1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Khảo sát rối loạn chức năng tâm trương thất trái trên bệnh nhân bệnh cơ tim do đái tháo đường týp 2

7 103 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 7
Dung lượng 445,38 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đề tài với mục tiêu xác định tỷ lệ và mức độ rối loạn chức năng tâm trương thất trái trên bệnh nhân bệnh cơ tim do đái tháo đường týp 2 bằng siêu âm tim thường quy và siêu âm tim doppler mô và tìm hiểu mối liên hệ giữa rối loạn chức năng tâm trương thất trái với một số yếu tố nguy cơ.

Trang 1

KHẢO SÁT RỐI LOẠN CHỨC NĂNG TÂM TRƯƠNG THẤT TRÁI   TRÊN BỆNH NHÂN BỆNH CƠ TIM DO ĐÁI THÁO ĐƯỜNG TÝP 2 

Nguyễn Thị Tuyết Hằng*, Nguyễn Thị Hậu** 

TÓM TẮT 

Đặt vấn đề: Đái tháo đường (ĐTĐ) là một bệnh lý mạn tính với nhiều biến chứng nặng nề, trong đó có tổn 

thương cơ tim do ĐTĐ gọi là bệnh cơ tim đái tháo đường (BCTĐTĐ). RLCNTTrTT là dấu hiệu sớm của BCT  ĐTĐ. Vì vậy, chúng tôi nghiên cứu đề tài với mục tiêu: Xác định tỷ lệ và mức độ rối loạn chức năng tâm trương  thất trái trên bệnh nhân bệnh cơ tim do ĐTĐ týp 2 bằng siêu âm tim thường qui và siêu âm tim Doppler mô và  tìm hiểu mối liên hệ giữa rối loạn chức năng tâm trương thất trái với một số yếu tố nguy cơ . 

Đối tượng và phương pháp: Tất cả bệnh nhân đã được chẩn đoán ĐTĐ týp 2 đang điều trị hoặc những 

bệnh nhân mới được xác định ĐTĐ týp 2 tại phòng khám Nội tiết BV Chợ Rẫy  từ 9/2010 ‐ 03/2011. Phương  pháp nghiên cứu: tiến cứu, mô tả cắt ngang. 

Kết  quả: 92 bệnh nhân BCTĐTĐ týp 2 được nghiên cứu với đặc điểm: tuổi trung bình là 57, nữ > nam 

(2,4: 1), 86,5% bệnh nhân ĐTĐ  5 năm. Tỉ lệ rối loạn chức năng tâm trương thất trái là 75% gồm độ 1 (giảm 

thư giãn) 56,58%, độ 2 (giả bình thường) 15,2%; độ 3(kiểu hạn chế) 3,3%. Có 68,5% bệnh nhân rối loạn lipid  đơn thuần hay phối hợp, 52,2% bệnh nhân glucose máu không đạt. Tỉ lệ phì đại thất trái 57,6%. và 52,17% tiểu  đạm vi thể. Tỉ lệ RLCNTTrTT tăng cao theo tuổi (94% ở nhóm > 60 tuổi), rối loạn lipid máu (78,3%), phì đại  thất trái (74%), thời gian ĐTĐ ≥ 5 năm (80,7%) và có tiểu đạm vi thể (81,3%) . 

Kết luận: Tỉ lệ BCTĐTĐ thật sự cao nếu phát hiện sớm siêu âm doppler mô. Có mối liên hệ giữa tình trạng 

RLCNTTrTT với tuổi, rối loạn lipid máu, dầy thất trái. Tỉ lệ RLCNTTrTT tăng cao ở bệnh nhân có thời gian  ĐTĐ ≥ 5 năm và tiểu đạm vi thể  

Từ khóa: Đái tháo đường, bệnh cơ tim do đái tháo đường, siêu âm tim qua thành ngực, siêu âm tim doppler 

mô. EVALUATION OF LEFT  

ABSTRACT 

VENTRICULARDIASTOLIC DYSFUNCTION IN TYPE 2 DIABETIC CARDIOMYOPATHY PATIENTS 

Nguyen Thi Tuyet Hang, Nguyen Thi Hau 

* Y Hoc TP. Ho Chi Minh * Vol. 17 ‐ Supplement of No 1 ‐ 2013: 629 ‐ 635 

Background: Diabetes mellitus is a chronic disease with many severe complications including myocardial 

injury (due to hyperglycemic condition) which is named diabetic cardiomyopathy. Diastolic dysfunction of left  ventricle is the early sign of diabetic cardiomyopathy. Our purpose in this study is to evaluate the ratio and the  type  of  diastolic  dysfunction  in  diabetic  cardiomyopathy  by  the  combination  of  conventional  echocardiography  and pulsed tissue Doppler ,moreover, the relationship between LV diastolic dysfunction with some risk factors. 

Objectives And Methods: a cross‐sectional prospective study  

Total 92 type 2 diabetic patients who have been examined in out‐patient room of Endocrinology department 

in Cho Ray hospital from November 2010 to March 2011. 

