1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Kiểm định các yếu tố tiên lượng ở bệnh nhân đột quỵ cấp có đặt nội khí quản

5 71 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 5
Dung lượng 251,94 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nghiên cứu thực hiện những mục tiêu sau: (1) xác định tỷ lệ sống và tỷ lệ tử vong, nguyên nhân tử vong và các yếu tố tiên lượng độc lập ở bệnh nhân đột quỵ cấp có đặt nội khí quản; (2) kiểm định độ chính xác của các yếu tố tiên lượng độc lập tìm được.

Trang 1

KIỂM ĐỊNH CÁC YẾU TỐ TIÊN LƯỢNG Ở BỆNH NHÂN ĐỘT QUỴ CẤP

CÓ ĐẶT NỘI KHÍ QUẢN

Vũ Anh Nhị*, Trần Thanh Hùng*

TÓM TẮT

Đặt vấn đề: Hồi sinh cao cấp bao gồm đặt nội khí quản (NKQ) thường được tiến hành ở bệnh nhân đột quỵ

cấp có biến chứng thần kinh nặng Xác định các bệnh nhân có dự hậu xấu có thể giúp thầy thuốc và gia đình quyết định xem có nên tiến hành các biện pháp điều trị tích cực hơn hay không

Mục tiêu nghiên cứu: 1.Xác định tỷ lệ sống và tỷ lệ tử vong, nguyên nhân tử vong và các yếu tố tiên

lượng độc lập ở bệnh nhân đột quỵ cấp có đặt NKQ 2.Kiểm định độ chính xác của các yếu tố tiên lượng độc lập tìm được

Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Phương pháp chọn mẫu: bệnh nhân đột quỵ cấp điều trị tại khoa

nội thần kinh bệnh viện Chợ Rẫy, nhập viện từ tháng 10/2004 đến tháng 2/2005 Sau khi tìm được các yếu tố tiên lượng độc lập, chúng tôi tiến hành một nghiên cứu cắt ngang để kiểm chứng các kết quả tìm được Số liệu thu thập được tiến hành từ tháng 7/2011 đến tháng 8/2011 Thiết kế nghiên cứu: nghiên cứu cắt ngang

Kết quả: Trong 91 bệnh nhân nghiên cứu có 63,7% trường hợp tử vong, do thần kinh chiếm 91,4% Hai

yếu tố tiên lượng độc lập kết quả điều trị ở bệnh nhân đột quỵ cấp có đặt nội khí quản là điểm hôn mê Glasgow và phản xạ mắt búp bê dọc trước khi đặt NKQ Hai yếu tố này có độ chính xác cao trong tiên lượng Tỷ lệ tiên lượng sai là 4,3%

Kết luận: cần theo dõi sát bệnh nhân để đặt NKQ đúng thời điểm Đối với những trường hợp nặng cần

thảo luận với gia đình bệnh nhân trước khi tiến hành đặt NKQ

Từ khóa: đột quỵ cấp, đặt NKQ, yếu tố tiên lượng

ABSTRACT

VERIFICATION OF PROGNOSTIC FACTORS IN ACUTE STROKE PATIENTS WITH INTUBATION

Vu Anh Nhi, Tran Thanh Hung

* Y Hoc TP Ho Chi Minh * Vol 16 - Supplement of No 1 - 2012: 327 - 331

Background: The advance resuscitation including an intubation is often conducted in the acute stroke

patients with severe neurological complications Identification of the patients with bad outcome can help doctors and families decide whether to carry out the more invasive treatments or not

Study objectives: 1 Determination of survival and mortality rate, causes of mortality and independent

prognostic factors in acute stroke patients with intubation 2 Testing the accuracy of these prognostic factors

Subjects and Methods: Sampling: The acute stroke patients who were treated in neurology department at

Cho Ray hospital from October 2004 to February 2005 and intubated during hospitalization After finding the independent prognostic factors, we conducted a cross-sectional study to verify these findings Data collection was

conducted from July 2011 to August 2011

Study design: cross-sectional study

* Bộ môn Thần kinh, Đại học Y Dược TP Hồ Chí Minh

Tác giả liên lạc BS Trần Thanh Hùng, ĐT: 01238427942, Email: tranthanhhungmd@gmail.com

Trang 2

Results: In 91 patients, 63.7% died, in which, 91.4% due to a severe brain damage Two independent

prognostic factors of treatment outcome are Glasgow coma score and vertical eye doll reflex at the moment before intubation These two factors are highly accurate in prognosis The rate of false prognosis is 4.3%

Conclusion: It must closely monitor the patients to intubate at the right time For severe cases, it is

necessary to discuss with the patient's family before intubation

Keywords: acute stroke, intubation, prognostic factor

ĐẶT VẤN ĐỀ

Đột quỵ là bệnh thường gặp trong thực

hành thần kinh Hồi sinh cơ bản bao gồm đặt

nội khí quản thường được tiến hành ở bệnh

nhân đột quỵ cấp có biến chứng thần kinh

nặng Một nghiên cứu(4) cho thấy đặt nội khí

quản và thông khí cơ học được thực hiện ở

5-8% bệnh nhân đột quỵ cấp Việc đặt nội khí

quản và hồi sinh tim phổi ở một trường hợp

đột quỵ nặng có thể là không cần thiết vì chỉ

làm trì hoãn cái chết và gây đau đớn kéo dài

cho bệnh nhân và gia đình Ngược lại, trì

hoãn đặt nội khí quản khi có chỉ định hay

thậm chí quyết định ngưng hồi sức tim phổi

sẽ làm tăng tỷ lệ tử vong của bệnh nhân(9)

Trong các nghiên cứu trước đây, tỷ lệ tử vong

ở bệnh nhân đột quỵ cấp có đặt nội khí quản

và thông khí cơ học dao động từ 51-93%(2,3,5,6)

Xác định các bệnh nhân có dự hậu xấu có thể

giúp thầy thuốc và gia đình quyết định xem

có nên tiến hành các biện pháp điều trị tích

cực hơn hay không

Mục tiêu nghiên cứu

Xác định tỷ lệ sống và tỷ lệ tử vong, nguyên

nhân tử vong ở bệnh nhân đột quỵ cấp có đặt

nội khí quản

Xác định mối liên quan giữa kết quả điều trị

(sống, tử vong) với các yếu tố lâm sàng và cận

lâm sàng ở thời điểm nhập viện và trước khi đặt

nội khí quản

Xác định các yếu tố tiên lượng độc lập ở

bệnh nhân đột quỵ cấp có đặt nội khí quản

Kiểm định độ chính xác của các yếu tố tiên

lượng độc lập tìm được

ĐỐI TƯỢNG - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU Dân số chọn mẫu

Tất cả bệnh nhân đột quỵ cấp điều trị tại khoa nội thần kinh bệnh viện Chợ Rẫy

Phương pháp chọn mẫu

Nghiên cứu khảo sát tất cả bệnh nhân đột quỵ cấp điều trị tại khoa nội thần kinh bệnh viện Chợ Rẫy nhập viện từ tháng 10/2004 đến tháng 2/2005 thỏa mãn tiêu chuẩn chọn bệnh

và loại trừ

Cỡ mẫu

91 bệnh nhân

Sau khi tìm được các yếu tố tiên lượng độc lập, chúng tôi tiến hành một nghiên cứu cắt ngang khác để kiểm chứng các kết quả tìm được Số liệu thu thập được tiến hành từ tháng 7/2011 đến tháng 8/2011

Tiêu chuẩn chọn bệnh

Tất cả bệnh được chẩn đoán đột quỵ cấp, trong quá trình theo dõi điều trị có đặt nội khí quản

Tiêu chuẩn loại trừ

Những bệnh nhân đã được đặt nội khí quản

ở tuyến trước

Những bệnh nhân mê sâu có GCS 3 điểm, dãn đồng tử, mất toàn bộ phản xạ thân não Bệnh nhân huyết khối tĩnh mạch nội sọ Những bệnh nhân nghi ngờ u não, chấn thương sọ não, rối loạn đông máu

Thiết kế nghiên cứu

Nghiên cứu cắt ngang

Trang 3

Xử lý và phân tích dữ liệu(10)

Các dữ liệu thu thập được sẽ được xử lí và

phân tích bằng phần mềm thống kê SPSS for

Windows phiên bản 11.5

Phân tích đơn biến: các dữ liệu sẽ được xử lí

bằng phép kiểm X2 đối với dữ liệu định tính

hay định lượng có phân nhóm Nếu có > 10% số

ô trong bảng 2 x 2 có tần số mong đợi < 5 thì

dùng kiểm định chính xác Fisher Các biến định

lượng được kiểm định bằng phép kiểm student

độc lập Các test đều 2 chiều, mức ý nghĩa p =

0,05

Các biến có liên quan có ý nghĩa thống kê

với kết quả điều trị khi phân tích đơn biến sẽ

được đưa vào mô hình hồi quy đa biến logistic

nhằm tìm ra biến có giá trị tiên lượng độc lập

KẾT QUẢ VÀ BÀN LUẬN

Đặc tính dân số nghiên cứu

Nghiên cứu khảo sát trên 91 bệnh nhân,

trong đó nam có 61 trường hợp, chiếm 65,9% và

nữ có 30 trường hợp, chiếm 34,1%.Tỷ lệ tử vong

ở bệnh nhân nam và nữ tương đương nhau, với

tỷ lệ tương ứng là 60% và 71%

Tuổi trung bình là 61,56  13,443 tuổi

Thời gian từ lúc khởi phát bệnh đến khi

nhập viện trung bình là: 19,25  17,545 giờ

Kết quả điều trị

Tỷ lệ tử vong

Trong 91 bệnh nhân nghiên cứu có 33

trường hợp sống (36,3%) và 58 trường hợp tử

vong (63,7%) So sánh với các tác giả khác,

chúng tôi cũng nhận thấy kết quả tương tự Tỷ

lệ tử vong của các nghiên cứu trước đây thay

đổi từ 51-93%(2,3,5,6,8,11,12,16,17)

Nguyên nhân tử vong

Đa số là do thần kinh, chiếm 91,4% Tử vong

do hô hấp chiếm 8,6% Các nghiên cứu trước

đây cũng đều nhận thấy tử vong đa phần là do

thần kinh(3,8,13).Tỷ lệ tử vong do thần kinh thay

đổi từ 80%-90% Điều này phản ánh mức độ tổn

thương thần kinh nặng ở những bệnh nhân đột

quỵ cấp có đặt nội khí quản

Thời gian sống

Được tính từ lúc khởi phát bệnh đến lúc tử vong Trong nghiên cứu của chúng tôi, thời gian sống trung bình trong nhóm tử vong là 5,14 ± 5,414 ngày Các nghiên cứu trước đây cũng cho kết quả tương tự với thời gian sống trung bình thay đổi từ 4,5 ngày đến 6,4 ngày(3,7) Nhóm tử vong do thần kinh có thời gian sống trung bình

là 4,13 ± 4,123 ngày, nhóm tử vong không do thần kinh có thời gian sống trung bình là 15,8 ± 6,419 ngày

Các yếu tố tiên lượng Mạch: không có sự khác nhau về mạch giữa

2 nhóm kết quả điều trị, p = 0,673

Huyết áp: nhóm bệnh nhân có huyết áp cao

trước khi đặt nội khí quản tử vong nhiều hơn nhóm bệnh nhân không có huyết áp cao Sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê, p = 0,035 Tuy nhiên khi tiến hành phân tích đa biến, huyết áp không phải là yếu tố tiên lượng độc lập

Thân nhiệt: không có sự khác biệt về tỷ lệ tử

vong giữa hai nhóm có thân nhiệt cao và thân nhiệt bình thường, p = 0,383

Kích thước đồng tử: Có sự liên quan có ý

nghĩa thống kê giữa đồng tử và kết quả điều trị với p < 0,0005, OR = 10,64, CI 95% = 3,56 – 31,799 Tuy nhiên, khi tiến hành phân tích hồi quy

đa biến logistic để tìm yếu tố tiên lượng độc lập thì bất thường đồng tử không phải là yếu tố tiên lượng độc lập

Phản xạ mắt búp bê dọc: Phản xạ mắt búp

bê dọc mất biểu hiện rối loạn chức năng trung não cao, có thể do tổn thương trực tiếp hay do chèn ép do thoát vị Trong nghiên cứu của chúng tôi, mất phản xạ mắt búp bê dọc có tỷ lệ

tử vong cao hơn so với còn phản xạ mắt búp bê dọc Trên khảo sát đơn biến, mất phản xạ mắt búp bê dọc có tỷ lệ tử vong 86,5% so với 33,3% ở nhóm còn phản xạ mắt búp bê dọc, p < 0,0005,

OR = 12,857, CI 95% = 4,554–36,3

Khi thực hiện phân tích hồi quy đa biến logistic, phản xạ mắt búp bê dọc có giá trị tiên đoán độc lập với hệ số hồi quy = 1,366, p = 0,036,

Trang 4

OR = 3,92, CI 95% = 1,092– 14,073 Gujjar và cộng

sự(8) nghiên cứu các yếu tố tiên lượng tử vong ở

bệnh nhân đột quỵ nhồi máu và xuất huyết não

có thông khí cơ học nhận thấy mất phản xạ mắt

búp bê là yếu tố tiên lượng tử vong độc lập cho

đột quỵ xuất huyết não

Phản xạ mắt búp bê ngang: nhóm bệnh

nhân mất phản xạ mắt búp bê ngang có tỷ lệ tử

vong cao hơn đáng kể so với nhóm không mất

phản xạ mắt búp bê ngang Sự khác biệt có ý

nghĩa thống kê, p = 0,004, OR = 3,864, CI 95% =

1,488–9,941

Tuy nhiên, đây không phải là yếu tố tiên

lượng tử vong độc lập của bệnh nhân khi phân

tích hồi quy đa biến logistic

Phản xạ da lòng bàn chân: trong nghiên cứu

của chúng tôi, tương tự như nghiên cứu của các

tác giả khác, cho thấy phản xạ da lòng bàn chân

không có giá trị tiên lượng tử vong độc lập

Phân loại đột quỵ: Trong các loại đột quỵ

thì xuất huyết não có tỷ lệ tử vong cao nhất, đặc

biệt là xuất huyết não lớn, tỷ lệ tử vong là 84,8%

Thời điểm đặt nội khí quản: nhóm sống có

thời điểm đặt nội khí quản trung bình là vào

ngày thứ 4,48, nhóm tử vong có thời điểm đặt

nội khí quản trung bình là vào ngày thứ 2,64

Khi phân tích hồi quy đa biến logistic thì thời

điểm đặt nội khí quản không có giá trị tiên đoán

tử vong độc lập

Lí do đặt nội khí quản: Đa phần chỉ định

đặt nội khí quản của chúng tôi là do thần

kinh, chiếm 76,9% So sánh với các tác giả

khác chúng tôi cũng tìm thấy kết quả tương tự

với tỷ lệ đặt nội khí quản do thần kinh

khoảng 81% đến 84%(3,12)

Thang điểm hôn mê Glasgow: nghiên cứu

của chúng tôi cho thấy có sự khác biệt có ý

nghĩa thống kê về điểm hôn mê Glasgow

trước khi đặt nội khí quản giữa 2 nhóm sống

và tử vong Trong nghiên cứu này, điểm hôn

mê Glasgow trước khi đặt nội khí quản ở 2

nhóm sống và tử vong với khoảng tin cậy 95%

tương ứng là 8,64 ± 2,523 và 5,22 ± 2,044

Nhóm tử vong có điểm hôn mê Glasgow thấp

hơn nhóm sống trung bình là 3,41, p < 0,0005 Khi phân tích hồi quy đa biến logistic thì điểm hôn mê Glasgow thấp có giá trị tiên đoán tử vong ở bệnh nhân, p = 0,002, OR = 0,617, CI 95% = 0,453 – 0,842 Như vậy, điểm hôn mê Glasgow là yếu tố tiên đoán âm cho kết quả điều trị Giá trị càng thấp thì tỷ lệ tử vong càng cao

Nghiên cứu của chúng tôi, cũng như các tác giả khác, đều nhận thấy rối loạn ý thức là yếu tố

có giá trị tiên đoán tử vong mạnh nhất ở bệnh nhân đột quỵ cấp có đặt nội khí quản

Natri máu, đường huyết, bạch cầu máu khi nhập viện: không có giá trị tiên lượng

Kiểm định kết quả nghiên cứu tìm được

Qua nghiên cứu này, chúng tôi tìm được hai yếu tố tiên lượng độc lập kết quả điều trị ở bệnh nhân đột quỵ cấp có đặt nội khí quản là điểm hôn mê Glasgow và phản xạ mắt búp bê dọc trước khi đặt nội khí quản

Khi tiến hành nghiên cứu cắt ngang để kiểm chứng các kết quả tìm được, chúng tôi nhận thấy hai yếu tố trên có độ chính xác cao trong tiên lượng Chỉ có 1 bệnh nhân (trong tổng số 23 bệnh nhân được đưa vào nghiên cứu) còn sống sau 3 tuần điều trị Tỷ lệ tiên lượng sai là 4,3% Bệnh nhân còn sống duy nhất trong nghiên cứu này được chuyển về địa phương trong tình trạng trạng thái thực vật

Wijdicks(15) và cộng sự, khi khảo sát các yếu

tố tiên lượng ở bệnh nhân đột quỵ cấp có đặt NKQ, đã đề xuất các yếu tố tiên lượng sự vô vọng của việc điều trị cho từng loại đột quỵ cụ thể như xuất huyết dưới nhện, xuất huyết não, nhồi máu não Các yếu tố này cũng phản ánh mức độ trầm trọng của tổn thương thần kinh biểu hiện qua hôn mê sâu và mất các phản xạ thân não

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

Từ kết quả nghiên cứu này, chúng tôi có các

đề xuất sau đây:

Trong thực hành lâm sàng, để làm giảm tỷ lệ

tử vong ở bệnh nhân đột quỵ cấp cần có chế độ

Trang 5

theo dõi sát bệnh nhân, phát hiện sớm sự thay

đổi mức độ hôn mê và rối loạn chức năng thân

não để đặt nội khí quản đúng thời điểm

Đối với những trường hợp nặng như xuất

huyết não lớn, bệnh nhân hôn mê sâu và rối

loạn chức năng thân não, cần thảo luận với gia

đình bệnh nhân để đưa ra quyết định có tiến

hành đặt nội khí quản hay không, có xét đến các

khía cạnh không phải y khoa như y đức, y luật,

kinh tế, nguyện vọng của bệnh nhân và gia

đình

TÀI LIỆU THAM KHẢO:

1 Adams HP, del Zoppo G, Alberts MJ et al (2007) “Guidelines for

the Early Management of Adults With Ischemic Stroke” Stroke;

38, pp 1655-1711

2 Burtin P., Bollaert P.E., Feldmann L., Nace L., Lelarge P., Bauer

P., Larcan A (1994) “Prognosis of stroke patients undergoing

mechanical ventilation” Intensive Care Med; 20, pp 32–36

3 Bushnell C.D., Phillips-Bute B.G., Laskowitz D.T., Lynch J.R.,

Chilukuri V., Borel C.O (1999) “Survival and outcome after

endotracheal intubation for stroke” Neurology; 52, pp 1374–

1381

4 Crozier S., Santolib F., Outinc H., Aegerterd P., Ducrocqe X.,

Bollaertf P.É (2011) “AVC graves : pronostic, critères

d’admission en réanimation et décisions de limitations et arrêt de

traitements” Revue Neurologique; 167, pp 468-473

5 Cruz-Flores S., Thompson D.W., Burch C.M., Eicholz K.M

.(1997) “Outcome of patients with ischemic stroke requiring

mechanical ventilation” Neurology, pp 48

6 El-Ad B., Bornstein N.M., Fuchs P., Korczyn A.D (1996)

“Mechanical ventilation in stroke patients: is it worthwhile?”

Neurology; 47, pp 657–659

7 Grotta J., Pasteur W., Khwaja G., Hamel T., Fisher M., Ramirez

A (1995) “Elective intubation for neurologic deterioration after

stroke” Neurology; 45, pp 640–644

8 Gujjar A.R., Deibert E., Manno E.M., Duff S., Diringer M.N (1998) “Mechanical ventilation for ischemic stroke and intracerebral hemorrhage: indications, timing, and outcome”

Neurology; 51, pp 447–451

9 Hemphill III J.C., Newman J., Zhao S et al (2004) “Hospital usage of early Do-Not-Resuscitate orders and outcome after

intracerebral hemorrhage” Stroke; 35, pp 1130-1134

10 Hoàng Trọng (2002) Xử lý dữ liệu nghiên cứu với SPSS for Windows Nhà xuất bản thống kê

11 Ludwigs U.G., Baehrendtz S., Wanecek M., Matell G (1991)

“Mechanical ventilation in medical and neurological diseases: 11 years of experience” J Intern Med; 229, pp 117–124

12 Mayer S.A., Sacco R.L., Shi T., Mohr J.P (1994) “Neurologic deterioration in noncomatose patients with supratentorial intracerebral hemorrhage” Neurology; 44, pp 1379–1384

13 Steiner T., Mendoza G., De Georgia M., Schellinger P., Holle R., Hacke W (1997) “Prognosis of stroke patients requiring

mechanical ventilation in a neurological critical care unit” Stroke;

28, pp 711–715

14 Vũ Anh Nhị (2003) Thần kinh học: Lâm sàng và điều trị TP Hồ Chí Minh, Nhà xuất bản Y học, tr 44-133

15 Wijdicks EF, Rabinstein A.A (2004) “Absolutely no hope? Some

ambiguity of futility of care in devastating acute stroke” Crit

Care Med; 32, pp 2332-2342

16 Wijdicks E.F., Scott J.P (1997) “Causes and outcome of mechanical ventilation in patients with hemispheric ischemic stroke” Mayo Clin Proc; 72, pp 210–213

17 Wijdicks E.F.M., Scott J.P (1996) “Outcome in patients with acute basilar artery occlusion requiring mechanical ventilation” Stroke; 27, pp 1301–1303

Ngày đăng: 22/01/2020, 07:31

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w