1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Đánh giá tác dụng của thuốc xịt thông xoang nam dược trong hỗ trợ điều trị bệnh nhân viêm mũi xoang cấp

9 80 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 9
Dung lượng 746,67 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nghiên cứu nhằm đánh giá tác dụng hỗ trợ điều trị bệnh viêm mũi xoang cấp của thuốc xịt Thông xoang Nam dược và khảo sát tác dụng không mong muốn của thuốc xịt trên lâm sàng và cận lâm sàng. Sau 10 ngày điều trị, các triệu chứng cơ năng và thực thể của bệnh viêm mũi xoang cấp đều được cải thiện rõ rệt.

Trang 1

ĐÁNH GIÁ TÁC DỤNG CỦA THUỐC XỊT THÔNG XOANG NAM DƯỢC TRONG HỖ TRỢ ĐIỀU TRỊ

BỆNH NHÂN VIÊM MŨI XOANG CẤP

Nguyễn Thị Thanh Vân 1 , Đỗ Thị Phương 1 , Mai Thị Đào 2

1 Trường Đại học Y Hà Nội, 2 Trường Đại học Y Thái Bình Nghiên cứu nhằm đánh giá tác dụng hỗ trợ điều trị bệnh viêm mũi xoang cấp của thuốc xịt Thông xoang Nam dược và khảo sát tác dụng không mong muốn của thuốc xịt trên lâm sàng và cận lâm sàng Sau 10 ngày điều trị, các triệu chứng cơ năng và thực thể của bệnh viêm mũi xoang cấp đều được cải thiện rõ rệt Kết quả nghiên cứu cho thấy tỷ lệ tốt đạt 40%, khá đạt 20%, trung bình đạt 33,33%, kém đạt 6,67%, mức cải thiện tương đương với nhóm chứng Chưa phát hiện thấy các tác dụng không muốn trên cận lâm sàng trong

10 ngày điều trị, ghi nhận duy nhất 1 trường hợp bị kích ứng sau khi xịt thuốc, nhưng triệu chứng này hết sau khi ngừng thuốc.

Từ khóa: Thuốc xịt Thông xoang Nam dược, Viêm mũi xoang cấp

Địa chỉ liên hệ: Nguyễn Thị Thanh Vân – Khoa Y học cổ

truyền – Trường Đại học Y Hà Nội

Email: nguyenthanhvan.hmu@gmail.com

Ngày nhận: 28/7/2016

Ngày được chấp thuận: 08/10/2016

I ĐẶT VẤN ĐỀ

Viêm mũi xoang cấp là tình trạng viêm

niêm mạc xoang lần đầu mà trước đó niêm

mạc xoang vẫn hoàn toàn bình thường Tuy

không phải là một bệnh lý nguy hiểm nhưng

viêm mũi xoang cấp là một vấn đề sức khoẻ

cộng đồng lớn ở nhiều khía cạnh khác nhau,

bệnh gây giảm chất lượng cuộc sống, giảm

năng suất lao động và giảm khả năng học tập

Không điều trị tốt viêm mũi xoang cấp có thể

tiến triển thành viêm xoang mạn Hơn nữa,

viêm mũi xoang cấp có thể là khởi nguồn của

nhiều chứng bệnh trầm trọng khác do biến

chứng như viêm phổi, viêm phế quản cấp

viêm tai giữa cấp, viêm kết mạc, áp xe ổ mắt,

thậm chí viêm màng não, áp xe não [1; 2; 3]

Theo nghiên cứu năm 2001, ở Pháp có 7%

lượng kháng sinh được kê đơn để điều trị

viêm mũi xoang cấp có nhiễm khuẩn; ở Anh

chi 10 tỷ bảng cho điều trị viêm mũi xoang cấp

[4; 5] Theo Y học cổ truyền, viêm mũi xoang cấp thuộc chứng Tỵ uyên, với nhiều phương pháp điều trị khác nhau đã mang lại những hiệu quả nhất định: như phương pháp dùng thuốc cũng như phương pháp không dùng thuốc [6; 7]

Đặc biệt, ngày nay với sự kết hợp điều trị giữa Y học hiện đại với Y học cổ truyền đã mang lại những bước tiến triển mới về hiệu quả điều trị Mặt khác khoa học ngày càng phát triển nên nhiều vị thuốc cũng như bài thuốc đã được sản xuất thành dạng sử dụng tiện lợi hơn mà vẫn giữ nguyên được tác dụng, đem lại những hiệu quả mới trong điều trị nhiều bệnh đặc biệt là bệnh viêm mũi xoang cấp

Chế phẩm thuốc xịt Thông xoang Nam dược của Công ty Nam dược được sản xuất

từ các vị thuốc Tân di, Bạc hà, Khương hoàng

và Long não Theo Y học cổ truyền, bài thuốc

có tác dụng khu phong, thanh nhiệt, tuyên phế, thông tỵ [8; 9] Hơn nữa, bài thuốc đã được chứng minh trên thực nghiệm về độc tính cấp, độc tính bán trường diễn, phản ứng

Trang 2

kích ứng niêm mạc cho thấy thuốc có tính an

toàn cao Ngoài ra, thuốc còn có tác dụng

chống viêm cấp tính, mạn tính và đã được

thăm dò trên số nhỏ bệnh nhân viêm mũi

xoang cấp và hiệu quả điều trị Vì vậy, nghiên

cứu này được tiến hành với mục tiêu:

1 Đánh giá tác dụng hỗ trợ điều trị của

thuốc xịt Thông xoang Nam dược trên bệnh

nhân viêm mũi xoang cấp

2 Khảo sát tác dụng không mong muốn của thuốc xịt trên lâm sàng, cận lâm sàng

II ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP

1 Chất liệu nghiên cứu

- Thuốc xịt Thông xoang Nam dược do Công ty cổ phần Nam Dược sản xuất, thuốc đạt tiêu chuẩn cơ sở Thuốc gồm các thành phần sau [8; 9]:

Tân di Thông tỵ khiếu, tuyên tán phong

hàn, chữa đau đầu Chống viêm, co mạch tại chỗ

Bạc hà Phát tán phong nhiệt, làm mọc

Khương hoàng Hành huyết khứ ứ, hành khí giải

uất, thông kinh lạc

Thông mật, sát trùng, diệt nấm, tính kháng sinh, sinh

cơ, giảm phù nề, cầm máu,

Cả bài thuốc Khu phong, thanh nhiệt, tuyên phế

thông tỵ

Chống viêm, giảm phù nề, co mạch tại chỗ, sát trùng

Tác dụng

2 Đối tượng

- Tiêu chuẩn chọn bệnh nhân

+ Y học hiện đại: bệnh nhân được chẩn

đoán xác định là viêm mũi xoang cấp theo y

học hiện đại: Triệu chứng cơ năng: đau nhức

vùng mặt, chảy nước mũi, ngạt tắc mũi, giảm

ngửi; Triệu chứng thực thể: sưng nề vùng má,

ấn có điểm đau trên mặt tương ứng xoang

viêm, nội soi: niêm mạc mũi sung huyết đỏ,

mủ ở khe giữa, khe trên

+ Theo y học cổ truyền: chứng Tỵ uyên thể

Phong hàn và Phong nhiệt

+ Tự nguyện tham gia nghiên cứu và tuân thủ đúng liệu trình điều trị, không dùng phương pháp điều trị nào khác trong quá trình nghiên cứu

- Tiêu chuẩn loại trừ bệnh nhân: bệnh

nhân < 16 tuổi, không tuân thủ quy trình điều trị; Bệnh nhân dị ứng với bất kì thành phần nào của thuốc; Bệnh nhân mắc một số bệnh mạn tính khác: tăng huyết áp, tim mạch, đái tháo đường, bệnh gan, bệnh thận; Bệnh nhân bị viêm mũi xoang cấp có biến chứng viêm tai giữa, polip mũi xoang, viêm mũi xoang cấp do răng

