1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Bước đầu đánh giá ứng dụng kỹ thuật cố định cột sống liên gai sau trong phẫu thuật giải ép rễ thần kinh ở những bệnh nhân chèn ép rễ kèm mất vững cột sống do thoái hóa vùng cột sống thắt

5 58 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 5
Dung lượng 430,47 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mục tiêu nghiên cứu của đề tài này nhằm ứng dụng dụng cụ cố định động liên gai sau trong điều trị những bệnh nhân chèn ép rễ thần kinh kèm mất vững cột sống do thoái hóa vùng cột sống thắt lưng cùng.

Trang 1

BƯỚC ĐẦU ĐÁNH GIÁ ỨNG DUNG KỸ THUẬT CỐ ĐỊNH CỘT SỐNG LIÊN GAI SAU TRONG PHẪU THUẬT GIẢI ÉP RỄ THẦN KINH

Ở NHỮNG BỆNH NHÂN CHÈN ÉP RỄ KÈM MẤT VỮNG CỘT SỐNG

DO THOÁI HÓA VÙNG CỘT SỐNG THẮT LƯNG

Nguyễn Vũ*, Hà Kim Trung*

TÓM TẮT

Mục tiêu: Ứng dụng dụng cụ cố định động liên gai sau trong điều trị những bệnh nhân chèn ép rễ thần

kinh kèm mất vững cột sống do thoái hóa vùng cột sống thắt lưng cùng

Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: nghiên cứu được tiến hành ở 28 bệnh nhân thu được kết quả: tỷ

lệ giới: 1/1, độ tuổi trung bình của bệnh nhân là 44,21 Các bệnh nhân được ứng dụng ở một tầng phẫu thuật với

tỷ lệ: 64,3%L4/5; 28,6% L5S1; 7,1% L3/4 Ứng dụng với các bệnh lý: trượt đốt sống do thoái hóa (14,3%), thoát

vị đĩa đệm (39,3%), hẹp ống sống (28,6%) và mất vững cột sống do thoái hóa đĩa (17,8%) Biểu hiện lâm sàng và đánh giá kết quả lâm sàng dựa vào thang điểm của VAS và Macnab

Kết quả: sau phẫu thuật, điểm trung bình VAS lưng trước mổ là: 6,04, sau mổ là 2,26; trung bình VAS

chân trước mổ là 5,07, sau mổ là 1,68 Theo macnab rất tốt và tốt: 85,7% Thời gian phẫu thuật trung bình là:

51, 6 phút trong đó dành cho việc đặt dụng cụ khoảng 7-10 phút Không có tai biến thần kinh trong cuộc mổ

Kết luận: Đây là kỹ thuật cho kết quả tốt, kỹ thuật mổ không khó khăn, ít biến chứng Nó giúp hồi phục cả

trên lâm sàng và trên phim chụp sau phẫu thuật

Từ khóa: cố định động cột sống liên gai sau, mất vững cột sống thắt lưng, bệnh lý rễ thần kinh thắt lưng

ABSTRACT

INTERSPINOUS IMPLANT FOR THE TREATMENT OF DEGENERATIVE CONDITIONS OF LUMBAR SPINE WITH RADICOPATHY AND INSTABILITY: REVIEW OF 28 CASES

Nguyen Vu, Ha Kim Trung * Y Hoc TP Ho Chi Minh * Vol 16 - Supplement of No 4 - 2012: 321 - 325

Objective: Interspinous implant for the treatment of degenerative conditions of the lumbar spine (lumbar

herniated disc, lumbar spinal stenosis, degenerative spondylolisthesis, facet joint osteoarthritis)

Methods: a total of 28 patients surgical treatment at department of neurosurgery, Viet Duc hospital from

April 2012 to august 2012 Gender ratio was 1:1, mean age of the patients was 44.21 years The frequency distribution of concerned vertebrae showed 64.3% for the segment L4/5; 28.6% for L5S1; 7.1% for L3/4 Alignment or static issues were identified separately: degenerative spondylolisthesis (14.3%), lumbar herniated disc (39.3%), lumbar spinal stenosis (28.6%) facet joint osteoarthritis (17.8%) Clinical outcome were evaluated

by visual analog scale (VAS) for back and leg pain and Macnab classification

Results: The mean times surgical is 51.6mn, no blood transfusion, no per operations complication The mean

postoperative VAS back pain score at most recent follow-up was 6.04 (4-8); preoperative mean of 2.26 (1-4); The mean postoperative VAS leg pain score at most recent follow-up was 5.07 (0-7); preoperative mean of 1.68 (0-3) Result based on Macnab classification: very good and good (85.7%)

Conclusions: Interspinous implant is a good option treating patients with degenerative conditions of the

* Bệnh viện Việt Đức Hà Nội

Tác giả liên lạc: ThS BS Nguyễn Vũ Email: drvu29@gmail.com

Trang 2

lumbar spine requiring surgery Interspinous implant provides satisfactory clinical and radiological results at midterm follow-up

Key words: Interspinous implant, lumbar spinal instability, lumbar radicopathy

ĐẶT VẤN ĐỀ

Với nền sản xuất còn thô sơ, thủ công, lao

động vẫn chủ yếu dựa vào sức người như lao

động nông nghiệp, bê vác nặng quá mức sai tư

thế, không được quan tâm đến sức khỏe nói

chung và cột trụ nâng đỡ cơ thể nói riêng nên tỷ

lệ bệnh nhân thoái hóa cột sống gây đau lưng và

tê chân gặp rất cao Các bệnh lý thoái hóa cột

sống có chèn ép nói chung (thoát vị đĩa đệm,

hẹp ống sống, trượt đốt sống ) gây ra những

biểu hiện đau lưng, đi lại khó khăn, tê chân gây

ảnh hưởng lớn tới khả năng lao động và chất

lượng sống của chính người bệnh và ảnh hưởng

đến phát triển xã hội

Điều trị phẫu thuật các bệnh lý này chủ yếu

là giải ép thần kinh (mở cung sau hoặc nửa cung

sau giải ép) thường gây ra mất vững cột sống

tăng lên với biểu hiện đau lưng trầm trọng hơn

trước mổ Một số trường hợp khác được giải ép

kết hợp nẹp vít cột sống lại gây ra hạn chế các

động tác vận động cột sống (cúi, ưỡn, xoay )

Để khắc phục những vấn đề nêu trên, dụng

cụ cố định động cột sống liên gai sau được đưa

vào thử nghiệm trên lâm sàng từ năm 1986

(Wallis), tiếp sau đó là sự ra đời của các dụng cụ

hỗ trợ khác như: Coflex, X Stop, Diam và mới

nhất là Instra Spine đã đem lại những kết quả

nhất định

Nhằm mô tả kỹ thuật thực hiện cũng như

bước đầu đánh giá hiệu quả của việc sử dụng

dụng cụ instra spine hỗ trợ trong phẫu thuật,

chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Bước

đầu đánh giá ứng dụng kỹ thuật cố định động

cột sống liên gai sau trong phẫu thuật giải ép rễ

thần kinh ở những bệnh nhân chèn ép rễ kèm

mất vững cột sống do thoái hóa vùng cột sống

thắt lưng cùng” nhằm mục tiêu:

- Mô tả và đánh giá khả năng ứng dụng kỹ

thuật đặt dụng cụ instra spine nhằm cố định

động cột sống liên gai sau

- Bước đầu đánh giá kết quả điều trị phẫu thuật giải ép thần kinh có sử dụng instra spine ở những bệnh nhân chèn ép rễ kèm mất vững cột sống do thoái hóa vùng cột sống thắt lưng cùng

ĐỐI TƯỢNG - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU Đối tượng nghiên cứu

28 bệnh nhân được sử dụng dụng cụ cố định cột sống động liên gai sau silicon (Instra Spine) tại khoa PTTK Bệnh viện Việt Đức từ 4/2012 đến 8/2012

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu mô tả tiến cứu

Các bệnh nhân được lựa chọn ngẫu nhiên, phù hợp với chỉ định sử dụng Instra Spine Tất

cả các bệnh nhân được khám lâm sàng tỉ mỉ, thăm dò cận lâm sàng bằng chụp x quang quy ước và chụp cộng hưởng từ, thu thập số liệu theo mẫu bệnh án nghiên cứu thống nhất Ghi nhận những khó khăn và các tai biến trong mổ khi đưa dụng cụ instra spine và liên gai sau Đánh giá kết quả phẫu thuật bằng thang điểm

VAS và bảng phân loại sau mổ của Macnab

Dụng cụ Intra Spine

Kỹ thuật thực hiện

Trang 3

Xử lý số liệu

Tất cả số liệu thu thập và xử lý theo thuật

toán thống kê y học thông thường

KẾT QUẢ VÀ BÀN LUẬN

Tuổi và giới tính

Trong nghiên cứu của chúng tôi giới tính là

tương đương nhau: 1/1 Các tác giả khác cũng

cho thấy kết quả tương tự: Rolf (1,1/1); J.Taylor

(55/49) (6,4)

Độ tuổi trung bình của bệnh nhân trong

nghiên cứu là: 44,21 (17-65), các tác giả khác trên

thế giới thường gặp độ tuổi cao hơn: J.Taylor

(51,2); Rolf (60,8) (6,4) Điều này hoàn toàn phù

hợp với việc lựa chọn đối tượng nghiên cứu là

những bệnh nhân thoái hóa cột sống kèm mất

vững cột sống do thoái hóa tăng dần theo độ

tuổi

Vị trí đặt dụng cụ

Trong nghiên cứu, chúng tôi chỉ đánh giá

những bệnh nhân đặt dụng cụ một tầng Chủ

yếu được áp dụng ở tầng L4L5: 18 bệnh nhân

(64,3%), có 2 bệnh nhân áp dụng ở L3L4 và đặc

biệt có 8 bệnh nhân (28,6%) được áp dụng ở

L5S1 Các tác giả trên thế giới như J.Taylor (L4L5

57%); Rolf (L4L5 72,9%)(6,4) Điều này là phù

hợp với bệnh học cũng như nghiên cứu của các

tác giả: thường gặp tổn thương ở vùng L4L5 là

vùng bản lề của cột sống, thường xuyên chịu

trọng tải lớn của cơ thể và lực bổ xung của các

hoạt động khác và là nơi vận động có biên độ

lớn nhất Đặc biệt, chúng tôi áp dụng cho 28,6%

bệnh nhân ở vùng L5S1, đây cũng là nơi thường

gặp tổn thương tuy nhiên dụng cụ Intra Spine

áp dụng được cho vị trí này trong khi một số

dụng cụ cố định động cột sống liên gai sau khác

không áp dụng được ở vị trí này

Các bệnh lý được ứng dụng dụng cụ Intra

Spine

Trong nghiên cứu này, có 4 bệnh nhân trượt

đốt sống thắt lưng độ 1 do thoái hóa (14,3%), 5

bệnh nhân có biểu hiện mất vững cột sống đơn

thuần (17,8%), 11 bệnh nhân thoát vị đĩa đệm

(39,3%) và 8 bệnh nhân hẹp ống sống (28,6%) Nghiên cứu của các tác giả khác trong nước cũng như trên thế giới với những dụng cụ cố định động cột sống liên gai sau cũng áp dụng cho những bệnh lý khác nhau như nghiên cứu của chúng tôi (J.Taylor; Rolf, KA.Kim ) (6,4,3); tất

cả những bệnh lý được áp dụng trên đều có đặc điểm chung là: sự mất vững của cột sống thắt lưng mà biểu hiện lâm sàng điển hình là đau thắt lưng mạn tính, tăng lên khi vận động, có hoặc không có kèm theo các biểu hiện của chèn

ép rễ và đặc biệt tất cả bệnh nhân đều dương tính với test “áo nẹp cột sống”

Biểu hiện lâm sàng và hình ảnh cận lâm sàng

Biểu hiện lâm sàng

100% bệnh nhân có biểu hiện đau thắt lưng, thường là đau tái đi tái lại nhiều lần, có liên quan đến các hoạt động gắng sức, 82,2% bệnh nhân có đau kiểu rễ một hoặc hai bên, tất cả bệnh nhân đau kiểu rễ đều có biểu hiện rối loạn cảm giác tê bì theo rễ thần kinh bị chèn ép chi phối, không có bệnh nhân nào có teo cơ hoặc rối loạn cơ tròn hay hội chứng đuôi ngựa, đặc biệt

có 12 bệnh nhân có biểu hiện đi lặc (42,9%) từ 200-500m và có 17,8% hoàn toàn không có biểu hiện chèn ép rễ thần kinh

Hình ảnh cận lâm sàng

Xquang cột sống thắt lưng quy ước và Xquang tư thế động

Tất cả bệnh nhân được chụp x quang quy ước để đánh giá hình ảnh học chung của cột sống thắt lưng và x quang tư thế động để đánh giá độ mất vững của cột sống, hình ảnh thu được không thấy mức độ thay đổi mất vững cột sống rõ rệt giữa phim chụp cúi tối đa và phim chụp ưỡn tối đa Vì vậy, trong nghiên cứu này đánh giá mất vững cột sống phải dựa vào thực

tế kiểm tra trong mổ và test “áo nẹp cột sống” dương tính trước mổ

Hình ảnh cột hưởng từ

100% bệnh nhân được chụp cộng hưởng từ

để đánh giá cho kết quả:

Trang 4

Có 17,8% bệnh nhân không có hình ảnh

chèn ép rễ hay ống sống trên phim, chỉ có biểu

hiện thoái hóa đĩa đệm là những bệnh nhân

không có biểu hiện chèn ép rễ trên lâm sàng

39,3% bệnh nhân có biểu hiện chèn ép trung tâm

lệch một hoặc hai bên-chèn ép vào lỗ ghép đặc

biệt trong nhóm này có hai bệnh nhân (18,2%)

thoát vị di trú xuống dưới 28,6% bệnh nhân có

biểu hiện hẹp ống sống do phì đại dây chằng

vàng và phì đại mấu khớp, 14,3% bệnh nhân

hẹp nặng ống sống do một phần cung sau và tổ

chức xơ hai bên chèn ép, những bệnh nhân này

hình ảnh đĩa đệm chủ yếu là thoái hóa đĩa,

không có thoát vị

Kết quả phẫu thuật

Thời gian phẫu thuật trung bình là: 51,6

phút (30-75 phút); so với những phẫu thuật

thoát vị đĩa đệm hay phẫu thuật hẹp ống sống

kinh điển thì thấy thời gian cũng tương đương

nhau, điều này cho thấy phẫu thuật đặt Intra

Spine cũng không mất thêm nhiều thời gian để

thực hiện kỹ thuật này Thực tế trong cuộc mổ,

¾ thời gian là dành cho việc giải ép thần kinh và

đánh giá mức độ mất vững để quyết định có sử

dụng Intra Spine không, ¼ thời gian còn lại là

dành cho chuẩn bị vị trí và kỹ thuật đặt dụng cụ

Intra Spine và có/không tái tạo dây chằng

Hầu hết lượng máu mất trong phẫu thuật là

không đáng kể, tất cả bệnh nhân đều không

phải truyền máu và không có biểu hiện thiếu

máu trên lâm sàng

Thời gian nằm viện trung bình của bệnh

nhân: 4,18 (3-5 ngày)

Tai biến và khó khăn trong phẫu thuật

Một số nghiên cứu của các tác giả trong

nước và thế giới ghi nhận những biến chứng

như: rách màng cứng ống sống- tổn thương rễ

thần kinh, gãy gai sau, không đặt được dụng cụ

hay nhầm tầng Nghiên cứu của chúng tôi

không gặp những biến chứng này Theo J.Taylor

biến chứng gãy gai sau thường do lỗi phẫu

thuật viên quá thô bạo khi dùng dụng cụ mở

rộng liên gai sau hoặc do lựa chọn kích thước

dụng cụ quá lớn so với bệnh nhân, hay biến

chứng rách màng cứng hoặc tổn thương rễ thần kinh thường ở những bệnh nhân hẹp kít ống sống, rất dính khó giải ép mà thường những bệnh nhân này cần giải ép thật rộng rãi và nên lựa chọn những kỹ thuật cố định triệt để hơn(6)

Vì vậy, để tránh những tai biến kể trên cần chỉ định phẫu thuật đúng (lựa chọn bệnh nhân thực hiện kỹ thuật), lựa chọn Intra Spine phù hợp và đặc biệt là cẩn trọng trong phẫu thuật và thành thạo kỹ thuật đặt dụng cụ cố định động cột sống liên gai sau

Trong nghiên cứu của chúng tôi có hai bệnh nhân nhiễm trùng vết mổ phải vào viện lại sau phẫu thuật 2 tuần, tuy nhiên cả hai bệnh nhân này được điều trị nội khoa khỏi không ảnh hưởng tới dụng cụ, không phải tháo bỏ dụng

cụ

Kết quả sau phẫu thuật

Chúng tôi lựa chọn hai thang điểm là VAS

và Macnab để đánh giá bệnh nhân VAS thường

sử dụng trong các trường hợp cấp tính tuy nhiên lại là thang điểm đơn giản, có thể ứng dụng được rộng rãi, rất dễ dàng cho chính người bệnh tự đánh giá về mức độ đau của mình

Đánh giá cải thiện mức độ đau của bệnh nhân theo thang điểm VAS chúng tôi thu được: VAS lưng: 2,26; VAS chân: 1,68

Có thể thấy rõ việc cải thiện mức độ đau rõ rệt sau mổ dựa vào thang điểm VAS cả với đau lưng và đau tê chân Mức độ đau lưng cải thiện

từ trung bình: 6,04 xuống 2,26 lúc ra viện và cải thiện mức độ đau lan xuống chân trung bình: 5,07 xuống 1,68 lúc ra viện Hầu hết tất cả các bệnh nhân được sử dụng Intra Spine đều cảm thấy hài lòng về mức độ đau được cải thiện khi

ra viện Các tác giả khác trên thế giới áp dụng các dụng cụ khác cũng cho kết quả: J.Taylor (cải thiện triệu chứng ở 88,5 % các trường hợp), các tác giả khác như Bhadra hay Lee cho thấy mức

độ cải thiện triệu chứng ở 60-93% số bệnh nhân(1,4)

Trang 5

Có 12 bệnh nhân (42,9%) có biểu hiện đi lặc

trước mổ thì sau mổ 1 tháng bệnh nhân đã có

thể đi lại được bình thường 500-1000m mà

không có biểu hiện chèn ép rễ và đau lưng tăng

lên Điều này cho thấy sự cải thiện rõ rệt về lâm

sàng và đáp ứng tốt với việc đặt dụng cụ cố

định động cột sống liên gai sau ở những bệnh

nhân hẹp ống sống có mất vững cột sống kèm

theo

Đánh giá mức độ cải thiện và hòa nhập cuộc

sống theo Macnab

Theo bảng phân loại của Macnab, tất cả các

bệnh nhân đều được hỏi về mức độ đau và khả

năng làm việc và sinh hoạt hàng ngày sau mổ ít

nhất 1 tháng cho thấy kết quả theo Macnab: rất

tốt và tốt chiếm 85,7% và các triệu chứng đều cải

thiện dần theo thời gian Nghiên cứu của KA

Kim cũng có chung nhận xét khi nghiên cứu so

sánh giữa nhóm có và không sử dụng dụng cụ

liên gai sau trong vòng 1 năm (3)

Hình ảnh cộng hưởng từ sau mổ

Có 6 bệnh nhân được chụp cộng hưởng từ

sau mổ 6 tháng chúng tôi thu được hình ảnh: tất

cả hình ảnh cho thấy không còn chèn ép rễ hoặc

chèn ép vào ống sống, rễ thần kinh hai bên bình

thường không có hiện tượng phù rễ thần kinh

hay chèn ép rễ Hình ảnh đĩa đệm thoái hóa

được tăng chiều cao ở những bệnh nhân có và

không có lấy đĩa đệm, đặc biệt hình ảnh lỗ tiếp

hợp rộng rãi trên tất cả các phim chụp kiểm tra

Điều này cho thấy mức độ cải thiện rõ rệt đặc

biệt ở những bệnh nhân có hẹp lỗ ghép do mất

vững cột sống và ở bệnh nhân trượt đốt sống do

thoái hóa độ 1 mà chèn ép thần kinh ở phía bên

xa hay lỗ ghép SW Hong, KA Kim, J Taylor

cũng có chung những nhận định như chúng tôi

chúng tôi quá ít, mới bắt đầu tiến hành áp dụng

nên đây mới chỉ là nhận định chủ quan ban đầu

của chúng tôi

KẾT LUẬN

Ứng dụng dụng cụ cố định động cột sống

liên gai sau Intra Spine áp dụng cho những bệnh

nhân có chèn ép rễ kèm mất vững cột sống vùng thắt lưng cùng do thoái hóa cho thấy:

- Thời gian tiến hành kỹ thuật ngắn, không

có sự khác biệt đáng kể giữa phẫu thuật giải ép thần kinh thông thường với giải ép kèm đặt dụng cụ Intra Spine

- Là kỹ thuật an toàn, dễ tiến hành, không có ghi nhận các biến chứng thần kinh cũng như biến chứng di lệch dụng cụ ở những bệnh nhân trong nghiên cứu

Đánh giá kết quả bước đầu sử dụng Intra Spine

- Mức độ cải thiện rõ rệt các biểu hiện lâm sàng đặc biệt là triệu chứng đau thắt lưng và dấu hiệu đi lặc ở các bệnh nhân dựa trên việc đánh giá theo thang điểm VAS và Macnab

- Theo dõi và đánh giá sau mổ từ 1-6 tháng cho thấy biểu hiện đau thắt lưng không tăng lên, các biểu hiện lâm sàng khác tiến triển dần tốt lên theo thời gian

- Bước đầu nhận định trên phim chụp cộng hưởng từ kiểm tra cho thấy mức độ tiến triển nhất định về kích thước lỗ ghép và chiều cao đĩa đệm tuy nhiên đây mới chỉ là nhận xét chủ quan

do chưa có số liệu đủ lớn và cụ thể

TÀI LIỆU THAM KHẢO

stenosis: a prospective cohort Eur J Orthop Surg Traumatol, 18: 489-493

treatment of degenerative spondylolisthesis: midterm clinical results J Neurosurg Spine, 13: 27-35

posterior stabilization: case-control study on the safety, sagittal angulation, and pain outcome at 1-year follow-up evaluation Neurosurg Focus, 22, E7: 1-9

artificial ligament for mildly unstable lumbar spinal stenosis: a multicenter comparison Arch Orchop Trauma Surg

5 Sobottke R et al (2009) Interspinous im plants (X Stop, Wallis, Diam) for the treatment of LSS: is there a correlation between radiological parameters and clinical outcome? Eur Spine J, 18: 1494-1503

6 Taylor J et al (2007) Device for intervertebral assisted motion: technique and initial results Neurosurg Focus, 22, E6: 1-6

Ngày đăng: 22/01/2020, 08:17

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w