1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

So sánh giá trị của thử nghiệm hơi thở 13C, thử nghiệm urease và huyết thanh trong chẩn đoán nhiễm helicobacter pylori

8 69 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 8
Dung lượng 297,68 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nhiều trường hợp ung thư đại trực tràng được chẩn đoán muộn do nhiều nguyên nhân khác nhau. Vì vậy, đề tài thực hiện nghiên cứu này nhằm khảo sát các yếu tố ảnh hưởng đến chần đoán muộn ung thư đại trực tràng. Mời các bạn cùng tham khảo bài viết để nắm rõ nội dung chi tiết của đề tài nghiên cứu này.

Trang 1

SO SÁNH GIÁ TRỊ CỦA THỬ NGHIỆM HƠI THỞ 13C, THỬ NGHIỆM UREASE

VÀ HUYẾT THANH TRONG CHẨN ĐOÁN NHIỄM HELICOBACTER PYLORI

Trần Thiện Trung*, Quách Trọng Đức**, Lý Kim Hương***

TÓM TẮT

Mục tiêu: Đánh giá giá trị của các phương pháp chẩn đoán nhiễm H pylori của các thử nghiệm hơi thở

13 C, thử nghiệm Urease nhanh và huyết thanh chẩn đoán

Phương pháp: Nghiên cứu cắt ngang trên 165 bệnh nhân (95 trước điều trị và 70 sau tiệt trừ H

pylori) Chẩn đoán nhiễm H pylori bằng 3 phương pháp: thử nghiệm hơi thở 13 C (Otsuka Pharmaceutical, Tokushima, Japan), thử nghiệm urease nhanh sản xuất tại chỗ và huyết thanh chẩn đoán Instant-View ® (Alfa Scientific Designs Inc., USA) Ngưỡng chẩn đoán dương tính của thử nghiệm hơi thở là 2,5δ/ 1000 Kết quả thử nghiệm urease nhanh được đọc trong vòng 3 giờ Quản lý số liệu và phân tích kết quả bằng phần mềm SPSS (phiên bản 15.0, SPSS Inc, Chicago, Ill) Sử dụng chỉ số Kappa để đánh giá kết quả độ tương hợp của các phương pháp chẩn đoán Khoảng tin cậy của trị số kappa ở mức 95%

Kết quả: Kết quả chẩn đoán giữa thử nghiệm hơi thở 13 C và thử nghiệm urease trước điều trị tiệt trừ

H pylori là: 88,2% (75/85) với κ = 0,58 ± 0,12; và sau khi điều trị tiệt trừ là 92,2% (59/64) với κ = 0,79 ±

0,09 Mức độ phù hợp kết quả chẩn đoán giữa thử nghiệm hơi thở 13 C, thử nghiệm urease so với huyết thanh chẩn đoán trước điều trị tiệt trừ lần lượt là 50,6% (42/83) với κ = 0,09 ± 0,06; và 52,8% (47/89) với κ = 0,12 ± 0,07

Kết luận: Thử nghiệm hơi thở 13 C và thử nghiệm urease cho kết quả chính xác trong khoảng 90% các trường hợp Nên sử dụng đồng thời cả 2 phương pháp trong trường hợp nghi ngờ có hoặc không nhiễm H pylori Chẩn đoán huyết thanh có tỉ lệ âm giả cao và không phù hợp với chiến lược “thử nghiệm và điều trị” hiện nay ở Việt Nam

ABSTRACT

THE AGREEMENT AMONG 13 C- UREA BREATH TEST, A LOCAL RAPID UREASE TEST AND A

SEROLOGICAL TEST IN H PYLORI DIAGNOSIS

Tran Thien Trung, Quach Trong Duc, Lý Kim Hương

* Y Hoc TP Ho Chi Minh * Vol 13 - Supplement of No 1 - 2009: 18 – 23

Aim: To assess the agreement among 13 C - breath test (UBT), a local rapid urease test (LRUT) and a serological test in H pylori diagnosis

Methods: A cross-sectional study was conducted in 165 patients (95 without history of H pylori

infection and 70 after eradication) H pylori status was determined by 13 C - breath test (Otsuka Pharmaceutical, Tokushima, Japan) and LRUT made at the University of Medicine and Pharmacy at HCMC

in all patients In addition, a serological test was also performed in patients who had never been eradicated

H pylori The positive cut-off point of 13 C breath test was 2.5δ/1000 Results of LRUT were read within 3 hours Data were restored and analyzed by SPSS software (version 15.0, SPSS Inc, Chicago, Ill)

The agreements among the three tests were assessed by using kappa (κ) value The confident internal of

κ was set at 95%

* Bộ môn Ngoại – Đại học Y Dược TPHCM ** Bộ môn Nội – Đại học Y Dược TPHCM

*** Bệnh viện Chợ Rẫy TPHCM

Trang 2

Results: The agreement between UBT and LRUT when applied before and after eradication were 88.2%

(75/85) with κ = 0.58 ± 0.12 (when applied before eradication) and 92.2% (59/64) with κ = 0.79 ± 0,09 (after eradication) The agreement between UBT and LRUT with serological test when applied before eradication were 50.6% (42/83) with κ = 0.09 ± 0.06, and 52.8% (47/89) with κ = 0.12 ± 0.07 respectively

Conclusions: The agreement of 13 C - breath test and LRUT was about 90% In patients with severe and complicated peptic ulcer disease, we should perform both of these tests to clarify about the H pylori status The serological test used in this study showed an unacceptable false negative result and was not suitable to use in “test and treat” strategy

ĐẶT VẤN ĐỀ

Tần suất nhiễm H pylori khá cao từ 61%

trong viêm dạ dày đến 96% trong loét dạ dày - tá

tràng có biến chứng thủng(12,17) Chẩn đoán

nhiễm H pylori và kiểm tra hiệu quả tiệt trừ là

vấn đề mà các bác sĩ chuyên khoa tiêu hóa quan

tâm trong thực tế lâm sàng Ở nước ta từ nhiều

năm qua, các phương pháp chẩn đoán H pylori

được dùng nhiều là thử nghiệm urease nhanh và

huyết thanh chẩn đoán Thử nghiệm hơi thở lần

đầu tiên được áp dụng tại Việt Nam vào năm

2005 nhưng vẫn chưa được phổ biến rộng rãi

Cho đến nay, vẫn còn rất ít các nghiên cứu trong

nước so sánh giá trị của các phương pháp chẩn

đoán nhiễm H pylori khi ứng dụng trên người

Việt Nam Đây là điểm cần được nghiên cứu

nhằm giúp chọn lựa phương pháp thích hợp

trong chẩn đoán nhiễm H pylori

Nghiên cứu này được tiến hành nhằm đánh

giá mức độ chính xác giữa thử nghiệm Urease

nhanh, hơi thở 13C và huyết thanh chẩn đoán

trước và sau điều trị tiệt trừ H pylori

PHƯƠNG PHÁP – ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU

Nghiên cứu cắt ngang thực hiện từ tháng

03/2008 – 08 / 2008

Đối tượng nghiên cứu

Là các bệnh nhân đến khám tại Khoa khám

bệnh, bệnh viện ĐHYD TP HCM đáp ứng các

tiêu chuẩn sau:

Tiêu chuẩn nhận bệnh

Bệnh nhân đồng ý tham gia nghiên cứu

Không sử dụng các thuốc kháng sinh,

bismuth, sucrafate ít nhất 4 tuần

Không sử dụng các thuốc ức chế bài tiết acid qua cơ chế thể dịch ít nhất 2 tuần

Tiêu chuẩn loại trừ

Bệnh nhân là trẻ em hoặc phụ nữ có thai Tiền sử mổ cắt 2/3 dạ dày

Cách tiến hành nghiên cứu

Bệnh nhân cần nhịn đói qua đêm (ít nhất là 8 giờ) Làm thử nghiệm hơi thở trước khi tiến hành nội soi tiêu hóa trên Trong trường hợp bệnh nhân chưa lần nào được chẩn đoán và tiệt

trừ H pylori thì sẽ làm thêm huyết thanh chẩn

đoán Thử nghiệm hơi thở 13C trong nghiên cứu này gồm viên thuốc 13C-urea (Otsuka Pharmaceutical, Tokushima, Japan) và máy đo

13C bằng quang phổ kế hồng ngoại UBiT-200 (Otsuka Electronics, Kyoto, Japan) Bệnh nhân nín thở 5-10 giây rồi thổi hơi vào trong bong bóng thứ nhất Sau đó bệnh nhân uống viên thuốc chứa 100mg 13C với 100ml nước rồi nằm nghiêng trái 5 phút và sau đó ngồi yên trong 15 phút Sau 20 phút uống viên thuốc chứa 13C, bệnh nhân thổi hơi vào bong bóng thứ 2 Hai bong bóng sau khi bệnh nhân thổi sẽ được đưa qua máy đếm Nguyên lý của phương pháp hơi thở được trình bày theo hình 1 Trị số ngưỡng (cut-off) để đánh giá thử nghiệm dương tính là 2,5δ/1000 Phương pháp này cho độ nhạy chẩn đoán là 98,2% và độ chuyên biệt là 83-87%(2,8) Sau khi làm thử nghiệm hơi thở, bệnh nhân

sẽ được nội soi tiêu hóa trên Mẫu mô sinh thiết dùng để làm thử nghiệm urease nhanh được lấy

ở vùng hang vị phía bờ cong lớn cách môn vị khoảng 3 cm Kít thử urease nhanh dùng trong nghiên cứu này do bộ môn miễn dịch – sinh lý bệnh thuộc Đại Học Y Dược TP HCM sản xuất

Trang 3

và là loại làm trên nền thạch agar Kết quả

dương tính được ghi nhận trong vòng 3 giờ khi

màu vàng của kít thử chuyển sang màu hồng

cánh sen Kít thử này đã được chứng minh là có

giá trị tương đương với PyloriTek® và có độ

tương hợp rất tốt κ = 0,917; khi đọc kết quả ở thời điểm 3 giờ có độ tương hợp với thử nghiệm hơi thở 14C (PY test) trong 97% các trường hợp(4,5)

Hình 1: Nguyên lý của thử nghiệm hơi thở 13 C Bệnh nhân chưa lần nào điều trị tiệt trừ H

pylori được lấy máu để làm thử nghiệm huyết

thanh chẩn đoán Kít sử dụng là Instant-View ®

(Alfa Scientific Designs Inc., USA) Đây là kít thử

định tính thế hệ 3 dựa trên kháng nguyên kép có

độ nhạy và độ đặc hiệu tương ứng là 95,1% và

92,8% theo thông tin của nhà sản xuất

Phân tích và xử lý thống kê bằng phần mềm

SPSS (phiên bản 15.0, SPSS Inc, Chicago, Ill) Sử

dụng chỉ số Kappa để đánh giá độ tương hợp

kết quả của các thử nghiệm Urease nhanh sản

xuất tại chỗ, thử nghiệm hơi thở 13C và huyết

thanh chẩn đoán Mức độ thống nhất kết quả

giữa 2 thử nghiệm được xem là kém nếu κ ≤

0,02, trung bình nếu 0,04 < κ ≤ 0,06, khá nếu 0,06

≤ κ ≤ 0,08 và tốt nếu κ >0,8(10)

KẾT QUẢ

Có 165 bệnh nhân đủ tiêu chuẩn tham gia

nghiên cứu, trong đó:

95 trường hợp được kiểm tra trước điều trị

H pylori (34 nam và 61 nữ); tuổi trung bình là

40 ± 11

70 trường hợp được kiểm tra hiệu quả sau

điều trị tiệt trừ H pylori (25 nam và 45 nữ); tuổi

trung bình là 41 ± 11

Đặc điểm nội soi dạ dày – tá tràng được trình bày ở bảng 1

Bảng 1: Đặc điểm nội soi

soi

Viêm trào ng ượ c

DD-TQ

Nhóm tr ướ c đ i ề u

tr ị ti ệ t tr ừ H pylori

T ổ ng c ộ ng 95 100

Viêm trào ng ượ c

DD-TQ

Nhóm sau đ i ề u tr ị

ti ệ t tr ừ H pylori

T ổ ng c ộ ng 70 100

Trang 4

Nhận xét: đa số bệnh nhân trong nghiên cứu

có chẩn đoán nội soi là viêm dạ dày

Mức độ thống nhất kết quả chẩn đoán giữa

thử nghiệm hơi thở 13C và thử nghiệm urease

nhanh trên mẫu mô sinh thiết ở nhóm bệnh

nhân trước điều trị tiệt trừ trình bày theo bảng 2:

Bảng 2: So sánh kết quả thử nghiệm hơi thở 13 C và

urease nhanh ở nhóm bệnh nhân trước điều trị tiệt

trừ

Th ử nghi ệ m

* 2 trường hợp này đều có kết quả Urease

dương ở thời điểm 5 phút Giá trị kappa κ =

0,58 ± 0,12

Nhận xét: Kết quả của thử nghiệm hơi thở

13C và thử nghiệm urease trước điều trị phù hợp

trong 88,2% (75/85 trường hợp) Sự tương hợp

kết quả của 2 phương pháp chẩn đoán ở mức độ

trung bình

Mức độ thống nhất kết quả chẩn đoán giữa

thử nghiệm hơi thở 13C và huyết thanh chẩn

đoán ở nhóm bệnh nhân trước điều trị tiệt trừ

được trình bày theo bảng 3:

Bảng 3: So sánh kết quả thử nghiệm hơi thở 13 C và

huyết thanh chẩn đoán ở nhóm bệnh nhân trước

điều trị tiệt trừ

Huy ế t thanh ch ẩ n

Giá trị kappa κ = 0,09 ± 0,06

Nhận xét: Kết quả của thử nghiệm hơi thở

13C và huyết thanh chẩn đoán trước điều trị phù

hợp trong 50,6% (42/83 trường hợp) Sự tương

hợp kết quả của 2 phương pháp chẩn đoán ở

mức độ kém

Mức độ thống nhất kết quả chẩn đoán giữa

thử nghiệm urease nhanh và huyết thanh chẩn

đoán ở nhóm bệnh nhân trước điều trị tiệt trừ

trình bày theo bảng 4:

Bảng 4: So sánh kết quả thử nghiệm urease nhanh

và huyết thanh chẩn đoán ở nhóm bệnh nhân trước điều trị tiệt trừ

Huy ế t thanh

* cả 37 trường hợp này đều có kết quả Urease dương ở thời điểm 5 phút Giá trị kappa κ = 0,12 ± 0,07

Nhận xét: Kết quả của thử nghiệm urease nhanh và huyết thanh chẩn đoán trước điều trị phù hợp trong 52,8% (47/89 trường hợp) Sự tương hợp kết quả của 2 phương pháp chẩn đoán ở mức độ kém

Mức độ thống nhất kết quả chẩn đoán giữa thử nghiệm hơi thở 13C và thử nghiệm urease ở nhóm bệnh nhân kiểm sau điều trị tiệt trừ trình bày theo bảng 5:

Bảng 5: So sánh kết quả thử nghiệm hơi thở 13 C và thử nghiệm urease nhanh ở nhóm bệnh nhân sau điều trị tiệt trừ

Th ử nghi ệ m

* cả 2 trường hợp này đều có kết quả Urease dương ở thời điểm 5 phút Giá trị kappa κ = 0,79 ± 0,09

Nhận xét: Kết quả của thử nghiệm hơi thở

13C và thử nghiệm urease nhanh sau điều trị phù hợp trong 92,2% (59/64 trường hợp) Sự tương hợp kết quả của 2 phương pháp chẩn đoán ở mức độ khá tốt

BÀN LUẬN

Cho đến nay chưa có một thử nghiệm đơn độc nào được xem là đáng tin cậy hoàn toàn để

xác định chắc chắn tình trạng nhiễm H pylori(4) Nuôi cấy được coi là tiêu chuẩn vàng để chẩn

đoán các bệnh nhiễm khuẩn, nhưng nuôi cấy H pylori có độ nhạy thấp và dễ bị ngoại nhiễm gây dương giả(6) Vì vậy nhiều nghiên cứu trên thế

giới phối hợp ít nhất 2 thử nghiệm chẩn đoán đã được kiểm chứng giá trị tại cộng đồng trong chẩn

đoán nhiễm H pylori(4) Trong nghiên cứu của chúng tôi, hai trong ba thử nghiệm được sử

Trang 5

dụng (thử nghiệm hơi thở C và Instant-View )

chưa từng được nghiên cứu ở trong nước, nên

chúng tôi chọn lựa phương pháp so sánh mức

độ tương hợp kết quả giữa các thử nghiệm chẩn

đoán với nhau dựa trên trị số kappa (κ) và

không lập ra tiêu chuẩn vàng

Ở nhóm bệnh nhân chưa tiệt trừ H pylori,

chúng tôi sử dụng cả 3 phương pháp chẩn đoán

để so sánh Ở nhóm bệnh nhân cần kiểm tra hiệu

quả sau điều trị tiệt trừ H pylori chỉ làm 2 thử

nghiệm là urease nhanh và hơi thở 13C Thử

nghiệm huyết thanh chẩn đoán trong trường

hợp này không chính xác do kháng thể kháng H

pylori còn tổn tại khá lâu trong máu dù đã điều

trị tiệt trừ thành công(16)

Ở nhóm bệnh nhân trước điều trị tiệt trừ, so

sánh kết quả của thử nghiệm urease và hơi thở

13C cho thấy độ tương hợp kết quả đạt 88,2% các

trường hợp (bảng 2) Có 2 trường hợp thử

nghiệm Urease dương tính ở thời điểm 5 phút

và thử nghiệm hơi thở âm tính Theo những

nghiên cứu khác của chúng tôi dựa trên kít thử

này và các kít thử urease chuẩn khác, độ chuyên

biệt ở thời điểm 60 phút đều đạt 100% và không

có dương giả(13,5) Như vậy, 2 trường hợp này

thực sự có nhiễm H pylori mà thử nghiệm hơi

thở 13C đã bỏ sót Theo y văn, khả năng âm giả

của thử nghiệm hơi thở có thể xảy ra do việc lấy

mẫu hơi thở sau khi uống 13C quá sớm hoặc quá

muộn so với thời điểm 20 phút được khuyến

cáo(5) Cũng trong bảng 2, có 8 trường hợp thử

nghiệm hơi thở 13C dương tính nhưng thử

nghiệm urease âm tính Khả năng thử nghiệm

hơi thở 13C dương giả trong các trường hợp này

là rất thấp vì (1) điều này thường chỉ xảy ra

trong trường hợp viêm dạ dày mạn teo mức độ

nặng, vốn ít gặp ở người Việt Nam(5,7), và (2) các

nghiên cứu của chúng tôi trước đây cho thấy

nếu rút ngắn thời gian đọc xuống còn 3 giờ thì có

thể hạn chế dương giả nhưng đồng thời cũng

làm giảm độ nhạy của thử nghiệm urease(13,14)

Các nghiên cứu trong nước trước đây cho thấy

độ nhạy của thử nghiệm urease có thể tăng thêm

13% nếu sử dụng thêm mẫu sinh thiết thứ 2 ở

vùng thân vị , hoặc thậm chí lên đến 36% nếu

sử dụng mẫu mô sinh thiết vùng 1/3 dưới thân

vị phía bờ cong lớn(11) Mặc dù vậy, một điểm cần lưu ý thêm khi phân tích kết quả là ngưỡng dương tính của thử nghiệm 13C theo khuyến cáo của nhà sản xuất là 2,5δ/1000 và nghiên cứu trên người Nhật(9) Chen và cộng sự(2) đề xuất giá trị ngưỡng là 3,5δ /1000 với độ nhạy thử nghiệm là 98,2% và độ đặc hiệu là 96,8% Mauro và cộng

sự(8) nghiên cứu tại Canada đề xuất giá trị ngưỡng là 3δ/1000 với độ nhạy 100% và độ đặc hiệu đến 98,5% Như vậy cần có các nghiên cứu tiếp theo để xác định giá trị ngưỡng của thử nghiệm ở người Việt Nam

Sau điều trị tiệt trừ H pylori, so sánh kết

quả của thử nghiệm urease và thử nghiệm hơi thở 13C sau điều trị tiệt trừ (bảng 5) cũng cho những kết quả tương tự như nhận định nêu trên: độ tương hợp kết quả của hai thử nghiệm đạt 92,2% Cũng tương tự như trên các trường hợp dương tính với 1 trong 2 thử nghiệm hơi thở 13C và urease sau 5 phút có nhiều khả năng

là dương thật.Từ những nhận định trên chúng tôi cho rằng trong thực hành điều trị, việc

kiểm tra hiệu quả tiệt trừ H pylori có thể dựa

trên thử nghiệm urease nếu không có thử nghiệm hơi thở 13C Tuy nhiên nếu nghi ngờ

nhiễm H pylori thì cần phối hợp cả hai thử

nghiệm hơi thở 13C và urease

Bảng 3 và 4 cho thấy thử nghiệm huyết thanh chẩn đoán có độ thống nhất kết quả kém

so với thử nghiệm hơi thở 13C và thử nghiệm urease với κ < 0,02 Kết quả tương hợp chỉ đạt khoảng 50%, trong đó 45,8% (38/83) trường hợp thử nghiệm hơi thở dương và 41,5% (37/89)

trường hợp thử nghiệm urease dương trong

vòng 5 phút mà huyết thanh chẩn đoán âm tính

Điều này chứng tỏ mặc dù theo tài liệu của hãng sản xuất là kít thử có độ nhạy và độ đặc hiệu đều trên 90% nhưng khi ứng dụng trên thực tế lâm sàng cho thấy mức độ âm giả của thử nghiệm quá cao Trên thế giới hiện nay, các hướng dẫn lâm sàng đều khuyến cáo cách tiếp cận “thử nghiệm và điều trị” (test and treat) cho những

Trang 6

trường hợp bệnh nhân bị rối loạn tiêu hóa không

có các triệu chứng báo động(3,1) Các phương

pháp chẩn đoán H pylori được đề nghị sử dụng

là các thử nghiệm không xâm hại như thử

nghiệm hơi thở và huyết thanh chẩn đoán Do

thử nghiệm hơi thở chưa được phổ biến rộng rãi

nên nhiều bệnh nhân được chỉ định làm huyết

thanh chẩn đoán Qua nghiên cứu này, cần có

thêm những nghiên cứu khác nhằm xác định kít

thử có độ nhạy và độ đặc hiệu cao để áp dụng

trong lâm sàng

KẾT LUẬN

Chẩn đoán nhiễm H pylori bằng thử nghiệm

urease nhanh và hơi thở 13C cho kết quả chính

xác trong 88% trường hợp trước điều trị và 92%

sau điều trị tiệt trừ

Huyết thanh chẩn đoán cho kết quả âm giả

cao và không phù hợp trong chẩn đoán và điều

trị H pylori theo các hướng dẫn lâm sàng Để

chẩn đoán nhiễm H pylori, có thể sử dụng một

trong hai thử nghiệm urease qua nội soi dạ dày –

tá tràng, hoặc thử nghiệm hơi thở 13C Trường

hợp nghi ngờ chẩn đoán trước điều trị hoặc cần

kiểm tra chính xác kết quả tiệt trừ H pylori, có

thể phối hợp đồng thời cả hai phương pháp thử

nghiệm urease và hơi thở 13C

Qua nghiên cứu này, cần có thêm những

nghiên cứu khác để xác định giá trị ngưỡng

phù hợp của thử nghiệm hơi thở 13C ở người

Việt Nam

TÀI LIỆU THAM KHẢO

(2007), 26(6):1071-1075

a New Infrared Spectrometer for Diagnosis of Helicobacter

Dyspepsia Management, Dig Dis, 26:225-230

Infection, 10, suppl.1:5-11

commercially available rapid urease tests for the diagnosis

of Helicobacter pylori, 44(5):523-6

gastrointestinal tract: Epidemiology and diagnosis of

mucosal atrophy and intestinal metaplasia in asian

populations: a comparative study in Age-, Gender- and

Endoscopic diagnosis-matched subjects, Helicobacter; 8(1):

29-35

Canadian community population, Can J Gastroenterol, 20(12):770-4

diagnosis of Helicobacter pylori infection in Japan, J

Gastroenterol, 33(1):6-13

publishing:93-95

Helicobacter, 11 (Suppl 2):38 (Abstract)

mạn theo phân loại Sydney và mối liên quan giữa các đặc

điểm này với Helicobacter pylori, Y Học TP Hồ Chí Minh; 7

(1):118 -122

urease test for Helicobacter pylori diagnosis in comparison

with PyloriTek, J Gastroenterol Hepatol, 21:A390

chẩn đoán tình trạng H pylori sau điều trị tiệt trừ của xét

chí Khoa Học Tiêu Hóa Việt Nam, 2(8): 462

nghiệm Urease trong chẩn đoán nhiễm H pylori trên bệnh

nhân loét dạ dày tá tràng bằng sinh thiết 2 mẫu mô, Y học

TP Hồ Chí Minh, 8(3):157-160

perforated gastroduodenal ulcer by simple suture

followed by Helicobacter pylori eradication, Ann Chir;

127(1):32-4

Ngày đăng: 22/01/2020, 07:15

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w