMC-túi mật-da rất
quan trọng giúp cho việc nội soi đường mật về
sau được dễ dàng Chúng tôi thường chọn vị trí
mở OMC lệch về phía túi mật, đồng thời chọn vị
trí mở phễu túi mật sao cho miệng nối tạo với
đáy túi mật là một đường thẳng Chúng tôi
thường xẻ dọc túi mật nhưng khâu ngang với
OMC, như vậy miệng nối sẽ luôn luôn ở vị trí
tương đối mở rộng, giúp cho ống soi đường mật
qua được dễ dàng hơn
Tỉ lệ hết sỏi tồn lưu của chúng tôi tương
đương với các nghiên cứu của các tác giả trong
và ngoài nước Bệnh viện Đại học Y dược lấy sỏi
qua đường hầm Kehr 152 trường hợp có tỉ lệ hết
sỏi 73%, các biến chứng được ghi nhận như chảy máu, rách đường hầm và mất đường hầm Nghiên cứu lấy sỏi qua đường hầm Kehr của Phạm Như Hiệp và CS có tỉ lệ hết sỏi 81,7%, tỉ lệ biến chứng 4,8% trong đó rách đường hầm là 0,6%(23) Đặng Tâm nghiên cứu 268 trường hợp tán sỏi điện thủy lực xuyên gan qua da và đường hầm Kerh, tỉ lệ hết sỏi xuyên gan qua da 84,7%, đường hầm Kerh 81,4%(6) Kỹ thuật nội soi điều trị sỏi tồn lưu qua đường hầm OMC-túi mật-da không bao giờ có các biến chứng như rách hoặc mất đường hầm như lấy sỏi qua đường hầm Kehr Các phương pháp lấy sỏi xuyên gan qua da và đường hầm Kerh điều trị được sỏi trong gan đặc biệt là sỏi tồn lưu Trong trường hợp sỏi đường mật tái phát, 2 kỹ thuật này không điều trị được, cần có các kỹ thuật tạo sẵn ngõ vào đường mật dưới da như các kỹ thuật tạo đường hầm mật-ruột-da, quai ruột biệt lập và OMC-túi mật-da Báo cáo của Lê Nguyên Khôi về hiệu quả điều trị sỏi trong gan của 3 kỹ thuật tạo ngõ vào đường mật OMC-túi mật-da, quai ruột biệt lập và mật-ruột-da, tỉ lệ hết sỏi tương ứng là 79%, 82% và 84% Đặc biệt trong lô nghiên cứu của tác giả tỉ lệ hẹp đường mật rất cao 96,5% trong đó hẹp đường mật trong gan là 87,2%(17) Tỉ lệ hẹp đường mật trong nhiều báo cáo tại châu Á thay đổi từ 46,7% đến 85%(7,24,4,5,13,14,12,16,18)
Nội soi lấy sỏi tái phát
Chúng tôi đã có 4 TH sỏi tái phát được nội soi lại đường mật lấy sỏi Bệnh nhân được chuẩn bị tương tự như trong trường hợp lấy sỏi tồn lưu Sau khi tê tại chỗ, chúng tôi rạch da khoảng 2 cm, dùng kim chọc dò tìm túi mật, do túi mật vẫn còn chức năng giữ mật nên việc tìm lại đáy túi mật tương đối dễ dàng Khác với các trường hợp vào lại đường hầm mật-ruột-da, do quai ruột thường xẹp và không có chức năng nên việc tìm lại đường hầm khó khăn hơn, đa số các tác giả cần đánh dấu quai ruột bằng clip trên thành bụng hoặc bằng mực sâm trên da bệnh nhân
Trang 7Khi nội soi đường mật chúng tôi nhận thấy
niêm mạc túi mật hoàn toàn bình thường, miệng
nối OMC-túi mật không có bất kỳ hiện tượng
phù nề, viêm nhiễm, hay xơ hẹp miệng nối Việc
nội soi lấy sỏi đường mật tương tự như trong
các trường hợp lấy sỏi tồn lưu Bệnh nhân rất
hài lòng vì không bị phẫu thuật lại
Các nghiên cứu lấy sỏi tái phát qua
mật-ruột-da, tỉ lệ vào lại đường mật 98%(1), lấy sỏi
được qua đường hầm 71,5 - 85,0%(9,1) Hẹp miệng
nối mật-ruột là vấn đề rất được quan tâm trong
các kỹ thuật tạo ngõ vào đường mật bằng ống
tiêu hóa, tỉ lệ hẹp miệng nối sau vài năm từ
4-13%(21) Nguyên nhân hẹp do nhiễm khuẩn
đường mật trào ngược, do sỏi trong gan phía
trên miệng nối…Trong kỹ thuật tạo đường hầm
OMC-túi mât-da, do cơ vòng Oddi được bảo
tồn, hơn nữa do bản chất mô học của OMC và
túi mật gần tương đương nhau nên hiện tượng