Results: In total 92 patients (mean age is 57, men: women=1:2.4), 86.5% patients diagnosed type 2 diabetes 

over  5  years.  The  presence  of  LV  diastolic  dysfunction  is  in  62  patients  (75%)  including  grade  1  (abnormal 

∗ Khoa Siêu âm‐ TDCN, BVCR; ** Khoa Nội tim mạch, BVCR 

Tác giả liên lạc: BSCKII Nguyễn Thị Tuyết Hằng; ĐT: 0908469669; Email: hangchoray@yahoo.com.vn

Trang 2

relaxation)  56.58%,  grade  2  (pseudo‐normalization)  15.2%  and  grade  3  (restriction)  3.3%.  In  our  study:  dyslipidemia in 68.5% patients, uncontrolled hyperglycemia in 52.2%, left ventricular hypertrophy 57.6% and  52.17%  microalbuminuria.  The  ratio  of  LV  diastolic  dysfunction  increases  with  age  (94%  in  group  >  60),  dyslipidemia (78.3%), LV hypertrophy (74%), diabetes > 5years (80.7%) and microalbiminuria. 

Conclusion: The ratio of diabetic cardiomyopathy is really high (75%) with early detection by using pulsed 

tissue Doppler. The relationship among LV diastolic dysfunction with age, dyslipidemia, LV hypertrophy is clear.  The ratio of LV diastolic dysfunction is higher in group of patients diagnosed type 2 diabetes over 5 years and  microalbuminuria.  

Keywords:  Diabetes,  Diabetes  cardiomyopathy,  Transthoracic  (conventional)  echocardiography,  Tissue 

Doppler Echocardiography 

ĐẶT VẤN ĐỀ 

Đái tháo đường (ĐTĐ) là bệnh lý mạn tính 

thường  gặp,  gây  nhiều  biến  chứng  nặng  nề. 

Nhiều nghiên cứu ghi nhận có mối liên hệ rất 

rõ giữa bệnh ĐTĐ và tổn thương cơ tim gọi là 

bệnh cơ tim đái tháo đường (BCTĐTĐ). Đây là 

một loại bệnh cơ tim dãn gần như độc lập với 

tổn thương động mạch vành và tăng huyết áp 

(THA).  Bệnh  lý  cơ  tim  này  thường  xảy  ra 

nhiều năm trước khi có triệu chứng lâm sàng. 

RLCNTTrTT là dấu hiệu sớm của bệnh cơ tim 

do ĐTĐ(12,8). 

Trong  thực  hành  lâm  sàng,  siêu  âm  tim 

thường quy khảo sát dòng chảy qua van 2 lá là 

phương tiện thăm dò cận lâm sàng không xâm 

lấn,  tương  đối  đơn  giản,  nền  tảng  trong  việc 

đánh giá chức năng tâm trương. Tuy nhiên dòng 

chảy  qua  van  2  lá  không  luôn  luôn  phản  ánh 

đúng  chức  năng  tâm  trương  do  chịu  tác  động 

của  nhiều  yếu  tố  như:  tuổi,  nhịp  thở,  nhịp  tim, 

tiền  tải,  hậu  tải,  chức  năng  tâm  thu,  tính  chất 

màng ngoài tim… 

Siêu  âm  Doppler  mô  cơ  tim,  có  mối  tương 

quan tốt với các thông số áp lực trong thông tim 

và ít lệ thuộc tiền tải nên ngày càng có vai trò rất 

lớn và được sử dụng rộng rãi trong đánh giá rối 

loạn  chức  năng  tâm  trương  thất  trái,  dùng  để 

phân biệt mẫu giả bình thường và bình thường 

thật trên Doppler xung dòng chảy van hai lá. 

Do đó, chúng tôi tiến hành đề tài nghiên cứu 

này  nhằm  phát  hiện  sớm  RLCNTTrTT  để  có 

biện  pháp  điều  trị  và  phòng  ngừa  thích  hợp 

nhằm làm giảm các biến chứng tim mạch và tỉ lệ 

tử vong cho người bệnh. 

Mục tiêu nghiên cứu 

Xác định tỷ lệ và mức độ rối loạn chức năng  tâm trương thất trái trên bệnh nhân bệnh cơ tim 

do ĐTĐ týp 2 bằng siêu âm tim thường qui và  siêu âm tim Doppler mô. 

Tìm hiểu mối liên hệ giữa rối loạn chức năng  tâm  trương  thất  trái  với  thời  gian  đái  tháo  đường và một số yếu tố nguy cơ . 

ĐỐI TƯỢNG ‐ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU  Đối tượng nghiên cứu 

Tiêu chuẩn chọn bệnh 

Bệnh  nhân  đã  được  chẩn  đoán  ĐTĐ  týp  2  đang điều trị hoặc những bệnh nhân mới được  xác  định  ĐTĐ  týp  2  dựa  theo  tiêu  chuẩn  của  WHO năm 1999(12). 

