Mục tiêu nghiên cứu của đề tài này nhằm đánh giá hiệu quả điều trị của Montelukast phối hợp với corticosteroid (SERETIDE) ở bệnh nhân viêm mũi dị ứng có HPQ. Nghiên cứu tiến hành trên 50 bệnh nhân được chẩn đoán xác định viêm mũi dị ứng có HPQ, nghiên cứu tiến cứu, mô tả theo chiều dọc, tự đối chứng tại Bệnh viện ĐHY Hải phòng.
Trang 1ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ ĐIỀU TRỊ CỦA MONTELUKAST KẾT HỢP SERETIDE
Ở BỆNH NHÂN VIÊM MŨI DỊ ỨNG CÓ HEN PHẾ QUẢN
Trần Hải Yến ** , Phùng Chí Thiện *** , Nguyễn Thị Kim Hương *** , Vũ Minh Thục * , Phạm Văn Thức ***
TÓM TẮT
Đặt vấn đề: Viêm mũi dị ứng (VMDƯ) và hen phế quản (HPQ) là bệnh đường hô hấp thường gặp
Montelukast cho hiệu quả điều trị vượt trội đối với hai loại bệnh dị ứng này và nó sẽ có hiệu quả hơn nếu kết hợp với thuốc corticosteroid
Mục tiêu: Đánh giá hiệu quả điều trị của Montelukast phối hợp với corticosteroid (SERETIDE) ở bệnh nhân
VMDU có HPQ Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: gồm 50 bệnh nhân được chẩn đoán xác định VMDU có HPQ, nghiên cứu tiến cứu, mô tả theo chiều dọc, tự đối chứng tại Bệnh viện ĐHY Hải phòng
Kết quả: sau 12 tháng điều trị, các triệu chứng cơ năng và triệu chứng thực thể đều giảm; có sự tiến triển
đáng kể đối với các triệu chứng về hen phế quản vào ban ngày và ban đêm Số bệnh nhân lên cơn hen giảm từ 34% từ năm trước xuống 12% trong năm điều trị số bệnh nhân phải thăm khám cấp cứu, nhập viện và uống thuốc corticosteroid vì HPQ giảm tương ứng từ 20% xuống 6%, 6% xuống 0% và từ 20% xuống 4%
Kết luận: Phác đồ Montelukast phối hợp corticosteroid (SERETIDE) là một phương pháp điều trị hiệu quả
và an toàn đối với bệnh nhân VMDÝ có HPQ Thuốc dung nạp tốt không có bệnh nhân nào xảy ra phản ứng
phụ
Từ khóa: Viêm mũi dị ứng, hen phế quản, Montelukast, corticosteroid, SERETIDE
ABSTRACT
THE EFFECTS OF COMBINATION OF MONTELUKAST AND SERETIDE ON ALLERGIC RHINITIS
AND ASTHMA PATIENTS
Tran Hai Yen, Phung Chi Thien, Nguyen Thi Kim Huong, Vu Minh Thuc, Pham Van Thuc
* Y Hoc TP Ho Chi Minh * Vol 18 - Supplement of No 1 - 2014: 33 - 38
Introduction: Allergic rhinitis (AR) and asthma is a popular respiratory disease Montelukast is superior
effective treatment for them And it’s better combination Montelukast and corticosteroid (SERETIDE)
Objective: to examine the changes in treatment of combination Montelukast and corticosteroid
(SERETIDE) at patients with allergic asthma Patients and method: fifty patients with allergic asthma were enrolled in the auto controlled descriptive follow-up study at Haiphong Medical University Hospital
Results: After 12 months of treatment, functional symptoms and physical symptoms were decreased; the
clinical symptoms were markedly improved: there is significant progress for the symptoms of asthma at day and night The proportion of patients experiencing an asthma attack declines from 34% in the year before to 12% (p<0.001) the year after addition of Montelukast therapy Proportions of patients with an asthma-related emergency room visit, hospitalization, and oral corticosteroid use declined from 20% to 6%, from 6% to 0% and from 20% to 4% (p<0.01), respectively