viêm nhiễm và hẹp miệng nối không xảy ra
Trường hợp lâu nhất trong 4 TH tái phát của
chúng là 36 tháng, tình trạng miệng nối
OMC-túi mật rất tốt, việc nội soi lấy sỏi rất dễ dàng và
hiệu quả
Trong 21 trường hợp của Tang L.J có 1 bệnh
nhân bị sỏi tái phát trong ống mật chủ và trong
gan trái, bệnh nhân được gây tê tại chỗ vào lại
đường hầm lấy hết sỏi(26)
Đánh giá chức năng túi mật
Tang L.J đánh giá chức năng túi mật trước
và sau khi ăn thức ăn nhiều mỡ nhận thấy, kích
thước túi mật giảm trung bình 5,74 cm2(26)
Trường hợp bệnh nhân chúng tôi, bệnh nhân
không có bất cứ rối loạn tiêu hóa, chức năng túi
mật tốt trên siêu âm kích thước túi mật sau khi
ăn giảm so với trước khi ăn trung bình là
7,64 cm2, tuy nhiên cần thời gian theo dõi lâu
hơn để có kết luận chính xác
KẾT LUẬN
Đường hầm OMC-túi mật-da là ngõ vào rất
hiệu quả cho nội soi đường mật lấy sỏi tồn lưu
và sỏi tái phát, bệnh nhân phục hồi nhanh vì
đây là phẫu thuật đơn giản, ít biến chứng,
không cần mổ lại Tuy nhiên, điều kiện để thực hiện là bệnh nhân phải có túi mật còn tương đối bình thường không có hẹp đọan thấp ống mật chủ, hẹp cơ vòng Oddi, hoặc bệnh nhân đã được nối mật-ruột Đối với bệnh lý sỏi đường mật nguyên phát tại vùng Đông Á, sỏi thường xuất hiện trên hệ thống đường mật chính, sỏi túi mật kèm theo có thể do thứ phát của tình trạng tắc mật Vì vậy, khi phẫu thuật những trường hợp này, nếu túi mật có cấu trúc tương đối bình thường, phẫu thuật viên nên giữ lại túi mật, rất
có lợi khi phẫu thuật tạo ngõ vào đường mật dự
phòng sỏi đường mật tái phát
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 Beckingham IJ, Krige JEJ (1998) Subparietal hepaticojejunal access loop for the long-term management of intrahepatic stones British J Surg, 85: 1360-1363
2 Chen CH, Huang MH (2005) Reappraisal of percutaneous transhepatic cholangioscopic lithotomy for primary hepatolithiasis Surg Endosc, 19: 505–509
3 Chen XG, Liu JQ, Peng MH (2003) Clinical epidemiological study on intrahepatic cholelithiasis: analysis of 8585 cases Hepatobiliary & Pancreatic diseases international, 2(2): 281-284
4 Cheung MT (1997) Postoperative choledochoscopic removal of intrahepatic stones via a T tube tract British Journal of Surgery, 84: 1224-1228
5 Cheung MT, Kwok PCH (2005) Liver resection for intrahepatic stones Arch Surg, 140: 993-997
6 Đặng Tâm (2004) Xác định vai trò của phương pháp tán sỏi mật qua da bằng điện thủy lực, Luận án tiến sĩ Y học Đại học Y Dược
TP Hồ Chí Minh, 59-60
7 Đặng Tâm, Lê Nguyên Khôi (2008) Đánh giá phương pháp lấy sỏi mật nội soi xuyên gan qua da Y Học TP Hồ Chí Minh, 12(4): 274-283
8 Đỗ Kim Sơn, Tôn Thất Bách, Đoàn Thanh Tùng, Trần Đình Thơ (1996) Điều trị phẫu thuật sỏi trong gan Ngoại khoa, 26(1):
10-16
9 Đoàn Thanh Tùng, Đỗ Kim Sơn (1999) Kết quả sớm của kỹ thuật nối mật-ruột kiểu Roux-en-Y với đầu ruột đặt dưới da để điều trị sỏi đường mật chính kết hợp với sỏi đường mật trong gan Ngoại khoa, 5: 8-15
10 Huang MH, Chen CH, Yang JC,et al (2003) Long-term outcome
of percutaneous transhepatic cholangioscopic lithotomy for hepatolithiasis Am J Gastoenterology, 98(12): 2655-2662
11 Jan YY, Chen MF (1995) Percutaneuos transhepatic cholangioscopic lithiotomy for hepatolithiasis: long-term results Gastrointestinal endoscopy, 42: 1:1-5
12 Jeng KS, Sheen IS, Yang FS (1999) Are expandable metallic stents better than conventional methods for treating difficult intrahepatic biliary strictures with recurrent hepatolithiasis? Arch Surg, 134: 267-273
13 Jeng KS, Yang FS, Ohta I, Chiang HJ (1990) Dilatation of intrahepatic biliary strictures in patients with hepatolithiasis World journal surgery, 14: 587-593
Trang 814 Jeng KS, Yang FS, Ohta I, Chiang HJ (1992) Bile duct stents in
the management of hepatolithiasis with long-segment
intrahepatic biliary strictures Bristish Journal Surgery, 79:
663-666
15 Kim BW, Wang HJ, Kim WH, Kim MW (2006) Favorable
outcomes of hilar duct oriented hepatic resection for high grade
Tsunoda type hepatolithiasis World J Gastroenterol, 12(3):
431-436
16 Kim MH, Lee SK, Min YI, Sung KB, et al (1993) Expandable
metallic stents: in the benign strictures of intrahepatic ducts in
patients with primary intrahepatic stones Dig Endosc, 5: 67-72
17 Lê Nguyên Khôi, Bành Văn Trân (2009) Đánh giá hiệu quả
phẫu thuật tạo ngõ vào đường mật bằng túi mật và bằng quai
ruột biệt lập trong điều trị sỏi trong gan Hội nghị khoa học kỹ
thuật Bệnh viện cấp cứu Trưng Vương, 55-67
18 Lee KF, Chong CN, Nguyen D, Cheung YS (2009) Outcome of
surgical treatment for recurrent pyogenic cholangitis: a
single-centre study HPB, 11: 75–80
19 Li X, Shi L,Wang Y, Tian FZ (2005) Middle and long-term
clinical outcomes of patients with regional hepatolithiasis after
subcutaneous tunnel and hepatocholangioplasty with utilization
of the gallbladder Hepa Pancr Dis Int, 4(4): 597-599
20 Mori T, Sugiyama M, Atomi Y (2006) Management of
intrahepatic stones Best Practice & Research Clinical
Gastroenterology, 20(6): 1117-1137
21 Nguyễn Đình Hối, Lê Lộc, Đoàn Thanh Tùng (2005) Lấy sỏi
đường mật qua miệng nối mật-ruột-da Báo cáo tổng kết khoa
học và kỹ thuật đề tài Nghiên cứu ứng dụng tiến bộ khoa học công nghệ trong chẩn đoán và điều trị sớm bệnh sỏi mật Đại học Y dược TP Hồ Chí Minh, 254-289
22 Nguyễn Đình Hối, Nguyễn Mậu Anh (2007) Các phẫu thuật nối mật-ruột trong điều trị sỏi mật: chỉ định, phương pháp và kết quả lâu dài Y học TP Hồ Chí Minh, 11(3): 125-131
23 Nguyễn Đình Hối, Phạm Như Hiệp, Nguyễn Thanh nguyện, Phạm Văn Đởm, Lê Quan Anh Tuấn (2005) Lấy sỏi đường mật qua đường hầm ống Kerh Báo cáo tổng kết khoa học và kỹ thuật đề tài Nghiên cứu ứng dụng tiến bộ khoa học công nghệ trong chẩn đoán và điều trị sớm bệnh sỏi mật Đại học Y dược
TP Hồ Chí Minh, 232-253
24 Nguyễn Việt Thành (2008) Chẩn đoán hẹp đường mật trong gan do sỏi của chụp cộng hưởng từ mật tụy Y học TP Hồ Chí Minh, 12(1): 138-142
25 Sheen-Chen SM, Cheng YF, Chen FC, Chou FF, Lee TY (1998) Ductal dilatation and stenting for residual hepatolithiasis: a promising treatment strategy Gut, 42: 708–710
26 Tang LJ,Tian FZ,Cai ZH (2003) Cholecystocholedochostomy plus contruction of subcutaneous cholecystic tunnel in treatment
of choledocholith Hepa Pancr Dis Int, 2: 114-116
27 Tian FZ (2006) Letters to the editor: subcutaneous tunnel and hepatocholangioplasty after resection for intrahepatic stones Hepa Pancr Dis Int, 5(3): 474-476
28 Uchiyama K, Onishi H, Tani M, Kinoshita H, Ueno M,Yamaue H,(2002) Indication and procedure for treatment of hepatolithiasis Arch Surg, 137: 149-153