Không có một trong các tiêu chuẩn loại trừ . 

Tiêu chuẩn loại trừ 

‐  Bệnh  nhân  được  chẩn  đoán  ĐTĐ  týp  2  nhưng có bệnh lý đi kèm. 

‐ Bệnh nhân đang mắc các bệnh cấp tính. 

‐ Tăng huyết áp.  

‐ Rối loạn nhịp tim. 

‐ Phân suất tống máu thất trái EF<50%  

‐ Tiền căn và hiện tại ghi nhận bệnh BMV. 

‐  ECG  gắng  sức  dương  tính  or  MSCT  động  mạch vành dương tính. 

‐ Bệnh lý tim bẩm sinh, Bệnh lý van tim. 

Tiêu chuẩn chẩn đoán sớm BCT do ĐTĐ 

‐  RLCNTTrTT  trên  bệnh  nhân  ĐTĐ  không 

Trang 3

do  bệnh  tim  cấu  trúc  khác  (như  tăng  huyết  áp, 

bệnh  mạch  vành  đã  được  loại  trừ  bằng  chụp 

MSCT động mạch vành, bệnh van tim, bệnh tim 

bẩm sinh) xác định chủ yếu qua siêu âm tim.  

‐  Điện  tâm  đồ,  X  quang  tim  và  peptide  lợi 

niệu  (brain  natriuretic  peptide)  bình  thường 

trước  khi  khởi  phát  suy  tim  hay  phì  đại  thất 

trái(1) 

Phương pháp nghiên cứu 

Nghiên  cứu  được  tiến  hành  theo  phương 

pháp tiến cứu, mô tả cắt ngang. 

Các bước tiến hành:  

‐ Khám lâm sàng, hỏi tiền căn, đo chiều cao, 

cân  nặng,  đo  huyết  áp,  làm  bệnh  án  theo  mẫu 

nghiên cứu riêng  

‐  Làm  điện  tâm  đồ  gắng  sức  hoặc  MSCT 

động mạch vành, các xét nghiệm cơ bản. 

‐ Siêu âm tim qua thành ngực: 

+  Siêu  âm  M  ‐  mode  mặt  cắt  dọc  cạnh  ức 

(ngang mức dây chằng van 2 lá) đo đường kính 

thất trái tâm trương (LVDd), chiều dày vách liên 

thất,  thành  sau  thất  trái  tâm  trương  (IVSd, 

PWSd),  chỉ  số  khối  lượng  cơ  thất  trái  (LVMI). 

Phân  suất  tống  máu  thất  trái  EF%  (theo  công 

thức Teicholz) 

+ Doppler dòng chảy qua van 2 lá: mặt cắt 

4 buồng từ mỏm, cửa sổ doppler xung đặt giữa 

hai  mép  van.  Đo  vận  tốc  đỉnh  E,  A,  tỉ  lệ  E/A, 

thời gian giảm tốc sóng E (EDT). Thời gian thư 

giãn  đồng  thể  tích  được  đo  ở  mặt  cắt  năm 

buồng  từ  mỏm  tim  với  cửa  sổ  Doppler  đặt  ở 

giữa đường ra của động mạch chủ và lá trước 

van 2 lá (IVRT). 

+ Siêu âm Doppler mô vòng van 2 lá: Trên cơ 

sở siêu âm 2D ở mặt cắt bốn buồng tim từ mỏm, 

chúng tôi bật chế độ doppler mô cơ tim và thực 

hiện doppler xung với cửa sổ doppler được đặt 

tại  vòng  bên  van  2  lá.  Đo  các  thông  số  vận  tốc 

Em, Am, cũng như các tỉ lệ Em/Am, E/Em. 

*  Tiêu  chuẩn  phân  loại  rối  loạn  chức  năng 

tâm trương thất trái:  

+ Độ I (suy thư giãn): E/A ≤ 0.75, DT>220 ms, 

IVRT >100 ms. Em < 8 cm/s, E/Em > 10  + Độ II (“giả bình thường”): 0.75 < E/A < 1.5, 

140 < DT < 220 ms, IVRT 60‐100ms. Em < 8 cm/s,  E/ Em ≥ 10 

+ Độ III (đổ đầy hạn chế): E/A> 1.5, EDT< 140 

ms, IVRT< 60 ms. Em < 8 cm/s, E/ Em ≥ 10 

Dụng cụ, phương tiện 

Máy  siêu  âm  Doppler  màu  SSD  4000  của  hăng Aloka có đầy đủ các kiểu thăm dò siêu âm:  Kiểu  TM,  2D,  Doppler  xung,  Doppler  liên  tục,  Doppler màu và siêu âm doppler mô. 

Xử lý số liệu  Phần mềm SPSS 13.0. 

Biến  số  liên  tục  được  trình  bày  dưới  dạng  trung  bình  độ  lệch  chuẩn  hoặc  dưới  dạng  trung vị. Biến số rời được trình bày dưới dạng  phần  trăm.  So  sánh  hai  tỉ  lệ  bằng  phép  kiểm  chi bình phương. So sánh hai giá trị bằng phép  kiểm t. Student. 

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 

Bảng 1. Phân bố theo tuổi và giới (n=92) 

57 (34-81) 27 (29,3%) 65 (70,7%)

Bảng 2. Thời gian phát hiện đái tháo đường  

1 – < 5 năm 26 28,3

Bảng 3. Rối loạn lipid máu  

Triglycerid: Tăng 32 34,8

Cholesterol:Tăng 45 48,9

Rối loạn lipid máu: Có 63 68,5

Bảng 4. Glucose máu  

Đạt (≤ 126mg/dl) 44 47,8 Không đạt (> 126mg/dl) 48 52,2

Bảng 5. Tiểu đạm 

Tiểu đạm vi thể 48 52,17 Tiểu đạm đại thể 16 17,4

Trang 4

Bình thường 27 (29,3) 23 (25,0) 0,507

Độ 1 59 (64,1) 52 (56,5) 0,291

Độ 2 3 (3,3) 14 (15,2) 0,005

Độ 3 3 (3,3) 3 (3,3) 1

Bảng 7. Mối liên quan giữa RLCNTTrTT với hai 

nhóm tuối  

Tuổi

RLCNTTrTT

Tổng (n = 92) Bình thường

(n = 23)

Bất thường (n = 69)

≤ 60 tuổi 21 (91,3) 35 (50,7) 56 (60,9)

> 60 tuổi 2 (8,7) 34 (49,3) 36 (39,1)

χ2 = 11,93, p = 0,001, OR= 10,20, KTC 95%:2,22-46,88

Bảng 8. Mối liên quan giữa RLCNTTrTT với thời 

gian ĐTĐ 

Thời gian

ĐTĐ (năm)

RLCNTTrTT

Tổng (n = 92) Bình thường

(n = 23)

Bất thường (n = 69)

< 1 5 (21,7) 9 (13,0) 14 (15,2)

1 – < 5 11 (47,8) 15 (21,7) 26 (28,3)

≥ 5 7 (30, 4) 45 (65,2) 52 (26,5)

χ2 = 8,70, p = 0,013, OR = 0,76, KTC 95%: 0,21 – 2,90

Trung bình 4,72 ± 4,68 7,78 ± 6,31 7,01±6,07

F = 4,54, p = 0,036

Bảng 9. Mối liên quan giữa RLCNTTrTT với tiểu 

đạm  

Có  28  trường  hợp  không  tiểu  đạm  chiếm 

30.4% và 64 trường hợp tiểu đạm (69.6%) được 

so sánh như sau:  

Tiểu đạm

RLCNTTrTT

Tổng (n = 64) Bình thường

(n = 16)

Bất thường (n = 48)

Vi thể 9 (56,3) 39 (81,3) 48 (75,0)

Đại thể 7 (43,7) 9 (18,8) 16 (25,0)

χ2 = 4,01, p = 0,045, OR = 3,37, KTC 95%: 0,99 –11,48

Bảng 10. Mối liên quan giữa RLCNTTrTT với phì 

đại thất trái 

RLCNTTrTT

Tổng (n = 92) Bình thường

(n = 23)

Bất thường (n = 69)

Có 8 (34,8) 51 (73,9) 59 (64,1)

Không 15 (65,2) 18 (26,1) 33 (35,9)

χ2 = 11,48, p = 0,001, OR = 1,59, KTC 95%: 1,14 –2,19

Bảng 11. Khảo sát hồi quy đa biến  

Giới 0,164 0,17 0,02 – 2,09

Thời gian ĐTĐ 0,068 2,71 1,93 – 7,92

Glucose máu 0,047 2,03 1,25 – 6,48

BÀN LUẬN  Đặc điểm chung của nhóm nghiên cứu 

Phần  lớn  bệnh  nhân  ĐTĐ  týp  2  có  tỉ  lệ  nữ  nhiều hơn nam (nam / nữ = 1 / 2,4, chiếm 71,4%),  chủ yếu được chẩn đoán sau 45 tuổi và tỉ lệ ĐTĐ  gia tăng theo tuổi. Trong nghiên cứu của chúng  tôi, đa số bệnh nhân ở lứa tuổi 50‐59, tuổi trung  bình  là  57  tuổi.  Kết  quả  này  tương  tự  như  các  nghiên cứu trong và ngoài nước. Tuổi là yếu tố  nguy  cơ  tim  mạch  và  có  liên  quan  mạnh  đến  RLCNTTrTT ở những bệnh nhân BCTĐTĐ. 