Conclusion: Combination Montelukast and corticosteroid (SERETIDE) is an effective and safe treatment for allergic asthma patients All patients had the intention to continue using its The drugs are well tolerated
* Bệnh viện Tai Mũi Họng TƯ ** Đại học Y Hà Nội *** Đại học Y Hải Phòng
Trang 2Keywords: allergic rhinitis, asthma, Montelukast, corticosteroid, SERETIDE
ĐẶT VẤN ĐỀ
Điều trị viêm mũi dị ứng không chỉ làm
giảm tắc nghẽn viêm mũi và xoang, mà còn có
thể làm giảm mẫn cảm đường hô hấp dưới và
dị ứng là một điểm quan trọng trong kiểm soát
HPQ Khi có sự tham gia của Leukotrienes
cystein vào sinh lý bệnh học của bệnh hen và
VMDU cho thấy sự ngăn hãm thụ thể
Leukotrienes cystein của Montelukast có thể
mang lại lợi ích trong điều trị cho bệnh nhân
VMDƯ có HPQ Montelukast là một loại chất
đối kháng thụ thể leukotriene ảnh hưởng một
phần quan trọng đến đường viêm nhiễm do dị
ứng Montelukast đượ sử dụng như một phương
pháp trị liệu đơn lẻ hoặc liệu pháp bổ sung
(thêm vào loại hormone steroid do vỏ thượng
thận tổng hợp dùng dưới dạng hít (ICS) cho
bệnh nhân hen và thuốc chống dị ứng
đính nghiên cứu của chúng tôi để đánh giá tác
dụng cải thiện và kiểm soát triệu chứng lâm
sàng ở bệnh nhân VMDƯ có HPQ của
Montelukast kết hợp LABA (Long Acting Beta 2
Agonist) nói chung và Seretide (salmeterol +
fluticason)
ĐỐI TƯỢNG - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Đối tượng nghiên cứu
Gồm 50 bệnh nhân VMDU có HPQ, được
điều trị Montelukast liều 10mg/ngày phối hợp
với SERETIDE 25/250 g dạng hít (ngày 2 lần
dùng hàng ngày trong thời gian 12 tháng
Thời gian và địa điểm nghiên cứu
Từ tháng 9/2011 đến 8/2013 tại khoa miễn
dịch lâm sàng Bệnh viện Đại học Y Hải Phòng
Tiêu chuẩn chọn bệnh nhân
Được chẩn đoán là VMDƯ có HPQ, nếu có:
Các triệu chứng của VMDU phải có tiền sử
từ 2 năm trở lên và các triệu chứng của HPQ
phải có tiền sử từ 1 năm trở lên
Tiền sử dị ứng và hen phế quản (cá nhân và gia đình)
Có test lẩy da với dị nguyên (DN) cho kết quả dương tính
Lâm sàng
VMDU: Có các triệu chứng của VMDU ban
ngày: nghẹt mũi, chảy nước mũi, ngứa mũi, hắt
hơi Các triệu chứng này xuất hiện thành cơn,
nhiều cơn trong một đợt Ban đêm: Khó ngủ, thức
giấc về đêm, nghẹt mũi khi thức dậy Có thể xuất hiện triệu chứng ở mắt (mắt đỏ)(3)
HPQ: Có triệu chứng lâm sàng chính của
HPQ: khó thở với các đặc điểm; Khó thở xuất hiện thành từng cơn, ngoài cơn người bệnh bình thường, cơn khó thở thường xảy ra về đêm, khó thở ra là chủ yếu Kết hợp với khám thực thể ở
phổi Đo chức năng hô hấp: FEV1 và FEV1 %
giảm trên 20%
Các xét nghiệm cơ bản trong giới hạn bình thường, các xét nghiệm sinh hóa về chức năng gan và thận bình thường
Tuổi: tất cả các bệnh nhân từ 15 tuổi trở lên Bệnh nhân tự nguyện tham gia
Tiêu chuẩn loại trừ
Sẽ loại khỏi nghiên cứu này các bệnh nhân: Không có đầy đủ các triệu chứng của VMDU
và HPQ
HPQ bậc 4 theo phân loại của GINA
Đang bị bệnh lý nhiễm khuẩn cấp ở mũi xoang: như viêm mũi mủ, viêm xoang mủ, "cảm cúm"
Đang bị bệnh lý nhiễm khuẩn cấp ở đường
hô hấp dưới: viêm phế quản, viêm phổi…
Bệnh nhân mắc các bệnh toàn thân phối hợp: bệnh tim mạch, viêm gan, viêm thận, bệnh hệ thống…
Đang điều trị trong vũng 2 tuần trước đó bằng các thuốc kháng histamin, corticoid (tại chỗ
và toàn thân), thuốc làm bền vững màng tế bào
Trang 3-adrenergic (Salbutamol ); hoặc các bài thuốc
đông y chữa dị ứng nói chung
Phương pháp nghiên cứu
Thiết kế nghiên cứu
Nghiên cứu thử nghiệm lâm sàng, đối chứng
trước và sau điều trị
Qui trình điều trị
Bệnh nhân được điều trị VMDU có HPQ với
Montelukast liều 10 mg/ngày vào buổi tối trước
khi đi ngủ phối hợp với SERETIDE 25/250 g
dạng hít (ngày 2 lần) dùng hàng ngày trong thời
gian 12 tháng
Quy trình theo dõi bệnh nhân và đánh giá hiệu quả
điều trị
Sau 3, 6, 12 tháng điều trị bệnh nhân sẽ được
thăm khám lâm sàng để so sánh và đánh giá
hiệu quả điều trị
Đánh giá hiệu quả về lâm sàng của bệnh
VMDƯ: dựa vào mức độ tiến triển của các triệu
chứng lâm sàng:
4 triệu chứng cơ năng: hắt hơi, chảy mũi,
ngạt mũi, ngứa mũi
2 triệu chứng thực thể: tình trạng niêm mạc
mũi, tình trạng cuốn dưới
Sự thay đổi triệu chứng cơ năng dựa vào hỏi
bệnh trực tiếp, sự thay đổi triệu chứng thực thể
qua thăm khám bằng nội soi Tuỳ vào mức độ
thay đổi nhiều hay ít mà chúng tôi cho điểm và
đánh giá hiệu quả là tốt, khá, trung bình hay
kém
Đánh giá hiệu quả về lâm sàng của bệnh Hen
Phế Quản: Khó thở, ho, tức ngực và kết hợp
khám thực thể phổi Tuỳ vào mức độ thay đổi
nhiều hay ít mà chúng tôi cho điểm và đánh giá
hiệu quả điều trị
Quy trình theo dõi tác dụng phụ và tính an toàn của
Montelukast phối hợp với SERETIDE
Bệnh nhân được theo dõi trong suốt quá
trình điều trị về các tác dụng phụ có thể gặp khi
dùng Montelukast và làm các xét nghiệm về
chức năng gan thận khi cần thiết trong thời gian
điều trị và khi kết thúc giai đoạn điều trị để đánh giá tính an toàn của phác đồ Montelukast phối hợp với SERETIDE
Xử lý số liệu
Các số liệu trên được xử lý trên máy tính với chương trình phần mềm SPSS 15.0
Test Student khi so sánh 2 tỷ lệ và so sánh trung bình
Các thông số có ý nghĩa thống kê khi p<0,05
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU Thay đổi các triệu chứng VMDU sau 12 tháng điều trị
Có tới 82,0% số bệnh nhân có hiệu quả tốt và khá
Thay đổi các triệu chứng hen phế quản trước và sau điều trị
Thay đổi triệu chứng cơ năng
Sau 3 tháng số bệnh nhân ho về đêm, khó
thở, tức ngực giảm Sau 6 tháng tỷ lệ bệnh nhân không còn khó thở tăng đến 90% và sau 12 tháng điều trị có 98% bệnh nhân không còn khó thở và
chỉ còn 6,0% bệnh nhân cảm thấy tức ngực
Thay đổi triệu chứng thực thể
Trước điều trị 30,0% bệnh nhân có biểu hiện
co rút cơ hô hấp phụ, 54% nghe phổi thấy rì rào phế nang giảm và có ran ở phổi Sau điều trị 3
thể biến đổi rõ, có tới 98% bệnh nhân có tần số thở trở về bình thường, nghe phổi không còn
ran, rì rào phế nang rõ
Thay đổi về nhu cầu sử dụng thuốc cắt cơn
Trước điều trị 100% bệnh nhân có nhu cầu
sử dụng thuốc cắt cơn Sau điều trị số bệnh nhân cú nhu cầu dựng thuốc cắt cơn giảm dần: còn 58% sau 3 tháng, 38% sau 6 tháng và
12% sau 12 tháng
Tác dụng không mong muốn
Trong 12 tháng theo dõi các bệnh nhân hen điều trị, chúng tôi chỉ gặp một tỷ lệ nhỏ các bệnh nhân nhạy cảm có run chân tay nhẹ, hồi
Trang 4hộp đánh trống ngực, đau đầu, ho ngay sau
hít thuốc
Kết quả các chỉ tiêu thông khí ở phổi
Sự thay đổi các thể rối loạn thông khí phổi
Trước điều trị chúng tôi gặp 76% RLTKTN,
10% RLTKHH Sau điều trị tỷ lệ bệnh nhân bị
RLTKTN giảm hẳn (từ 56% sau 3 tháng xuống
30% sau 6 tháng và chỉ còn 10% sau 12 tháng);
tuy nhiên tỉ lệ RLTKHH không có sự cải thiện
Sự thay đổi PEF sáng-chiều
Nghiên cứu về độ dao động sáng chiều của
lưu lượng đỉnh chúng tôi thấy rằng: tỉ lệ bệnh
nhân có mức dao động <20% có xu hướng tăng
dần theo thời gian điều trị (từ 14,0% lên 38,0%
sau 3 tháng, đạt 60,0% sau 6 tháng và tới 86,0%
sau 12 tháng)
Sự thay đổi bậc hen phế quản
Trên 50 bệnh nhân VMDU có HPQ bậc I,
II, III kết quả sau điều trị Montelukast +
seretide cho thấy: số bệnh nhân HPQ không
còn triệu chứng tăng dần từ 0% lên 18,0% sau
3 tháng, đạt 34,0% sau 6 tháng và sau 12 tháng
có tới 62,0% Chỉ còn 5 bệnh nhân ở hen bậc III
sau 12 tháng điều trị (10,0%)
Qua phân tích số liệu nghiên cứu tiến hành
trên 50 bệnh nhân, tỷ lệ bệnh nhân bị lên cơn
hen cấp trong năm trước can thiệp là 34%, bệnh
nhân cấp cứu do hen là 20%, có 3% bệnh nhân
nhập viện, 20% bệnh nhân sử dụng
corticosteroid đường uống và 52% bệnh nhân
phải thăm khám bác sĩ bất chợt không theo định
kỳ Sau điều trị, các chỉ số trên đều giảm xuống,
lần lượt là: 12%, 6%, 0%, 4% và 30%
BÀN LUẬN
Tiến triển của các triệu chứng về VMDU
sau 12 thỏng điều trị Montelukast phối hợp
seretide
Triệu chứng cơ năng
Kết quả nghiên cứu của chúng tôi trước điều
trị là 84,0% số BN có từ 3 triệu chứng trở lên,
20% có từ 2 triệu chứng Đây là bước đánh giá
đầu tiên trước khi khám bệnh Kết quả của chúng tôi phù hợp với tiêu chuẩn chẩn đoán của P.Demoly và J.Bousquet Sau điều trị, Kết quả ban đầu cho thấy, các triệu chứng chủ quan ở bệnh nhân đã được cải thiện rõ rệt Tam chứng ngứa mũi, hắt hơi, chảy mũi và biểu hiện ngạt mũi đã giảm rõ rệt cả về tỷ lệ (p < 0,001) và cường độ của triệu chứng Sự tiến triển nhanh chóng được nhận thấy ở sau đợt điều trị, sự khác biệt trước và sau điều trị có ý nghĩa thống kê
Triệu chứng thực thể
Về khám thực thể, nghiên cứu thăm khám nội soi để đánh giá triệu chứng thực thể cơ bản trong viêm mũi dị ứng là tình trạng niêm mạc mũi Sau điều trị, chúng tôi nhận thấy có rất nhiều bệnh nhân đã có thay đổi về hình thái, mầu sắc niêm mạc mũi Sự phù nề, ứ đọng dịch nhầy đã giảm mạnh (p > 0,05) Các triệu chứng thực thể sau điều trị được thấy rằng có sự thay đổi về màu sắc niêm mạc Sự phù nề và tăng tiết dịch đã giảm rất rõ Các trường hợp tốt lên này đều là những trường hợp trước điều trị chỉ quá phát nhẹ
Thay đổi triệu chứng lâm sàng về HPQ ở bệnh nhân VMDU có HPQ sau điều trị Montelukast phối hợp Seretide
Theo dõi sự biến đổi các triệu chứng cơ năng
và thực thể của HPQ khi điều trị bằng Montelukast phối hợp Seretide trên các bệnh nhân, chúng tôi nhận thấy trước điều trị 48% bệnh nhân có khó thở cò cử, 68% luôn cảm thấy tức ngực, 60% bệnh nhân có ho về đêm; 50% có tần số thở >22 lần/phút; nghe phổi ở 54% bệnh nhân có rì rào phế nang giảm và có ran trong đó chủ yếu gặp ran rít (42%) Sau điều trị 3 tháng, số bệnh nhân không còn khó thở tăng lên đến 68%;
có 72% bệnh nhân có tần số thở trong giới hạn bình thường và trên 70% bệnh nhân nghe phổi không còn ran, rì rào phế nang rõ Theo dõi sau điều trị 6 tháng, chúng tôi nhận thấy số bệnh nhân không còn khó thở tăng lên đến 90%; có 86% bệnh nhân có tần số thở trở về giới hạn bình thường, 92% bệnh nhân nghe phổi không còn
Trang 5ran Sau 12 tháng điều trị 98% bệnh nhân không
còn khó thở, đều có tần số thở trở về giới hạn
bình thường, nghe phổi không còn ran và rì rào
phế nang bình thường Số bệnh nhân còn lại
thỉnh thoảng xuất hiện cơn khó thở cò cử nhưng
ở mức độ nhẹ
Sự thay đổi nhu cầu sử dụng thuốc cắt cơn
Theo dõi trên các bệnh nhân nghiên cứu về
thay đổi nhu cầu sử dụng thuốc cắt cơn, chúng
tôi nhận thấy trước điều trị 100% bệnh nhân đều
có nhu cầu sử dụng thuốc cắt cơn Theo nghiên
cứu AIRIAP 2, tỉ lệ bệnh nhân có nhu cầu sử
dụng thuốc cắt cơn ở Pháp là 87%, ở Mỹ 61% còn
tại Việt Nam là 62% Các thuốc bệnh nhân hay
sử dụng là các thuốc giãn phế quản tác dụng
nhanh, bệnh nhân có thể sử dụng một hoặc
nhiều thuốc giãn phế quản có kết hợp hoặc
không với các thuốc chống viêm
Tác dụng không mong muốn
Khi theo dõi một số tác dụng không mong
muốn của thuốc trong 12 tháng điều trị, chúng
tôi gặp một số nhỏ các tác dụng không mong
muốn là tác dụng riêng của Salmeterol và
Fluticasone propionate (tác dụng không mong
muốn của Salmeterol là run tay, hồi hộp, đau
đầu, nhịp tim nhanh; tác dụng không mong
muốn của Fluticasone propionate là, nấm
Candidas miệng họng) Nhưng những tác dụng
này được giảm đi rất nhiều do liều của seretide
chỉ còn ½ (2 lần/ngày mỗi lần 1 nhát) Chúng tôi
không gặp bất kỳ một tác dụng phụ nào mới do
sự kết hợp của Montelukast phối hợp seretide
Điều này cũng được Nicolas Debono nghiên cứu
rất rõ và nhận thấy rằng trong Seretide có sự kết
hợp cân đối của hai thành phần và đảm bảo
không có sự tương tác gây ra tác dụng không
mong muốn giữa chúng Nghiên cứu GOAL
cũng khẳng định Montelukast phối hợp seretide
là sự phối hợp có độ an toàn cao, đạt được và
duy trì kiểm soát bệnh VMDU có hen mà không
có những tác dụng phụ từ việc dùng thuốc gây
ra Các dấu hiệu trên chỉ xuất hiện trong một vài
ngày đầu điều trị rồi mất hẳn, không gây khó chịu cho bệnh nhân
Thay đổi thông khí phổi sau điều trị
Qua nghiên cứu chúng tôi thấy giá trị của các chỉ tiêu thông khí phổi tăng dần theo thời gian điều trị Sự thay đổi sau điều trị so với trước điều trị là cú ý nghĩa thống kê với p<0,001 Điều này đã khẳng định hiệu quả của Montelukast phối hợp seretide trong cải thiện chức năng hô hấp của các bệnh nhân hen Việc nghiên cứu sự thay đổi chức năng thông khí phổi sau sử dụng thuốc có sự phối hợp của Montelukast phối hợp seretide (ICS + LABA)
đó được nhiều tác giả trong và ngoài nước đánh giá không những trên các bệnh nhân HPQ, VMDU có HPQ mà trên cả các bệnh nhân Bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính (BPTNMT), như kết quả của Harey S nghiên cứu sau sử dụng thuốc trong thời gian 5 tuần và của Don D Sin nghiên cứu sau 3 tháng đều khẳng định có sự cải thiện rõ rệt của các giá trị này
Thay đổi bậc hen phế quản sau điều trị
Corticosteroids dạng hít được khuyến cáo như sự lựa chọn đầu tiên cho hen dai dẳng Thuốc đã chứng minh được hiệu quả trong hen, cải thiện chức năng phổi và làm giảm những cơn hen cấp và trầm trọng Tuy nhiên nhiều bệnh nhân HPQ sử dụng Corticosteroids dạng hít vẫn tiếp tục có các triệu chứng của hen, có khả năng
do corticosteroids không hoàn toàn ngăn chặn được sự tổng hợp và giải phóng của các cysteinyl leukotrienes ở phổi Các cysteinyl leukotrienes LTC4, LTD4, LTE4 gây ra nhiều thay đổi sinh lý bệnh ở phổi của bệnh nhân HPQ, bao gồm tắc nghẽn đường thở, tăng tiết dịch nhày, giảm vận chuyển và làm sạch hệ thống niêm mạc tiết nhày, tăng tập trung tế bào viêm Các thuốc kháng leukotrienes ngăn ngừa Montelukast, chất đối kháng thụ thể leukotrien týp 1 (CysLT1) được ghi nhận làm giảm tế bào ái toan đường hô hấp ở bệnh nhân HPQ, cải thiện triệu chứng hen, cải thiện chức năng phổi, giảm sử dụng β-agonist ở bệnh nhân hen dai dẳng
Trang 6KẾT LUẬN
Các triệu chứng VMDƯ
Bệnh nhân có giảm phù nề niêm mạc mũi
chiếm tỷ lệ cao: 84,0%
Hiệu quả lâm sàng tốt và khá sau điều trị
chiếm tỷ lệ cao: 74,0%
Sự thay đổi các biểu hiện lâm sàng của các
bệnh nhân HPQ khi điều trị Montelukast phối
hợp SERETIDE:
Triệu chứng cơ năng và thực thể của hen phế
quản có sự thay đổi: 98% bệnh nhân không còn
khó thở, tần số thở trở về giới hạn bình thường,
nghe phổi không còn ran sau 12 tháng điều trị
Số bệnh nhân có cơn khó thở hàng ngày
giảm từ 48% trước điều trị xuống 32% sau 3
tháng, còn 10% sau 6 tháng và sau 12 tháng chỉ
còn 2%
Sau 12 tháng điều trị: Tỷ lệ bệnh nhân hen
bậc III giảm từ 34% xuống còn 10% và có tới 62%
không còn bệnh nhân có triệu chứng HPQ (trước
điều trị 0%)
Sự thay đổi về thông khí phổi của các bệnh
nhân HPQ khi điều trị Montelukast phối hợp
SERETIDE:
Các chỉ tiêu thông khí phổi được hồi phục dần và trở về bình thường sau 12 tháng liên tục
sử dụng thuốc
Tỷ lệ bệnh nhân bị RLTKTN giảm (từ 76% trước điều trị xuống 56% sau 3 tháng, 30% sau 6 tháng và sau 12 tháng chỉ còn 10%);
Sau 12 tháng liên tiếp dùng thuốc có 78% bệnh nhân không còn rối loạn thông khí phổi; tuy nhiên tỷ lệ RLTKHH không có sự cải thiện rõ trong quá trình điều trị
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Recommendations For Patients And Health Professionals In
10 Languages Main Category: Allergy Also Included In: Respiratory / Asthma; Ear, Nose and Throat Article Date: 26 Oct 2007 - 2:00 PDT
2 Ahmed S, Atia NN (2010) Simultaneous determination of montelukast as sparing therapy with some inhaled corticosteroids in plasma of asthmatic patients. J Pharm Biomed Anal 2013 Feb 23;74:pp.250-6
3 Bộ Y tế (2007): Hen phế quản và Dự phòng hen phế quản, Nhà
xuất bản Y học, tr 13 - 21
Ngày nhận bài báo: 17/11/2013 Ngày phản biện nhận xét bài báo: 16/12/2013 Ngày bài báo được đăng: 10/01/2014