Trang 3

3 Phương pháp

- Thiết kế nghiên cứu: Thử nghiệm lâm

sàng mở, so sánh trước và sau điều trị, có đối

chứng

- Cỡ mẫu: 60 bệnh nhân được chia làm 2

nhóm theo phương pháp chọn mẫu có chủ

đích, cho đến khi mỗi nhóm được 30 bệnh

nhân

+ Nhóm chứng: 30 bệnh nhân điều trị bằng

kháng sinh, giảm phù nề, co mạch tại chỗ

+ Nhóm nghiên cứu: 30 bệnh nhân điều trị

bằng kháng sinh, giảm phù nề, Thuốc xịt

Thông xoang Nam dược

- Tiến hành nghiên cứu

+ Bệnh nhân được sắp xếp vào 2 nhóm

nghiên cứu và nhóm chứng theo phương

pháp ghép cặp, đảm bảo đảm bảo sự tương

đồng về tuổi, thời gian mắc bệnh và mức độ

bệnh

+ Áp dụng phương pháp điều trị với từng

nhóm

* Nhóm nghiên cứu: 30 bệnh nhân:

Cephalexin 500 mg, ngày uống 4 viên chia 2

lần; Alphachymotrypsin 4200 đơn vị USP,

ngày uống 4 viên chia 2 lần; thuốc xịt Thông

xoang Nam dược, xịt mỗi bên mũi 1 nhát/lần,

ngày 3 lần

* Nhóm chứng: 30 bệnh nhân, dùng:

Cephalexin 500mg, ngày uống 4 viên chia 2

lần; Alphachymotrypsin 4200 đơn vị USP,

ngày uống 4 viên chia 2 lần; Loratadine 10mg

ngày uống 2 viên chia 2 lần; Otrivin 10ml x 1lọ

xịt mỗi bên mũi 1 nhát/lần x 3 lần/ ngày

Điều trị viêm mũi xoang cấp theo phác đồ

được thống nhất giữa Bệnh viện Đại học Y

Thái Bình và Bệnh viện Đa khoa Y học cổ

truyền Hà Nội

+ Liệu trình điều trị liên tục 10 ngày cho cả

2 nhóm

+ Theo dõi các triệu chứng lâm sàng và tác dụng không mong muốn trước và sau điều trị + Đánh giá kết quả điều trị và so sánh giữa

2 nhóm

- Chỉ tiêu nghiên cứu

Các chỉ tiêu theo dõi trên lâm sàng

- Các triệu chứng cơ năng: đau vùng xoang tương ứng, ngạt mũi, chảy nước mũi; Các triệu chứng thực thể: Tình trạng niêm mạc mũi, tình trạng cuốn mũi, dịch tiết Các chỉ tiêu lâm sàng được theo dõi và đánh giá tại 2 thời điểm D0và D10

- Các tác dụng không mong muốn: rối loạn tiêu hóa, mệt mỏi, đau đầu, khô họng, nổi ban, kích ứng, ngứa được theo dõi hàng ngày và ghi chép cụ thể thời gian xuất hiện, mức độ và diễn biến

Các chỉ tiêu theo dõi trên cận lâm sàng

- Công thức máu, máu lắng, sinh hóa máu: enzym gan (ALT, AST), chức năng thận (ure, creatinin)

- Nội soi tai mũi họng Các xét nghiệm được làm ở 2 thời điểm trước điều trị (D0) và sau điều trị 10 ngày (D10)

4 Đánh giá kết quả

- Loại tốt: các triệu chứng lâm sàng hết; Nội soi: niêm mạc hồng, cuốn mũi không phù

nề, khe và sàn mũi sạch

- Loại khá: các triệu chứng lâm sàng giảm

từ 70% trở lên; nội soi: niêm mạc và cuốn mũi phù nề Cuốn dưới phù nề, vẫn nhìn thấy cuốn giữa, khe và sàn mũi có ít dịch xuất tiết nhầy trắng

Trang 4

- Loại trung bình: triệu chứng lâm sàng

giảm từ 30% - 70%; nội soi: niêm mạc và cuốn

dưới mũi phù nề, không nhìn thấy cuốn giữa,

khe và sàn mũi có dịch nhầy tích tụ

- Loại kém: triệu chứng lâm sàng giảm

dưới 30%; nội soi: niêm mạc và cuốn dưới,

cuốn giữa phù nề che lấp khe mũi giữa,

các khe mũi, khe khứu và sàn mũi đều có

nhiều dịch

5 Địa điểm và thời gian nghiên cứu

Bệnh viện Đa khoa Y học cổ truyền Hà

Nội, Bệnh viện Đại học Y Thái Bình, từ tháng

10 năm 2014 đến tháng 6 năm 2015

6 Xử lý số liệu: bằng phần mềm SPSS

16.0

7 Đạo đức trong nghiên cứu

Nghiên cứu được Hội đồng khoa học của Bệnh viện Đa khoa Y học cổ truyền Hà Nội thông qua vào ngày 14/10/12014 theo quyết định số 552/QĐ-BVĐKYHCT Tất cả bệnh nhân đều được giải thích rõ về mục đích nghiên cứu và tự nguyện tham gia

III KẾT QUẢ

1 Hiệu quả về lâm sàng

1.1 Triệu chứng chảy nước mũi sau điều trị

Bảng 1 Sự thay đổi triệu chứng chảy nước mũi trước – sau điều trị

Mức độ

Nhóm nghiên cứu (n = 30) Nhóm chứng (n = 30)

pNC-C (D10)

Sau 10 ngày điều trị triệu chứng chảy mũi được cải thiện rõ ràng, số bệnh nhân có triệu chứng

ở mức độ nhẹ và không còn triệu chứng này chiếm chủ yếu, nhóm nghiên cứu 83,34% và nhóm chứng 93,33%, sự khác biệt trước và sau điều trị có ý nghĩa thống kê, p < 0,05

1.2 Triệu chứng ngạt mũi sau điều trị

Sau điều trị 10 ngày, triệu chứng ngạt mũi được cải thiện rõ rệt ở cả hai nhóm nghiên cứu và nhóm chứng Sự khác biệt trước và sau điều trị có ý nghĩa thống kê, p < 0,05 (bảng 2)

Trang 5

Bảng 2 Sự thay đổi triệu chứng ngạt mũi trước – sau điều trị

Mức độ

Nhóm nghiên cứu (n = 30) Nhóm chứng (n = 30)

pNC-C

> 0,05

Nhóm

1.3 Triệu chứng đau vùng xoang sau điều trị

Bảng 3 Sự thay đổi triệu chứng đau vùng xoang trước – sau điều trị

Mức độ

Nhóm nghiên cứu (n = 30) Nhóm chứng (n = 30)

pNC-C

> 0,05

Nhóm

Sau 10 ngày điều trị, triệu chứng đau vùng xoang đã giảm rõ rệt, chủ yếu bệnh nhân ở mức

độ nhẹ và không còn triệu chứng ở nhóm nghiên cứu là 93,34% và nhóm chứng là 96,67% Sự khác biệt trước và sau điều trị có ý nghĩa thống kê, p < 0,05

1.4 Hình thái niêm mạc mũi sau điều trị

Tỷ lệ bệnh nhân có niêm mạc mũi trở về bình thường sau 10 ngày điều trị tăng lên 43,33% ở nhóm nghiên cứu và 53,34% ở nhóm chứng Sự khác biệt giữa 2 nhóm không có nghĩa thống kê,

p > 0,05 (bảng 4)

Trang 6

Bảng 4 Sự thay đổi hình thái niêm mạc mũi trước sau điều trị

Mức độ

Nhóm nghiên cứu (n = 30) Nhóm chứng (n = 30)

pNC-C

> 0,05

Nhóm

2 Hiệu quả điều trị chung

2.1 Hiệu quả điều trị chung

Bảng 5 Kết quả điều trị chung

Mức độ

Nhóm nghiên cứu (n = 30) Nhóm chứng (n = 30)

p

> 0,05

Nhóm

Ở cả hai nhóm nghiên cứu và nhóm chứng, tỷ lệ bệnh nhân các mức độ có sự tương đồng, tổng 2 mức độ tốt và khá chiếm tỷ lệ là 60% ở nhóm nghiên cứu và 63,33% ở nhóm chứng Hiệu quả điều trị chung giữa hai nhóm khác biệt không có ý nghĩa thống kê, p > 0,05

2.2 Kết quả điều trị chung theo theo thể bệnh y học cổ truyền

Bảng 6 Kết quả điều trị theo thể bệnh

Mức độ

Nhóm nghiên cứu (n = 30) Nhóm chứng (n = 30)

pNC-C Phong hàn

(n = 13)

Phong nhiệt (n = 17)

Phong hàn (n = 15)

Phong nhiệt (n = 15)

> 0,05

Nhóm

Trang 7

Cả hai nhóm nghiên cứu và nhóm chứng, hiệu quả điều trị tốt ở thể phong hàn (nhóm nghiên cứu là 61,54% và nhóm chứng là 60%) cao hơn thể phong nhiệt (nhóm nghiên cứu là 23,53% và nhóm chứng là 20%) Sự khác biệt giữa hai nhóm không có ý nghĩa thống kê, p > 0,05

3 Tác dụng không mong muốn

3.1 Tác dụng không mong muốn trên lâm sàng

Bảng 7 Tác dụng không mong muốn trên lâm sàng

Mức độ

Nhóm nghiên cứu (n = 30) Nhóm chứng (n = 30)

Nhóm

Khô họng là triệu chứng thường gặp ở nhóm chứng chiếm 36,67%, trong khi đó nhóm nghiên cứu lại không có triệu chứng này Sự khác biệt giữa hai nhóm có ý nghĩa thống kê, p < 0,05 Các tác dụng phụ khác như ban chẩn, ngứa, buồn nôn, nôn và kích ứng rất ít gặp ở cả hai nhóm Sự khác biệt giữa hai nhóm không có ý nghĩa thống kê, p > 0,05

3.2 Tác dụng không mong muốn trên

cận lâm sàng

Sự khác biệt giữa chức năng thận, chỉ số

enzym gan, số lượng bạch cầu, máu lắng

trước và sau điều trị ở cả nhóm nghiên cứu

và nhóm chứng không có ý nghĩa thống kê,

p > 0,05

IV BÀN LUẬN

Bệnh viêm mũi xoang cấp với triệu chứng

hay gặp nhất là chảy nước mũi, ngạt mũi và

đau vùng xoang, sau điều trị các triệu chứng

này đều cải thiện rõ rệt Ngoài ra, trên hình

ảnh nội soi mũi họng cũng cho thấy hình thái

niêm mạc mũi đạt kết quả khả quan Kết quả

chung sau khi điều trị, tỷ lệ tốt và khá ở nhóm

nghiên cứu chiếm 60%, nhóm chứng là 63,33% Có được kết quả này là vì trong thành phần của thuốc xịt có những vị thuốc có tác dụng khu phong, tuyên phế thông tỵ, thông kinh hoạt lạc qua đó có tác dụng chống viêm, sát trùng, co mạch, giảm phù nề có hiệu quả tương đương với kháng histamin (Loratadin) kết hợp co mạch (Otrivin)

Theo y học cổ truyền, ở nhóm nghiên cứu

và nhóm chứng, thể Phong hàn có kết quả khả quan hơn thể Phong nhiệt Điều này là do bài thuốc Thông xoang Nam dược có 4 vị thuốc thì trong đó có tới 3 vị thuốc là Tân di, Khương hoàng, Long não đều có vị cay, tính ấm có tác dụng phát tán phong hàn nên hiệu quả điều trị thể Phong hàn tốt hơn thể Phong nhiệt

Trang 8

Trong 30 bệnh nhân điều trị ở nhóm

nghiên cứu, chỉ có duy nhất 1 trường hợp sau

5 ngày sử dụng thuốc thấy hiện tượng kích

ứng, biểu hiện chảy mũi, ngạt mũi, đau vùng

xoang tiến triển nặng hơn, nhưng sau khi

ngừng sử dụng thuốc thì các triệu chứng kích

ứng giảm nhanh chóng và hết hoàn toàn sau

1 ngày ngừng thuốc Theo chúng tôi, có thể

đó là do bệnh nhân bị kích ứng với một thành

phần nào đó của thuốc xịt Còn ở nhóm

chứng, các triệu chứng không mong muốn

xuất hiện khá cao, tới 36,67% bệnh nhân bị

khô họng, 6,67% bệnh nhân bị ngứa và 3,34%

có ban chẩn Các triệu chứng này là do thuốc

Loratadin và Otrivin gây nên Điều này khiến

người bệnh khó chịu, ảnh hưởng đến chất

lượng điều trị

Vậy, sử dụng thuốc Thông xoang Nam

dược có độ an toàn hơn mà hiệu quả lại

tương đương với kháng histamin (Loratadin)

kết hợp với co mạch (Otrivin) Sự khác biệt

giữa chức năng thận, chỉ số men gan, công

thức máu, máu lắng trước và sau điều trị ở cả

nhóm nghiên cứu và nhóm chứng không có ý

nghĩa thống kê Vậy Thông xoang Nam dược

không làm ảnh hưởng đến chức năng thận,

enzym gan, công thức máu, máu lắng Việc

sử dụng thuốc xịt thông xoang Nam dược là

an toàn với sức khỏe người bệnh

V KẾT LUẬN

Kết quả nghiên cứu thu được cho phép

đưa ra một số kết luận sau:

- Thuốc xịt Thông xoang Nam dược kết

hợp với kháng sinh (Cefalexin), giảm phù nề

(Alphachymotrypsin) có tác dụng tốt trong điều

trị bệnh nhân viêm mũi xoang cấp: Các triệu

chứng cơ năng và thực thể đều được cải thiện

rõ rệt

- Trên lâm sàng chỉ có 1 trường hợp duy nhất ở nhóm nghiên cứu có biểu hiện kích ứng sau khi dùng Thông xoang Nam dược, nhưng triệu chứng này hết sau khi ngừng thuốc Trên cận lâm sàng, thuốc xịt không làm thay đổi công thức máu, máu lắng, chức năng thận, enzym gan của bệnh nhân

Lời cảm ơn

Chúng tôi xin chân thành cảm ơn Bệnh viện Đa khoa Y học cổ truyền Hà Nội - Bệnh viện Đại học Y Thái Bình đã giúp đỡ chúng tôi trong quá trìn nghiên cứu

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Bộ Y tế (2012) Tai mũi họng Nhà xuất

bản giáo dục Việt Nam, 64 - 72.

2 Ngô Ngọc Liễn (2016) Bệnh học Tai

mũi họng Nhà xuất bản Y học, 207 - 208.

3 Aring AM, Chan MM (2016) Current

Concepts in Adult Acute Rhinosinusitis Am

Fam Physician, 94(2), 97 - 105.

4 Groupe d ’ Edute des Sinisites Imfec-tieuses Rhiol Suppl (2001) Current

approa-ches to communnity – acquiredn acute maxil-lary rhinosinusitis or sinusitis in France and

literature review, 17, 1 - 38.

5 Osguthorpe JD, Hadley JA Med clin North Am (1999) Rhinosinustis, Current con-cepts in evaluation and management 83(1),

27 - 41

6 Khoa Y học cổ truyền - Trường Đại học Y Hà Nội (2009) Bài giảng ngũ quan.

Nhà xuất bản Y học, 75.

7 Trần Văn Bản (2013) Bệnh học ngũ

quan Đông y, Trung ương hội Đông y Việt Nam, 105 - 124.

8 Bộ Y tế (2009) Dược học cổ truyền.

Trang 9

Nhà xuất bản Y học, 39 - 40, 42, 106 - 107,

244

9 Đỗ Tất Lợi (2006) Những cây thuốc và

vị thuốc Việt Nam Nhà xuất bản Thời đại,

242, 527, 612

Summary THE EFFECT OF THONG XOANG NAM DUOC SPRAY IN SUPPORTIVE

TREATMENT OF ACUTE RHINOSINUSITIS

This research was conducted to evaluate the supportive effects in treating acute rhinosinusitis

of ’Thong xoang Nam Duoc’ spray and monitor the adverse side effects of the spray in clinical practice and laboratory tests After 10 days of treatment, the signs and symptoms of acute rhinosi-nusitis both improved remarkably The results indicated that 40% of the patients had good results, 20% m.oderate, 33.33% average, 6.67% bad; similar to control group No adverse side effects in laboratory tests were observed in 10 days of treatment; only one case had skin allergic reaction but this stopped immediately after not using the drug

Keywords: Thong xoang Nam Duoc spray, acute rhinosinusitis

Ngày đăng: 22/01/2020, 06:49

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w