Đặc điểm cận lâm sàng 

Đường huyết 

Trong  nghiên  cứu,  chỉ  có  47,8%  bệnh  nhân  đạt  mức  đường  huyết  <126mg/dl  theo  tiêu  chuẩn của Hiệp hội ĐTĐ. Điều này cho thấy sự  kiểm soát đường huyết của bệnh nhân chưa tốt 

ở  thời  điểm  nghiên  cứu.  Chúng  tôi  chưa  thực  hiện được xét nghiệm HbA1c đồng bộ trên tất cả  các bệnh nhân vì HbA1c phản ánh mức đường  huyết trung bình của bệnh nhân trong vòng 2‐3  tháng trước đó. 

Rối loạn lipid máu 

Rối loạn lipid máu ở bệnh nhân ĐTĐ týp 2  đặc  trưng  bởi  nồng  độ  HDL‐C  thấp,  nồng  độ  triglycerid  và  VLDL  tăng  cao,  và  đặc  biệt  các  phần  tử  LDL  nhỏ,  đậm  đặc  tăng  cao.  Nghiên  cứu của chúng tôi ghi nhận 68,5% bệnh nhân có  rối  loạn  lipid  máu  nói  chung,  đơn  thuần  hay  phối  hợp.  Tỉ  lệ  này  tương  đối  cao  so  với  các  nghiên  cứu  trong  nước,  nhưng  sự  thay  đổi  của  các thành phần lipid thì chưa phản ánh đặc hiệu  cho  bệnh  lý  ĐTĐ  (tăng  triglyceride  và  giảm  HDL‐C). 

Tiểu đạm 

Microalbumin  niệu  là  một  chất  đánh  dấu  của bệnh thận ĐTĐ cũng như bệnh tim mạch ở  bệnh nhân ĐTĐ. Sự hiện diện của microalbumin  niệu  ở  bệnh  nhân  ĐTĐ  týp  2  có  thể  phản  ánh 

Trang 5

tình trạng bệnh lý mạch máu nói chung  hơn  là 

chỉ  bệnh  thận  ĐTĐ(5).  Tỉ  lệ  vi  đạm  niệu  ở  bệnh 

nhân ĐTĐ týp 2 thay đổi theo nhiều yếu tố: thời 

gian  mắc  bệnh,  tăng  huyết  áp,  chủng  tộc, 

phương pháp chẩn đoán…Parving và CS. (2006) 

nghiên cứu trên 24.151 bệnh nhân ĐTĐ týp 2 ở 

33 quốc gia, tỉ lệ vi đạm niệu là 39%, đạm niệu 

đại thể là 10%. Trong một nghiên cứu ở Thượng 

Hải, tỉ lệ vi đạm niệu là  41,4%  và  tiểu  đạm  đại 

thể  8,2%(7).  Nghiên  cứu  của  chúng  tôi  ghi  nhận 

bệnh  nhân  có  vi  đạm  niệu  chiếm  tỉ  lệ  52,1%, 

trong  đó  17,4%  tiểu  đạm  đại  thể.  Kết  quả  này 

tương  đối  cao  hơn  các  nghiên  cứu  khác  trong 

nước như nghiên cứu của tác giả Nguyễn Khoa 

Diệu Vân(9) cho thấy tỉ lệ vi đạm niệu  là  31,6%, 

của  tác  giả  Mai  Thế  Trạch(8)  tỉ  lệ  tiểu  đạm  là 

13,3%. Điều này có thể giải thích do các nghiên 

cứu trước sử dụng phương pháp xác định đạm 

niệu  khác  và  do  đối  tượng  nghiên  cứu  của 

chúng tôi biết ĐTĐ đã lâu.  

Kết  quả  này  cho  thấy  tần  suất  tiểu  đạm  vi 

thể  ở  bệnh  nhân  ĐTĐ  týp  2  có  khuynh  hướng 

gia tăng, do đó cần tầm soát vi đạm niệu sớm để 

có biện pháp điều trị thích hợp, ngăn ngừa diễn 

tiến sang giai đoạn tiểu đạm đại thể. 

Rối loạn chức năng tâm trương thất trái 

BCTĐTĐ  thường  không  có  triệu  chứng  và 

khi có biểu hiện lâm sàng thì bệnh đã tiến triển 

và kết hợp vói các bệnh tim mạch khác như tăng 

huyết áp, bệnh tim thiếu máu cục bộ. 

Khảo sát dòng máu qua van 2 lá, chúng tôi 

nhận thấy những thay đổi về vận tốc đỉnh sóng 

E, sóng A cũng như thời gian giảm tốc của sóng 

E và thời gian thư giãn đồng thể tích là biểu hiện 

của  chậm  thư  giãn  thất  trái.  Các  nghiên  cứu 

trong  và  ngoài  nước  cũng  chứng  tỏ  rằng  chậm 

thư  giãn  thất  trái  là  biểu  hiện  thường  gặp  nhất 

của RLCNTTr.  

75%  số  bệnh  nhân  trong  nghiên  cúu  của 

chúng  tôi  được  đánh  giá  có  RLCNTTrTT  qua 

siêu  âm  tim  thường  qui  và  siêu  âm  tim 

doppler  mô.  Tỉ  lệ  này  tương  đối  cao  hơn  các 

nghiên  cứu  ngoài  nước  đã  được  báo  cáo.  Tần 

suất  RLCNTTrTT  ở  bệnh  nhân  BCTĐTĐ  thay 

đổi  theo  từng  nghiên  cứu.  Trong  một  số  nghiên  cứu  của  những  năm  thập  niên  90  trên  những bệnh nhân ĐTĐ được điều trị tích cực,  khoảng 30% bệnh nhân có RLCN TTrTT(3). Tuy  nhiên tần suất này còn tùy thuộc vào khả năng  đánh giá qua siêu âm tim, mà gần một phần ba  các  trường  hợp  RLCNTTr  nhẹ  giai  đoạn  sớm  không được ghi nhận(2). Những năm gần  đây,  chất lượng kỹ thuật của các máy siêu âm được  nâng  cao  cùng  với  phương  pháp  siêu  âm  Doppler  mô  được  áp  dụng  chặt  chẽ,  có  khả  năng  phát  hiện  RLCNTTr  giai  đoạn  sớm  và  nhẹ  nên  đã  nâng  tỉ  lệ  RLCNTr  ở  bệnh  nhân  ĐTĐ  týp  2  lên  52%  trong  nghiên  cứu  của  Redfield(11) và 60% theo Poirier. Do đó Bertoni 

và cộng sự cho rằng chẩn đoán bệnh cơ tim vô  căn trên bệnh nhân ĐTĐ ngày càng phổ biến.   Chúng tôi nhận thấy không có sự khác biệt  nhiều  giữa  siêu  âm  tim  thường  qui  và  doppler 

mô  về  đánh  giá  phân  suất  tống  máu  và  RLCNTTrTT độ 1 (rối loạn thư giãn). Tuy nhiên, 

để phân loại chính xác mức độ RLCNTTrTT thì  doppler mô có ưu thế hơn. Doppler mô nâng tỉ 

lệ  rối  loạn  độ  2  (giả  bình  thường)  lên  15,2%  so  với 3,3% với siêu âm tim thường qui. Đóng góp  lớn của phổ siêu âm Doppler mô có lẽ là trong  việc  phân  loại  nhóm  giả  bình  thường  vì  giữa  bình  thường  và  giả  bình  thường  chỉ  khác  nhau  theo  tiêu  chí  doppler  mô.  Poirier  và  cộng  sự  nghiên cứu trên 46 bệnh nhân ĐTĐ týp 2 được  kiểm soát tốt và đánh giá siêu âm tim phát hiện  RLCNTTrTT trên 60% bệnh nhân, trong đó 32% 

là rối loạn thư giãn (độ 1) và 28% rối loạn kiểu  giả bình thường (độ 2). 

Mặc dù lựa chọn các đối tượng có cửa sổ 2D  tốt,  việc  đo  đạc  và  tính  toán  các  chỉ  số  nhất  là  liên  quan  M‐mode  và  2D,  có  thể  có  sai  sót  chủ  quan và bản thân phổ Doppler mô cơ tim cũng 

có những hạn chế nhất định của nó . 

Mối  liên  hệ  giữa  RLCNTTRTT  với  thời  gian ĐTĐ và một số yếu tố nguy cơ  

Mối  liên  hệ  giữa  RLCNTTrTT  và  thời  gian  ĐTĐ 

Trang 6

Trong  nghiên  cứu  chúng  tôi  ghi  nhận  thời 

gian  phát  hiện  ĐTĐ  càng  lâu  thì  tần  suất 

RLCNTrTT  càng  cao  và  mức  độ  nặng  hơn. 

Trong  nhóm  bệnh  nhân  có  thời  gian  ĐTĐ  <1 

năm, 9/14 bệnh nhân (64%) có RLCNTTrTT mức 

độ nhẹ; còn ở nhóm có thời gian ĐTĐ ≥ 5 năm, tỉ 

lệ bệnh nhân RLCNTTr rất cao và mức độ nặng 

(45/52 bệnh nhân = 80,7%).với sự khác biệt rất có 

ý nghĩa so với nhóm bệnh nhân ĐTĐ  <  5  năm. 

Các  nghiên  cứu  về  RLCNTTr  ở  những  bệnh 

nhân  ĐTĐ  mới  chẩn  đoán  hoặc  mới  phát  hiện 

trong thời gian ngắn cho thấy rằng sự thay đổi 

chức năng tâm trương của tim có thể xuất hiện 

rất sớm trong quá trình bệnh sử của bệnh nhân 

ĐTĐ týp 2(3) 

Mối  liên  hệ  giữa  RLCNTTrTT  và  mức  đường 

huyết 

Holzmann và cộng sự nghiên cứu tìm sự liên 

hệ giữa đường huyết lúc đói, HbA1c và khảo sát 

chức năng thất trái bằng siêu âm Doppler mô ở 

một  nhóm  bệnh  nhân  trung  niên;  kết  luận  có 

mối  liên  hệ  với  mức  đường  huyết  và  HbA1c(4). 

Kết  quả  nghiên  cứu  của  chúng  tôi  cho  thấy  có 

mối liên  hệ  giữa  tình  trạng  RLCNTrTT  và  mức 

đường  huyết.  87,5%  bệnh  nhân  RLCNTTrTT 

không đạt mức đường huyết theo Hiệp hội ĐTĐ 

(>  126mg/dl).  Nhiều  nghiên  cứu  cho  thấy  tăng 

đường huyết là yếu tố nguy cơ tim mạch và điều 

trị  tích  cực  đường  huyết  sẽ  làm  giảm  xơ  vữa 

động mạch, giảm thần kinh tự động tim và bệnh 

cơ tim(11). 

Mối liên hệ giữa RLCNTTr và giới, tuổi 

Không  ghi  nhận  sự  khác  biệt  về  tỉ  lệ 

RLCNTTrTT giữa hai phái nam ‐ nữ. Ngược lại, 

có  liên  hệ  giữa  tần  suất  RLCNTTrTT  và  tuổi. 

Tuổi là yếu tố nguy cơ tim mạch và hầu hết các 

nghiên cứu đều cho thấy tuổi liên quan đến các 

bệnh lý tim mạch. Trong nghiên cứu của chúng 

tôi,  nhóm  bệnh  nhân  ĐTĐ  tuổi  >  60  có  tỉ  lệ 

RLCNTTrTT  rất  cao  (94%)  và  có  tương  quan 

chặt với BCT ĐTĐ. Tuy nhiên, siêu âm tim đánh 

giá chức năng tâm trương ở người lớn tuổi cần 

phải  hiệu  chỉnh  để  loại  trừ  thay  đổi  sinh  lý  và 

siêu âm doppler mô đã gỉải quyết được vấn đề 

này. 

Mối liên hệ giữa RLCNTrTT với tiểu đạm 

Tiểu  đạm  là  yếu  tố  tiên  lượng  nguy  cơ  tim  mạch  ở  bệnh  nhân  ĐTĐ  týp  2,  độc  lập  với  các  yếu tố nguy cơ khác như tăng huyết áp, rối loạn  lipid máu. Tuy vậy, cơ chế của mối liên hệ này  chưa được giải thích rõ, có thể  do  thay  đổi  cấu  trúc mạch máu gây suy giảm chức năng thận và  tim. Nghiên cứu Diabhycar kết luận tiểu đạm là  một trong những yếu tố làm tiến triển tình trạng  suy  tim  ứ  huyết  ở  bệnh  nhân  ĐTĐ  týp  2(6).  Có  mối  liên  hệ  chặt  giữa  tỉ  lệ  RLCNTTrTT  và  tiểu  đạm.  Trong  nhiều  nghiên  cứu,  sự  xuất  hiện  vi  đạm niệu phản ánh khả năng BCT ĐTĐ. Trong  nghiên cứu của chúng tôi, 69,6% bệnh nhân tiểu  đạm,  trong  đó  tiểu  đạm  vi  thể  là  52,17%.  39/48  bệnh nhân tiểu đạm vi thể có RLCNTTrTT. Theo  Strong  Heart  Study  có  mối  liên  hệ  giữa  đạm  niệu  với  bất  thường  chức  năng  tim  độc  lập  với  tuổi, phái, huyết áp, bệnh mạch vành(6). 

Mối  liên  hệ  giữa  RLCNTTrTT  và  các  yếu  tố  nguy cơ khác 

Trong nghiên cứu, chúng tôi nhận thấy có 

sự tương  quan  giữa  phì  đại  thất  trái  với  tình  trạng  RLCNTTrTT  và  74%  bệnh  nhân  RLCNTTrTT có phì đại thất trái trên siêu âm  tim  cao  hơn  nhiều  so  với  nhóm  ĐTĐ  không  RLCNTTrTT. RLCNTTrTT được giải thích do  hậu quả của sự tái cấu trúc thất (phì đại thất  trái  đồng  tâm),  tăng  khối  cơ  thất  và  bề  dày  thành thất(12). Như vậy, RLCNTTrTT chủ  yếu 

là  do  tăng  khối  cơ  thất  trái.  Điều  này  cần  được quan tâm vì tăng khối cơ thất trái đồng  nghĩa  với  tăng  bệnh  tật  và  tử  vong  do  tim  mạch.  Chúng  tôi  cũng  ghi  nhận,  có  mối  liên 

hệ  giữa  RLCNTTrTT  và  tình  trạng  rối  loạn  lipid máu, cụ  thể  là  tăng  triglyceride  mặc  dù 

sự  thay  đổi  này  chưa  phản  ánh  đặc  hiệu  cho  bệnh lý ĐTĐ (tăng triglyceride và giảm HDL‐ C).  ĐTĐ  liên  quan  đến  rối  loạn  chuyển  hóa,  hậu  quả  là  gia  tăng  xơ  vữa  động  mạch  và  huyết khối động mạch. 

KẾT LUẬN 

Trang 7

Qua  nghiên  cứu  92  bệnh  nhân  ĐTĐ  týp  2 

thoả tiêu chuẩn chọn bệnh tại phòng khám Nội 

tiết Bệnh viện Chợ Rẫy, chúng tôi ghi nhận như 

sau: 

1. Tỉ lệ bệnh nhân ĐTĐ týp 2 có RLCNTTrTT 

là 75% với bất thường chủ yếu là độ 1 (giảm thư 

giãn) 56,58%, độ 2 (giả bình thường) 15,2%; độ 3 

(kiểu hạn chế) rất ít. Siêu âm tim doppler mô rất 

hữu  ích  để  xác  định  nhóm  giả  bình  thường  và 

bình  thường  thật  qua  Doppler  xung  dòng  chảy 

van 2 lá. 

2.  Có  mối  liên  hệ  chặt  giữa  tình  trạng 

RLCNTTrTT với tuổi, rối loạn lipid máu và phì 

đại  thất  trái.  Chúng  tôi  nhận  thấy  rằng  tỉ  lệ 

RLCNTTrTT  tăng  cao  ở  những  bệnh  nhân  có 

thời gian ĐTĐ ≥ 5 năm và có tiểu đạm vi thể . 

TÀI LIỆU THAM KHẢO 

1 Abhayaratna WP, Marvik TH, Smit et al (2006), ‘’Charateristics 

of left ventricular diastolic WT dysfuntion in the community: 

an echocardiography survey’’. Heart; 92: pp. 1259‐ 64.  

2 David  S.H.  Bell  (2003),  ‘’Diabetic  Cardiomyopathy.  Diabetes 

Care’’. Volume 26, number 10, pp. 2949‐ 2951.  

3 Di  Bonito  P,  Cuosmo  S,  Moio  N,  Sibilio  G,  et  al  (1996), 

‘’Diastolic dysfunction in patients with non‐insulin‐dependent 

diabetes  melitus  of  short  duration’’.  Diabet  Med,  13,  pp.  321‐ 

324.  

4 Holzmann  M,  Olsson  A,  Johansson  J  (2002),  ‘’LV  diastolic  function is related to glucose in a midlled‐aged population’’. J  Intern Med, 251, pp. 415‐ 20.  

5 Lane,  J.T.  (2004).  ‘’Microalbuminuria  as  a  marker  of  cardiovascular  and  renal  risk  in  type  2  diabetes  mellitus:  a  temporal perspective’’. Am J Physiol Renal Physiol, 286(3), pp.  442‐ 450.  

6 Laurent  V,  Pascal  G,  Michel  L  (2001),  ‘’Development  of  Congestive  Heart  Failure  in  Type  2  Diabetic  Patients  microalbuminuria  or  Proteinuria’’.  Observation  from  the  diabhycar  

7 Lu,B.,  Wen,J.,  Song,  X.Y.  et  al.  (2007).  ‘’High  prevalence  of  albuminuria in population‐based patients diagnosed with type 

2  diabetes  in  Shanghai  downtown.  Diabetes  Researche  and  Clinical Practice’’, 75(2), pp. 184‐ 102  

8 Mai  Thế  Trạch  (2007),  “Biến  chứng  mạn  tính  của  Đái  Tháo  Đường”, Nội tiết học Đại cương ‐ Nhà Xuất bản Y học, tr. 411‐

420  

9 Nguyễn Khoa Diệu Vân, Lê Huy Liệu, Nguyễn Chí Phi. (2001), 

‘’Nghiên cứu giá trị của Microalbumin niệu trong chẩn đoán  sớm bệnh cầu thận do ĐTĐ’’. Kỷ yếu toàn văn các đề tài khoa  học. Đại hội Nội tiết‐Đái tháo đường Viện Nam lần thứ nhất‐ 

Hà Nội. Nhà xuất bản Y học Hà Nội, tr. 336‐340. 

10 Poirier  P,  Bogaty  P,  Garneau  C,  et  al  (2001),  ‘’Diastolic  dysfunction in normotensive men with well‐controlled type 2  diabetes:  importance  of  maneuvers  in  echocardio‐  graphic  screening  for  preclinical  diabetic  cardiomyopathy’’.  Diabetes  Care, 24, pp. 5‐ l0.  

11 Redfied MM, Jacobsen SJ, Burnett JC  et  al  (2003),  ‘’Burden  of  systolic  and  diastolic  ventricular  dysfuntion  in  the  community’’. JAMA, 289, pp.194‐ 202.  

12 Tạ  Văn  Bình  (2006),  “Bệnh  Đái  Tháo  Đường‐  Tăng  glucose  máu”‐ Nhà Xuất bản Y học, tr. 14‐ 525.  

 

Ngày đăng: 22/01/2020, 08:34

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm