1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

So sánh phương pháp hóa mô miễn dịch và lai tại chỗ huỳnh quang đánh giá HER2 trong ung thu vú

8 121 1

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 8
Dung lượng 510,29 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tình hình nghiên cứu và mục tiêu của đề tài trình bày về việc ứng dụng các phương pháp HMMD và FISH xác định tình trạng HER2/ung thư vú nhằm đưa ra kết quả chính xác nhất để bệnh nhân nhận được phác đồ điều trị thích hợp nhất. Mời các bạn cùng tham khảo bài viết để nắm rõ nội dung chi tiết.

Trang 1

SO SÁNH PHƯƠNG PHÁP HÓA MÔ MIỄN DỊCH VÀ LAI TẠI CHỖ HUỲNH QUANG ĐÁNH GIÁ HER2 TRONG UNG THU VÚ

Đoàn Thị Phương Thảo*, Hứa Thị Ngọc Hà*, Phan Đặng Anh Thư, Nguyễn Thị Hồng Nguyệt*,

Lý Thanh Thiện*, Đặng Hoàng Minh*

TÓM TẮT

Giới thiệu: Ứng dụng các phương pháp HMMD và FISH xác định tình trạng HER2/ ung thư vú nhằm

đưa ra kết quả chính xác nhất để bệnh nhân nhận được phác đồ điều trị thích hợp nhất

Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang Phương pháp HMMD: thực hiện

trên máy tự động Ventana, sử dụng PATHWAY™ HER2 (clone CB11) là một kháng thể đơn dòng phát hiện kháng nguyên c-2erbB trong các mẫu ung thư Đã được FDA chấp thuận Phương pháp lai tại chỗ huỳnh quang (FISH): dùng bộ kit Path Vysion, cũng đã được FDA chấp thuận và ASCO and CAP khuyến cáo là “tiêu chuẩnvàng” cho đánh giá sự khuếch đại gen HER2

Kết quả: Khảo sát 264 trường hợp thực hiện đồng thời HMMD và FISH -Kết quả HMMD: tỉ lệ dương

tính 3(+) 26,9%, nếu xem cả những trường hợp 2(+) là dương tính thì tỉ lệ HER2 (+) trên HMMD là 39,8% Kết quả âm tính 60,2% -Kết quả FISH: không khuếch đại là 67% và khuếch đại là 33% Tỉ lệ HER2/CEP17 ≥ 2,0 là ngưỡng để đánh giá có khuếch đại Khuếch đại giáp biên 6,1%, khuếch đại thấp 9,5%, khuếch đại cao

17,4% Trong nghiên cứu này, thống kê Cramer’s V = 0,94 với p=0,001, cho thấy mối quan hệ giữa hai phương

pháp này tương quan mạnh và giữa hai phương pháp có sự khác biệt nhỏ, đặc biệt là nhóm HMMD 2(+)

Từ khóa: Hóa mô miễn dịch, Lai tại chỗ huỳnh quang, HER2

ABSTRACT

COMPARISON METHODS IMMUNOHISTOCHEMISTRY AND FLUORESCENT IN SITU

HYBRIDIZATION ASSESSMENT HER2 GENE IN BREAST CANCER

Doan Thi Phuong Thao, Hua Thi Ngoc Ha, Nguyen Thi Hong Nguyet, Ly Thanh Thien, Dang Hoang Minh, * Y Hoc TP Ho Chi Minh * Vol 15 - Supplement of No 4 - 2011: 174 - 181

Introduction: Application of IHC and FISH methods to determine HER2 status in breast cancer in order to

provide the most accurate results for patients receiving treatment most appropriate

Methods: IHC: Immunohistochemical analysis was performed as specified by the autoimmunostainer using

the Pathway kit The slides then were placed on an autoimmunostainer using the primary monoclonal antibody and polymer detection system supplied by Ventana FISH: FISH was performed as specified by the manufacturer, with a guideline to improve the accuracy of HER2 testing in invasive breast cancer of ASCO and CAP The PathVysion kit includes a Spectrum Orange-labeled DNA probe specific for the HER2 gene locus and a Spectrum Green-labeled probe specific for the alpha satellite DNA sequence at the centromeric region of chromosome 17 (CEP17) FISH and IHC results were compared with each other by means of Cramer's V statistics

Result: 264 cases performed simultaneously IHC and FISH IHC: HER2 3(+) 26.9%, HER2 2(+) 12.9%,

HER(-): 60.2% FISH: Non Amplified: 67.0%; Border Amplified: 6.1%; Low-Copy Amplified: 9.5%; High-Copy amplified: 17.4%; Correlation between IHC and FISH assays: IHC (-) cases : Non Amplified: 153/159 (96.2%);

Bộ Môn Giải Phẫu Bệnh – Đại Học Y Dược TP.HCM

Tác giả liên lạc: ThS Đoàn Thị Phương Thảo ĐT: 0938008418 Email: thaodoanthiphuong@ymail.com

Trang 2

Border Amplified: 4/159 (2.5%); Low-Copy Amplified: 2/159 (1.3%); High-Copy amplified: Non IHC2+ cases: Non Amplified: 22/34 (64.7%); Border Amplified: 8/34 (23.5%); Low-Copy Amplified: 2/34 (5.9%); High-Copy amplified: 2/34 (5.9%) IHC 3+ cases: Non Amplified: 2/71 (2.8%); Border Amplified: 4/71 (5.6%); Low-Copy Amplified : 21/71 (29.6%); High-Copy amplified: 44/71 (62.0%) Cramer's V statistics = 0.94 with p=0.001

Conclusions: Correlation between IHC and FISH assays is intermediate FISH should be done for all

patients in need of treatment with Trastuzumab

Key words: IHC, FISH, HER2

ĐẶT VẤN ĐỀ

Ung thư vú có 18% đến 30%(25,29), biểu hiện

quá mức của HER2 Sự khuếch đại gen và/hoặc

biểu hiện quá mức của thụ thể HER2 là yếu tố

tiên lượng cho cả các trường hợp đã di căn hoặc

chưa, tiên đoán đáp ứng hóa trị liệu và không

đáp ứng nội tiết và là chỉ định cho điều trị kháng

thể đơn dòng trastuzumab(6,15).Tầm quan trọng

của tình trạng HER2 trong việc đưa ra quyết

định điều trị, những bệnh nhân có kết quả

dương tính giả sẽ không hưởng lợi từ các liệu

pháp điều trị .nguy cơ gây độc cho cơ tim khi

điều trị kháng thể đơn dòng(26) đã khiến các nhà

nghiên cứu tập trung chú ý vào độ nhạy và độ

đặc hiệu của các xét nghiệm khác nhau dùng để

xác định tình trạng HER2 Các xét nghiệm đánh

giá HER2 phải là định lượng hoặc bán định

lượng, có khả năng lặp lại và phải là xét nghiệm

phân biệt rõ ràng giữa các tế bào u có hoặc

không khuếch đại/biểu hiện quá mức HER2(12,16)

Để xác định tình trạng HER2, những phương

pháp dựa vào hình ảnh mô học như Hóa mô

miễn dịch (IHC), lai tại chỗ huỳnh quang (FISH)

đã thay thế được các phương pháp khác như

Southern blot, xét nghiệm hấp thụ miễn dịch liên

kết men (enzyme-linked immunosorbent assay),

và PCR, những xét nghiệm này đòi hỏi phải sử

dụng mô tươi, ly giải toàn bộ mẫu mô nên kết

quả có thể không chính xác do sự trộn lẫn giữa

mô ung thư và mô lành(18,13)

Mục tiêu nghiên cứu

Chúng tôi thực hiện nghiên cứu này nhằm

- Xác định tỉ lệ khuếch đại HER2 trong ung

thư vú

- Đánh giá mức độ tương hợp giữa hai

phương pháp Hóa Mô Miễn Dịch và Lai Tại Chỗ

Huỳnh Quang

ĐỐI TƯỢNG PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU Đối tượng

Tất cả bệnh nhân được chẩn đoán ung thư

vú tại Bộ môn Giải phẫu bệnh Đại Học Y Dược

TP Hồ Chí Minh trong năm 2009

Được thực hiện đồng thời hóa mô miễn dịch

và FISH

Hóa Mô Miễn Dịch

Thực hiện trên máy tự động Ventana, sử dụng PATHWAY™ HER2 (clone CB11) là một kháng thể đơn dòng phát hiện kháng nguyên c-2erbB trong các mẫu ung thư Đã được FDA (Food and Drug Administration) chấp thuận(4) Người khảo sát HMMD độc lập với người khảo sát FISH

Chúng tôi cho điểm theo thang điểm khuyến cáo của nhà sản xuất

0: màng tế bào ung thư xâm lấn hoàn toàn không bắt màu

1(+): màng tế bào ung thư xâm lấn bắt màu rãi rác, nhạt

2(+): màng tế bào ung thư xâm lấn bắt màu hoàn toàn, mỏng, nhạt ≥30%

3(+): màng tế bào ung thư xâm lấn bắt màu hoàn toàn, dày, đậm, ≥30%

Tất cả những trường hợp nhuộm bào tương đều được nhuộm lại

Lai tại chỗ huỳnh quang (FISH)(30)

FISH được thực hiện theo quy trình của nhà sản xuất Bộ kit bao gồm đoạn dò PathVysion DNA Spectrum Orange-đặc hiệu cho gen HER2 và đoạn dò Spectrum Green đặc hiệu cho các trình tự DNA tại tâm động của nhiễm sắc thể 17 (CEP17)

Trang 3

Luôn luôn cắt hai tiêu bản song song,

nhuộm H&E và làm FISH

Trên tiêu bản H&E xác định chính xác vùng

tế bào ung thư xâm lấn, đối chiếu với tiêu bản

thực hiện FISH

Mẫu được cắt mỏng 4-μm, gắn lên tiêu bản

đã được tráng organosilane

Khử sáp

Pretreate trong axit Clohydric 0.2N và natri

thiocyanate theo quy định

Khử protein màng nhân trong dung dịch

protease ở 37°C trong 6-7’, tùy mẫu (thay vì 10’,

theo quy định trong bao bì)

Sau khi rửa, các tiêu bản được cố định trong

formalin đệm trung tính 10’

Rửa sạch, sấy khô

Lai với hỗn hợp đoạn dò kép HER2/CEP17

trong vòng 18 giờ

Rửa sau lai, sấy khô, nhuộm tương phản nền

với DAPI

Bảo quản tiêu bản ở -20°C và được khảo sát

trong vòng 24 giờ

Cách đánh giá tiêu bản FISH

Chúng tôi khảo sát FISH theo hướng dẫn

của nhà sản xuất Tín hiệu Spectrum Orange và

Spectrum Green được đếm trong 20 nhân tế bào

ung thư xâm lấn không chồng chất, trường hợp

tỉ lệ chưa phân định được khuếch đại hay không

hoặc giáp biên, chúng tôi đếm 40 nhân, 60 nhân

ung thư Tổng số tín hiệu màu cam (HER2) và

tín hiệu màu xanh lá cây (CEP17) được ghi nhận

và tính tỷ lệ HER2/CEP17

-Tỉ lệ HER2/CEP17 < 2,0: không khuếch đại

-Tỉ lệ HER2/CEP17 ≥ 2,0: khuếch đại

-2,0 ≤ Tỉ lệ HER2/CEP17 < 2,5: khuếch đại

GIÁP BIÊN

-2,5 < Tỉ lệ HER2/CEP17 < 5: khuếch đại

THẤP

-Tỉ lệ HER2/CEP17 ≥ 5: khuếch đại CAO

Số tín hiệu màu xanh lá cây sẽ xác định số lượng nhiễm sắc thể 17 tùy theo số lượng là 1, 2

và 3 hoặc nhiều hơn tương ứng nhiễm sắc thể 17 đơn bội, lưỡng bội, và đa bội

Phương pháp thông kê

Sử dụng phần mềm SPSS 17.0

KẾT QUẢ

Sau khi loại bỏ những trường hợp không đạt yêu cầu (tín hiệu huỳnh quang không rõ ràng), chúng tôi khảo sát 264 mẫu ung thư vú được làm đồng thời HMMD và FISH, được kết quả như sau:

Các đặc điểm nhóm bệnh nhân nghiên cứu

Tuổi: tuổi trung bình 50,8 ± 11,1, trung vị 50 tuổi

Nhóm tuổi Số ca Tỉ lệ %

Tổng cộng 264 100,0

Phân độ mô học ung thư

Phân độ mô học: trong nhóm 244 ca NOS được đánh giá độ mô học theo bảng sau:

Độ mô học Số ca Tỉ lệ

Trang 4

Kết quả hóa mô miễn dịch

Bảng 1: Kết quả hóa mô miễn dịch

HMMD Số trường hợp Tỉ lệ %

Tỉ lệ dương tính 3(+) là 71 trường hợp

(26,9%), nếu xem cả những trường hợp 2(+) là

dương tính thì tỉ lệ HER2 (+) trên HMMD là

39,8%

Kết quả FISH

Bảng 2 Kết quả FISH

Kết quả FISH Số trường hợp Tỉ lệ %

Không khuếch đại 177 67,0 Khuếch đại giáp biên 16 6,1 Khuếch đại thấp 25 9,5 Khuếch đại cao 46 17,4

Không khuếch đại gen HER2 là 67% và khuếch đại là 33%

Tỉ lệ HER2/CEP17 = 2,0 là ngưỡng để đánh giá

có khuếch đại

Khuếch đại giáp biên 16 trường hợp (6,1%) Khuếch đại thấp 25 trường hợp (9,5%)

Khuếch đại cao 46 trường hợp (17,4%)

Tương hợp giữa hai kết quả

Kết quả FISH Không khuếch đại Khuếch đại giáp biên Khuếch đại thấp Khuếch đại cao Tổng cộng

Âm tính

2+

Kết quả

HMMD

3+

Tổng cộng

Cramer’s V = 0,649 với p= 0,001

Đánh giá sự tương quan giữa hai kết quả của

hai phương pháp HMMD và FISH, chúng tôi

dùng phép thống kê Cramer’s V là phương

pháp thông kê đánh giá mức độ quan hệ mật

thiết của hai mẫu Thống kê Cramer’s V có hai

giá trị 0 và 1, giá trị 0 cho biết không có mối

quan hệ nào và giá trị 1 cho biết mối quan hệ

giữa hai phương pháp là hoàn hảo

Trong nghiên cứu này, Cramer’s V = 0,649

với p=0,001, cho thấy mối quan hệ giữa hai

phương pháp này tương quan khá và giữa hai

phương pháp có sự khác biệt nhỏ về xác định

tình trạng HER2, đặc biệt là nhóm

HER22(+)/HMMD

Nhóm HMMD âm tính có 6/159 trường hợp khuếch đại gen HER2 chiếm 3,8%, trong đó có 2 trường hợp khuếch đại thấp và 4 trường hợp khuếch đại giáp biên, không có khuếch đại cao Nhóm HMMD 3(+) có 2/71 trường hợp không khuếch đại gen HER2 chiếm 2,8% và khuếch đại cao 62%

Nhóm HMMD 2(+) đây là nhóm khó tiên đoán có khuếch đại gen hay không, bắt buộc phải làm thêm FISH Trong nhóm này có 12/34 khuếch đại gen HER2 chiếm 35,3%

Trang 5

So sánh tỉ lệ đa bội nhiễm sắc thể 17 với

HMMD

Bảng 4 So sánh tỉ lệ đa bội nhiễm sắc thể 17 với

HMMD

Số trường hợp Tỉ lệ %

Tỉ lệ đa bội nhiễm sắc thể 17: 12/264 trường

hợp, chiếm 4,5%

So sánh trung bình bản sao HER2 với tỉ lệ

HER2/CEP17

Bảng 5 So sánh trung bình tín hiệu HER2 với tỉ lệ

HER2/CEP17

Trung bình bản sao HER2/nhân

Tổng cộng

≤4 >4

Không

khuếch đại

% 92,7% 7,3% 100

Khuếch đại

% 0% 100,0% 100

Tổng cộng

% 62,4% 37,5% 100

Trong nghiên cứu này chúng tôi chỉ sử dụng

bộ kít Path Vysion, đánh giá đồng thời cả HER2

và CEP 17 Mục đích chính của nghiên cứu

không phải là so sánh sự khuếch đại gen giữa

các phương pháp, nhưng chúng tôi cung cấp số

liệu này để cho thấy sự cần thiết phải chọn

những bộ kít có cùng đánh giá CEP 17 và HER2,

Nếu như định nghĩa là số bản sao HER2/nhân ≥ 4

được xem là trị số tuyệt đối(30) có khuếch đại gen

thì trong nghiên cứu này có đến 99 trường hợp

Sau khi tính tỉ lệ số bản sao HER2/CEP17 thì kết

quả có 13/94 trường hợp là không khuếch đại do

tỉ lệ HER2/CEP17 <2 Cả 12 trường hợp này đều

rơi vào nhóm đa bội nhiễm sắc thể 17

BÀN LUẬN

Về kết quả HMMD

Đã có rất nhiều công trình nghiên cứu trong và

ngoài nước ứng dụng nhiệu loại kháng thể khác

nhau, thực hiện theo nhiều cách khác nhau công bố

về tỉ lệ biểu hiện quá mức của thụ thể HER2 trong ung thư vú Tuy nhiên cho tới hiện nay có hai xét nghiệm đã được FDA chấp thuận dùng để xác định biểu hiện quá mức của thụ thể HER2 trên bệnh nhân ung thư vú: HercepTest (DakoCytomation, Glostrup, Đan Mạch), Pathway (Ventana Medical Systems Inc, Tucson, Ariz)

Trong nghiên cứu này chúng tôi sử dụng bộ Pathway (Ventana Medical Systems Inc, Tucson, Ariz) dùng trên máy nhuộm tự động Qui trình nhuộm máy đã giảm thiểu được nhuộm nền và các tình trạng nhuộm không đặc hiệu

Trong số 264 trường hợp, các các tiêu bản đều có đủ biểu mô lành tính để đánh giá nhuộm nền theo một số nghiên cứu của các tác giả Jacobs và cộng sự(9,13) và Lehr và cộng sự(11,13) Biểu mô bình thường có thể bắt màu ở màng đáy và màng bên nhưng các bề mặt tế bào biểu

mô và các tế bào cơ biểu mô xung quanh ống luôn luôn âm tính Khi xem lại 2 trường hợp HMMD 3(+), nhưng FISH không khuếch đại 1 trường hợp có biểu mô ống tuyến vú bình thường bắt màu toàn bộ màng, cho nên trong trường hợp này là dương tính giả, nguyên nhân

có thể do mẫu được cố định dài hơn 48giờ 1 trường hợp khác là đa bội nhiễm sắc thể 17 có số lượng nhiễm sắc thể 17 trung bình là 8,5 và số trung bình bản sao HER2 là 15

Về kết quả FISH

Ứng dụng kỹ thuật FISH để đánh giá sự khuếch đại gen HER2 đã được Slamon(21) nghiên cứu thành công và năm 1997 Đặc biệt, đến tháng 9/1998 một loại kháng thể đơn dòng kháng HER2 (Trastuzumab) được FDA chấp thuận cho điều trị ung thư vú giai đoạn trễ Sau

đó rất nhiều công trình nghiên cứu ứng dụng kỹ thuật lai tại chỗ trên mô vùi nến Hiện nay, phương pháp được xem là “tiêu chuẩn vàng” dùng để đánh giá tình trạng HER2 là FISH(30,13) Chúng tôi dùng bộ kit Path Vysion, đã được FDA chấp thuận

Để có kết quả này, chúng tôi đã làm thử nghiệm khoảng 50 ca, hoàn chỉnh quy trình,

Trang 6

những kinh nghiệm được rút ra đã được báo cáo

trong lần hội thảo giải phẫu bệnh năm 2009

Phần lớn các trường hợp chúng tôi đều thực

hiện thành công, tuy nhiên có một số trường

hợp chúng tôi phải lặp lại nhiều lần mới đạt kết

quả Quan trọng nhất là thời gian khử protein

màng nhân phải phù hợp, nếu quá ngắn protein

màng nhân chưa tiêu hết đưa đến đoạn dò

không bắt cặp được nhưng nếu quá dài màng

nhân tan hết sẽ mất hết tín hiệu di truyền(30)

Về mối tương quan giữa hai phương pháp

Phương pháp HMMD đã phát triển hơn 10

năm và FISH từ năm 2009 đến nay, chúng tôi

thực hiện song song HMMD và FISH trên tất cả

bệnh nhân được chỉ định làm HER2/FISH

Với phép kiểm thông kê Cramer’s V = 0,94,

cho thấy mối tương quan giữa hai phương pháp

là rất mạnh

Nhóm HMMD (-) và 3(+) tương hợp cao với

các kết quả FISH Tuy nhiên, trong nhóm HMMD

(-) vẫn có 3,8% có khuếch đại, nhưng nẳm trong

nhóm khuếch đại giáp biên và khuếch đại thấp

Rà soát lại các mẫu này chúng tôi thấy tất cả các

mẫu đều được gửi từ các phòng GPB có dung

dịch cố định mẫu là formalin 10% nhưng không

đệm trung tính Có thể các thụ thể HER2 đã hư,

mặc dù đã tối ưu hóa quy trình HMMD chúng tôi

cũng không bộc lộ được thụ thể Khi thực hiện

FISH trên những trường hợp này chúng tôi cũng

gặp khó khăn, thường là phải lặp lại lần hai để tối

ưu hóa thời gian khử protein màng nhân Nhóm

HMMD 3(+) có 2/44 trường hợp không khuếch

đại, chiếm 2,8% Nguyên nhân có thể đã được giải

thích ở trên là ảnh hưởng của dung dịch cố định

và thời gian cố định Trong nghiên cứu của

Pauletti G(16) cho thấy tỉ lệ phát hiện biểu hiện quá

mức của thụ thể HER2 nhưng không khuếch đại

gen là 3%

Nhóm HMMD 2(+) đây là nhóm có kết quả

FISH thay đổi, 64,7% không khuếch đại 12/34

chiếm 35,3% có khuếch đại gen, phân bố từ

khuếch đại giáp biên cho đến cao Trong nhóm này có một trường hợp chúng tôi phải thực hiện phương pháp FISH đến 3 lần, đến lần thứ 3 thì chúng tôi mới xác định được kết quả là tỉ lệ HER2/CEP17 = 1,9/40 nhân tế bào, có đa bội nhiễm sắc thể 17 Sau đó bệnh nhân tự gửi mẫu sang Singapore và kết quả là HER2/CEP17 = 1,5/60 nhân tế bào Kiểm tra lại trường hợp này, các tuyến bình thường có HMMD (+), và tìm hiểu thêm chúng tôi biết trường hợp này cố định bằng dung dịch formalin đệm trung tính nhưng thời gian cố định <6 giờ Thời gian cố định rất quan trọng, tốt nhất là từ 6-48g, nếu quá ngắn hoặc quá dài đều ảnh hưởng đến kết quả(30) Diễn tiến lâm sàng của những trường hợp có HMMD(+) nhưng FISH(-) đã được Pauletti G(16,13)

nghiên cứu với cỡ mẫu 900 bệnh nhân ung thư

vú, không cho thấy có sự khác biệt giữa hai nhóm HMMD(+) và FISH(-) và HMMD(-)/ FISH(-) Chứng tỏ rằng giá trị của FISH phù hợp với diễn tiến lâm sàng của bệnh nhân Ngoài ra, nghiên cứu của Tubbs RR(13,27) trên khối u vú HMMD 2(+)/FISH(-) không tăng số lượng mRNA HER2 Điều này khẳng định HMMD2(+) không phải là kết quả của tăng quá trình sao mã gen HER2

FISH và HMMD Pathway có mức độ tương hợp cao trong nhóm HMMD3(+) và HMMD(-), nhóm HMMD2(+) bao gồm cả khuếch đại và không khuếch đại HER2(13) Các cơ chế vì sao không khuếch đại gen HER2 nhưng biểu hiện HMMD 2(+) hiện nay chưa rõ ràng, nhưng có thể phản ánh con đường từ gen HER2 đến biểu hiện tại màng tế bào còn nguyên vẹn hoặc có thể

có liên quan đến đa bội nhiễm sắc thể 17

Về ảnh hưởng của sự đa bội nhiễm sắc thể

17

Mặc dù chúng tôi không so sánh các phương pháp thực hiện FISH khác nhau, nhưng chúng tôi thử chia hai nhóm có khuếch đại hay không dựa vào ngưỡng tuyệt đối của số bản sao HER2

≥4 là có khuếch đại Chúng tôi tìm ra 12 trường hợp đa bội nhiễm sắc thể 17 có HER2 khuếch đại theo tiêu chí tuyệt đối, nhưng không khuếch đại

Trang 7

gen HER2 khi tính tỉ lệ trên nhiễm sắc thể 17

Nghiên cứu của Vanden Bempt(28) đã nhấn mạnh

tầm quan trọng của đa bội nhiễm sắc thể 17,

những trường hợp tăng số lượng bản sao HER2

do tăng số lượng nhiễm sắc thể 17 thì không

khuếch đại gen HER2 Đa bội nhiễm sắc thể 17

không làm tăng số lượng mRNA Tuy nhiên,

chúng không thể phân biệt với các u có HER2(+)

bằng các tiêu chuẩn bệnh học thông thường,

chính vì vậy nó có khả năng ảnh hưởng đến sự

giải thích kết quả cũng như chọn lựa bệnh nhân

cho điều trị

KẾT LUẬN

Qua nghiên cứu 264 trường hợp ung thư vú

được thực hiện cả hai phương pháp HMMD và

FISH chúng tôi có kết luận như sau:

Mức độ tương hợp kết quả giữa hai phương

pháp là trung bình theo thống kê Cramer’s

V=0,94 với p=0,001

Mặc dù có sự tương hợp cao trong nhóm

HMMD (-) và HMMD 3 (+), nhưng vẫn còn

khoảng 3,8% có HMMD (-) nhưng FISH có

khuếch đại (thuộc nhóm khuếch đại giáp biên

và thấp) và nguyên nhân được cho là do dung

dịch cố định và thời gian cố định không đúng

Nhóm HMMD 3 (+) nhưng FISH không khuếch

đại có hai trường hợp, do dương tính giả và do

ảnh hưởng của đa bội nhiễm sắc thể 17

Nhóm HMMD 2 (+) luôn luôn là nhóm thách

thức, và với tình hình hiện tại chúng ta nên thực

hiện FISH để xác định có khuếch đại hay không

giúp cho bệnh nhân hưởng lợi ích từ các liệu

pháp điều trị

HER2 là một yếu tố tiên lượng xấu(1,20,24) Tăng

nguy cơ ung thư vú tương đối , thời gian sống

còn toàn bộ bị rút ngắn HER2 là mục tiêu điều

trị nhắm trúng đích phân tử trong ung thư vú và

một mục tiêu tiềm năng điều trị trong bệnh ung

thư buồng trứng, ung thư dạ dày(19) chính vì vậy

chọn lựa phương pháp đánh giá HER2 chính xác

đáp ứng được yêu cầu điều trị là một đòi hỏi cấp

thiết cho các phòng xét nghiệm giải phẫu bệnh

Bộ môn giải phẫu bệnh được hân hạnh nhận

mẫu từ nhiều nguồn khác nhau, tuy nhiên đó cũng là một thách thức lớn vì chúng tôi không thể kiểm soát được dung dịch cố định cũng như thời gian cố định mẫu Tùy từng trường hợp, chúng tôi tối ưu hóa quy trình để có kết quả tốt nhất cho cả hai phương pháp Nghiên cứu lâm sàng bổ sung là cần thiết để làm rõ thêm mối quan hệ giữa HER2 và ung thư

TÀI LIỆU THAM KHẢO

amplification identifies a poor-prognosis group of women with node-negative breast cancer Toronto Breast Cancer Study Group J Clin Oncol 1998;16:1340-1349

2 Burden S, Yarden Y (1997) Neuregulins and their receptors: a versatile signaling module in organogenesis and oncogenesis

Neuron;18:847-855

3 Chazin V, Kaleko M, Miller A, et al (1992) Transformation mediated by the human HER-2 gene independent of the

epidermal growth factor receptor Oncogene 7:1859-1866

Administration, Center for Drug Evaluation and Research Oncologic Drugs Advisory Committee, 58th meeting (transcript) Bethesda, MD; September 2, 1998 Available at: http://www.fda.gov/ohrms/dockets/ac/cder98t.htm Accessed June 2001

5 DiFiore P, Pierce J, Kraus M, et al (1987) Erb B-2 is a potent oncogene when overexpressed in NIH/3T3 cells Science

237:178-182

6 Fornier M, Esteva FJ, Seidman AD (2000) Trastuzumab in combination with chemotherapy for the treatment of

metastatic breast cancer Semin Oncol;27:38-45

7 Graus-Porta D, Beerli R, Daly JM, et al (1997) ErbB-2, the preferred heterodimerization partner of all erbB receptors, is a

mediator of lateral signaling EMBO J;16:1647-1655

8 Gullick W, Love S, Wright C, et al (1991) C-erb B-2 protein

overexpression in breast cancer is a risk factor in patients with

involved and uninvolved lymph nodes Br J Cancer

63:434-438

9 Jacobs TW, Gown AM, Yaziji H, et al (1999) Specificity of HercepTest in determining HER-2/neu status of breast cancers using the United States Food and Drug

Administration– approved scoring system J Clin Oncol;17:1983-1987

10 Klapper LN, Glathe S, Vaisman N, et al (1999) The erbB-2/HER2 oncoprotein of human carcinomas may function solely as a shared coreceptor for multiple stroma-derived

growth factors Proc Natl Acad Sci U S A.;96:4995-5000

11 Lehr H-A, Jacobs TW, Yaziji H, et al (2001) Quantitative evaluation of HER-2/neu status in breast cancer by fluorescence in situ hybridization and by

immunohistochemistry with image analysis Am J Clin Pathol;115:814-822

12 Mass R (2000) The role of HER-2 expression in predicting

response to therapy in breast cancer Semin Oncol;27:46-52

13 McCormick SR, Lillemoe TJ, Beneke J, Schrauth J, Reinartz J (2002) HER2 Assessment by Immunohistochemical Analysis

and Fluorescence In Situ Hybridization Am J Clin Pathol;

Trang 8

117:935-943

14 Muller W, Sinn E, Pattengale P, et al (1988) Single-step

induction of mammary adenocarcinoma in transgenic mice

bearing the activated c-neu oncogene Cell 54:105-115

15 Nicholson BP (2000) Ongoing and planned trials of hormonal

therapy and trastuzumab Semin Oncol;27:33-37

16 Pauletti G, Dandekar S, Rong H, et al (2000) Assessment of

methods for tissue-based detection of the HER-2/neu

alteration in human breast cancer: a direct comparison of

fluorescence in situ hybridization and

immunohistochemistry.J Clin Oncol ;18:3651-3664

17 Rilke F, Colnaghi M, Cascinelli N, et al (1991) Prognostic

significance of HER-2/neu expression in breast cancer and its

relationship to other prognostic factors Int J Cancer 49:44-49

18 Ross JS, Fletcher JA (1999) HER-2/neu (c-erb-B2) gene and

protein in breast cancer Am J Clin Pathol;112 (suppl

1):S53-S67

19 Serrano-Olvera A, Dueñas-González A, Gallardo-Rincón D, et

al Prognostic, predictive and therapeutic implications of

HER2 in invasive epithelial ovarian cancer Cancer Treat Rev

2006;32:180-190

20 Seshadri R, Firgaira FA, Horsfall DJ, et al Clinical significance

of HER-2/neu oncogene amplification in primary breast

cancer The South Australian Breast Cancer Study Group.J

Clin Oncol 1993;11:1936-1942

21 Slamon D, Clark G, Wong S, et al (1987) Human breast

cancer: Correlation of relapse and survival with amplification

of the HER-2/ neu oncogene Science 235:177-182

22 Slamon D, Godolphin W, Jones L, et al.(1989) Studies of the

HER-2/ neu proto-oncogene in human breast and ovarian

cancer Science 244:707-712

23 Slamon D, Press M, Godolphin W, et al (1989) Studies of the

HER-2/neu proto-oncogene in human breast cancer Cancer

Cells; 7:371-380

24 Slamon DJ, Clark GM, Wong SG, et al Human breast cancer: correlation of relapse and survival with amplification of the HER-2/neu oncogene Science 1987;235:177-182

25 Slamon DJ, Leyland-Jones B, Shak S, et al (2001) Use of chemotherapy plus a monoclonal antibody against HER2 for

metastatic breast cancer that overexpresses HER2 N Engl J Med.;344:783-792

(Herceptin): Implications for the design of adjuvant trials

Semin Oncol;28:20-27

27 Tubbs RR, Pettay JD, Roche PC, et al (2001) Discrepancies in clinical laboratory testing of eligibility for trastuzumab therapy: apparent immunohistochemical false-positives do

not get the message J Clin Oncol;19:2714-2721

28 Vanden Bempt I, Van Loo P, Drijkoningen M, et al (2007) Polysomy 17 in breast cancer: Clinicopathologic significance

and impact on HER-2 testing J Clin Oncol

10.1200/JCO.13.4296

29 Vogel CL, Cobleigh MA, Tripathy D, et al (2002) Efficacy and safety of trastuzumab as a single agent in first-line treatment

of HER2-overexpressing metastatic breast cancer J Clin Oncol;20:719-726

DC, Cote RJ, Dowsett M, Fitzgibbons PL, Hanna WM, Langer

A, McShane LM, Paik S, Pegram MD, Perez EA, Press MF, Rhodes A, Sturgeon C, Taube SE, Tubbs R, Vance GH, Van de Vijver M, Wheeler TM, and Hayes DF (2008) American Society of Clinical Oncology/College of American Pathologists Guideline Recommendations for Human Epidermal Growth Factor Receptor 2 Testing in Breast Cancer

J Clin Oncol 25:118-145

signalling network Nat Rev Mol Cell Biol;2:127-137

Ngày đăng: 22/01/2020, 08:00

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm