1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Nghiên cứu tương đương điều trị lâm sàng giữa cetrimaz 1g và rocephin 1g trong điều trị bệnh lý nhiễm trùng tại Bệnh viện Thống Nhất và Bệnh viện Đa khoa tỉnh Phú Yên

5 52 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 5
Dung lượng 245,32 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong đề tài này với mục tiêu nhằm nghiên cứu tương đương điều trị lâm sàng giữa cetrimaz 1g và rocephin 1g trong điều trị bệnh lý nhiễm trùng tại Bệnh viện Thống Nhất và Bệnh viện Đa khoa tỉnh Phú Yên. Mời các bạn cùng tham khảo bài viết để nắm rõ nội dung chi tiết của đề tài nghiên cứu này.

Trang 1

NGHIÊN CỨU TƯƠNG ĐƯƠNG ĐIỀU TRỊ LÂM SÀNG

GIỮA CETRIMAZ 1G VÀ ROCEPHIN 1G TRONG ĐIỀU TRỊ

BỆNH LÝ NHIỄM TRÙNG TẠI BỆNH VIỆN THỐNG NHẤT

VÀ BỆNH VIỆN ĐA KHOA TỈNH PHÚ YÊN

Trang Mộng Hải Yên*, Nguyễn Hoàng Thu Trang***, Nguyễn Đức Công*, Hồ Thượng Dũng*,

Lê Thị Kim Nhung*, Đỗ Thị Kim Yến*, Hoàng Văn Quang*, Nguyễn Bách*, Võ Văn Bảy*, Hoàng Ngọc Vân*,

Tạ Việt Thắng*, Nguyễn Văn Thành*, Nguyễn Bá Lương*, Vũ Thị Kim Cương*, Bùi Tùng Hiệp **

TÓM TẮT

Cơ sở nghiên cứu: Kháng sinh đến nay vẫn là thuốc thiết yếu chiếm một khoản chi phí lớn trong điều trị

Cùng với mong muốn giúp bác sỹ có chứng cứ cụ thể, từ đó bệnh nhân có thể được điều trị với nguồn thuốc kháng sinh sản xuất trong nước, chúng tôi thực hiện đề tài thử nghiệm tương đương điều trị lâm sàng để so sánh hiệu qủa điều trị, tính an toàn của Rocephin 1g và Ceftrimaz 1g

Phương pháp nghiên cứu: Thử nghiệm lâm sàng có nhóm chứng, ngẫu nhiên, mù đơn, đa trung tâm Kết quả: Đối tượng nghiên cứu được phân bố ngẫu nhiên vào 2 nhóm Nhóm Cetrimaz có 30 bệnh nhân

viêm phổi và nhóm Rocephin có 30 bệnh nhân viêm phổi với các đặc điểm nhân trắc, lâm sàng, cận lâm sàng tương đương nhau Tỉ lệ khỏi bệnh ở nhóm Cetrimaz là 86,67% so với nhóm Rocephin là 80% là tương đương nhau; giá trị MIC trung bình cho nhóm Cetrimaz và Rocephin lần lượt là 12,348 ± 13,455µg/ml và 12,277 ± 13,514 µg/ml; giá trị MBC trung bình cho nhóm Cetrimaz và Rocephin lần lượt là 24,696 ± 26,909 µg/ml và 24,554 ± 27,028 µg/ml Ngày điều trị trung bình của nhóm Cetrimaz là 11,7 và của Rocephin là 11,17 Chi phí điều trị trung bình với Cetrimaz thấp hơn với Rocephin 77%

Kết luận: Chế phẩm Cetrimaz có hiệu quả điều trị tương đương với chế phẩm đối chiếu Rocephin về lâm

sàng, cận lâm sàng Chế phẩm Cetrimaz hoàn toàn có hiệu lực tương đương với chế phẩm đối chiếu Rocephin trên các chủng vi khuẩn lâm sàng trong nghiên cứu này Chi phí điều trị giảm đi nhiều khi sử dụng Cetrimaz thay cho Rocephin

Từ khoá: tương đương sinh học, kháng sinh, Ceftriaxone, Ceftrimaz, Rocephin

ABSTRACT

RESEARCH ON THE TREATMENT-EQUIVALANCE

OF CEFTRIMAZ 1G AND ROCEPHIN 1G IN TREATING INFECTIOUS DISEASES

AT THONG NHAT HOSPITAL AND PHU YEN POLYCLINIC

Trang Mong Hai Yen, Nguyen Hoang Thu Trang, Nguyen Duc Cong, Ho Thuong Dung,

Le Thi Kim Nhung, Do Thi Kim Yen, Hoang Van Quang, Nguyen Bach, Vo Van Bay, Hoang Ngoc Van, Ta Viet Thang, Nguyen Van Thanh, Nguyen Ba Luong, Vu Thi Kim Cuong,

Bui Tung Hiep* Y Hoc TP Ho Chi Minh * Vol 18 - No 3- 2014: 320-324

Background: Antibiotic is a very important drug which cost most of treatment expenditure Exported

antibiotic is used mostly because of the thought of patients that it is more effective than the dosmetic one With this reason, we need to have research on the outcome of treating infectious diseases especially in pneumonia using dosmetic antibiotic (Ceftrimaz 1g) which has the treatment – equivalence with the exported drug (Rocephin 1g)

* Bệnh viện Thống Nhất Tp HCM ** Bệnh viện Trưng Vương *** Trường Đại học y dược TP.HCM

Tác giả liên lạc: BS Trang Mộng Hải Yên ĐT: 0938398262 Email: trangmonghaiyen@gmail.com

Trang 2

having the same formula antibiotic

Methods: A accidental, control, single blind, multi-center reseach

Results: Patients with pneumonia in research was divided into 2 groups: ‘Ceftrimaz’ has 30 patients and

‘Rocephin’ has 30 patients with the same athropemetry, paraclinical and clinical characteristics Percent of getting well in ‘Ceftrimaz’ group is 86.67% while this is about 80% in ‘Rocephin’ group The mean of MIC of

‘Ceftrimaz’ group and ‘Rocephin’ group is 12.348 ± 13.455µg/ml and 12.277 ± 13.514 µg/ml; The mean of MBC

of ‘Ceftrimaz’ group and ‘Rocephin’ group is 24.696 ± 26.909 µg/ml và 24.554 ± 27.028 µg/ml The mean of number of treatment of ‘Ceftrimaz’ group and ‘Rocephin’ group is 11.7 and 11.17 The mean of treatment expenditure of ‘Ceftrimaz’ group is 77% lower than ‘Rocephin’ group

Conclusion: Ceftrimaz has the same effects in treatment, bioequivalence with the brandname drug

(Rocephin) but the treatment expenditure in patients treated pneumonia using Ceftrimaz is lower than one using Rocephin

Keywords: antibiotic, bioequivalence, Ceftrimaz, Rocephin, ceftriaxone

ĐẶT VẤN ĐỀ

Chủ trương của Đảng và Nhà nước: “Thuốc

Việt cho người Việt” Hăng hái hưởng ứng Chiến

dịch vận động “Người Việt Nam ưu tiên dùng

thuốc Việt Nam”, mỗi bệnh viện, cơ sở khám

chữa bệnh tăng cường kê đơn thuốc sản xuất

trong nước để giảm tỷ lệ chi phí thuốc/ tổng chi

phí điều trị đồng thời góp phần thúc đẩy sản

xuất các mặt hàng thuốc có chất lượng tốt, có sức

cạnh tranh cao, đáp ứng nhu cầu điều trị của

người bệnh trong cả nước Tuy nhiên, kháng

sinh vẫn là thuốc thiết yếu, nhu cầu sử dụng lớn

và chiếm một khoản chi phí lớn trong điều trị

Hiện nay rất nhiều kháng sinh được sản xuất

trong nước, cụ thể Công ty Cổ phần

PYMEPHARCO, Việt Nam sản xuất kháng sinh:

Cetrimaz 1g

Xuất phát từ những nhận định trên, cùng với

sự hỗ trợ về kinh phí thực hiện nghiên cứu khoa

học của Sở Khoa học công nghệ tỉnh Phú Yên,

chúng tôi thực hiện đề tài thử nghiệm tương

đương điều trị lâm sàng để so sánh hiệu qủa

điều trị, tính an toàn của thuốc giữa những nhà

sản xuất khác nhau, không thể thiếu để đánh giá

hiệu quả điều trị, tính an toàn (các tác dụng

ngoại ý) của một thuốc, với mong muốn giúp

bác sỹ có chứng cứ cụ thể, từ đó bệnh nhân có

thể được điều trị với nguồn thuốc kháng sinh

sản xuất trong nước (hoạt chất ceftriaxone 1g)

với chất lượng có thể so sánh được các thuốc

ngoại nhập cùng loại Bên cạnh đó, chúng tôi cũng muốn góp phần mang lại sự chủ động trong chiến lược chăm sóc sức khỏe của quốc gia, giảm lệ thuộc vào nguồn dược phẩm nước ngoài đồng thời tham gia chiến lược đưa thuốc Việt Nam vào khu vực ASEAN

Mục tiêu nghiên cứu

So sánh hiệu quả điều trị bệnh nhiễm trùng tại bệnh viện Thống Nhất – TP Hồ Chí Minh và bệnh viện Đa khoa Phú Yên – Tỉnh Phú Yên giữa kháng sinh: Cetrimaz 1g và Rocephin 1g

So sánh tương đương sinh học của kháng sinh: Cetrimaz 1g với Rocephin 1g trên một số chủng vi khuẩn gây bệnh nhiễm trùng tại bệnh viện Thống Nhất – TP Hồ Chí Minh và bệnh viện Đa khoa Phú Yên – Tỉnh Phú Yên

So sánh chi phí điều trị một số bệnh nhiễm trùng tại bệnh viện Thống Nhất – TP Hồ Chí Minh và bệnh viện Đa khoa Phú Yên – Tỉnh Phú Yên giữa kháng sinh: Ceftrimaz 1g với Rocephin 1g

PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Là một thử nghiệm lâm sàng có nhóm chứng, ngẫu nhiên, mù đơn, đa trung tâm

Cỡ mẫu để kết quả có ý nghĩa thống kê cho mỗi cặp thuốc sẽ gồm 30 bệnh nhân bệnh lý nhiễm trùng, được phân ngẫu nhiên cho 2 nhóm, tại bệnh viện Thống Nhất TP.HCM và bệnh viện Đa khoa tỉnh Phú Yên

Trang 3

Nhóm 1: (30 bệnh nhân) sử dụng Cetrimaz 1g

Nhóm 2: (30 bệnh nhân) sử dụng Rocephin 1g

Một đợt điều trị kéo dài tối đa 14 ngày Bệnh

nhân được thông báo và cam kết tự nguyện

tham gia thử nghiệm

KẾT QUẢ - BÀN LUẬN

Các đối tượng nghiên cứu được chọn lựa và

phân bố ngẫu nhiên vào 2 nhóm nghiên cứu đối

chứng, được sử dụng 2 thuốc KS có cùng hoạt

chất là ceftrixone để điều trị bệnh lý nhiễm

trùng 2 nhóm nghiên cứu này có độ tuổi và sự

phân bố giới tính tương tự nhau (bảng 1), chỉ số

nhân trắc không có sự khác biệt có ý nghĩa, cơ

cấu bệnh (bảng 2) và mức độ nặng của tình trạng

nhiễm trùng (bảng 2) cũng tương đồng với

nhau Các kết quả xét nghiệm huyết học và sinh

hoá và cấy vi khuẩn làm ở ngày thứ 1 trước khi

sử dụng kháng sinh cũng tương tự nhau Chúng

tôi đã có sự chọn lựa chặt chẽ để đảm bảo tính

khách quan và hạn chế tối đa các yếu tố gây

nhiễu do sự khác biệt các đặc điểm nhân trắc

học, từ đó có thể thực hiện sự so sánh về tương

đương điều trị chính xác hơn

Bảng 1.Phân bố tuổi giới ở 2 nhóm nghiên cứu

Tuổi và Giới Cetrimaz

(n=30)

Rocephin (n=30) P

Giới Nam 15 (50%) 16 (53,33%) 0,5

Nữ 15 (50%) 14 (46,67%)

Bảng 2 Cơ cấu bệnh và mức độ nặng của bệnh lý

nhiễm trùng

Bệnh Cetrimaz Rocephin

Viêm phổi cộng đồng 23 76,67 21 70

Nhiễm trùng tiết niệu 07 23,33 09 30

Về vi sinh học, tổng cộng có 60 bệnh nhân được phân bố vào 2 nhóm: nhóm Cetrimaz (n=30), nhóm Rocephin (n=30) Trong đó có 30/60 (50%) trường hợp cấy vi khuẩn mọc vào ngày thứ nhất và xác định được vi khuẩn gây bệnh, 30/60 trường hợp cấy vi khuẩn không mọc do đó không xác định được vi khuẩn Trong 30 trường hợp xác định được vi khuẩn,

có 28/30 trường hợp xác định được giá trị MIC

và MBC, 2/30 trường hợp chủng vi khuẩn chết Các vi khuẩn phân lập ở nhóm bệnh nhân này

chiếm tỉ lệ cao là các vi khuẩn Pseudomonas

aeruginosa, Streptococcus pneumonia, Escherichia coli gây các bệnh viêm phổi cộng đồng và nhiễm trùng tiết niệu và mang nhiều gen đề kháng kháng sinh(3,1,2).

Bảng 3 Giá trị MIC, MBC của các chủng VK lâm

sàng trên chế phẩm thử Ceftrimaz và chế phẩm đối chiếu Rocephin

Ceftrimaz (30)

Rocephin (30)

P MIC (µg/ml)

Trung bình 12,348 12,277

0,9844

Độ lệch chuẩn 13,455 13,514

Chủng chuẩn

MBC (µg/ml)

Trung bình 24,696 24,554

0,9844

Độ lệch chuẩn 26,909 27,028

Chủng chuẩn

Thử nghiệm xác định giá trị MIC, MBC của

28 chủng vi khuẩn (100% nhạy cảm với ceftriaxone) trên chế phẩm thử Cetrimaz và chế phẩm đối chiếu Rocephin, áp dụng phương pháp pha loãng kháng sinh trong môi trường lỏng theo hướng dẫn của NCCLS

Về nồng độ ức chế tối thiểu (MIC), giá trị trung bình cho nhóm Cetrimaz và Rocephin lần lượt là 12,348± 13,455µg/ml và 12,277± 13,514µg/ml, giá trị lớn nhất là và nhỏ nhất của hai kháng sinh đều bằng nhau và lần lượt là 32

Trang 4

µg/ml và 0,25 µg/ml Như vậy, giá trị MIC của

chế phẩm thử Rocephin và chế phẩm đối chiếu

Cetrimaz trên các chủng vi khuẩn lâm sàng cho

thấy không có khác biệt có ý nghĩa thống kê

(p=0,8546)

Về nồng độ diệt khuẩn tối thiểu (MBC), giá

trị trung bình cho nhóm Cetrimaz và Rocephin

lần lượt là 24,696± 26,909µg/ml và 24,554± 27,028

µg/ml, giá trị lớn nhất của Cetrimaz và Rocephin

đều là 64 µg/ml, giá trị nhỏ nhất của hai kháng

sinh đều bằng nhau là 0,5 µg/ml Như vậy, giá

trị MBC của chế phẩm thử Cetrimaz và chế

phẩm đối chiếu Rocephin trên các chủng vi

khuẩn lâm sàng cho thấy không có khác biệt có ý

nghĩa thống kê (p=0,8098)

Bảng 4 Kết quả điều trị

Mức độ khỏi bệnh Cetrimaz Rocephin

n =30 % n=30 %

Khi xem xét mức độ cải thiện triệu chứng

bệnh về lâm sàng, chúng tôi cũng ghi nhận

được tình trạng thân nhiệt giảm dần, hết sốt (t =

37,5) vào ngày thứ 5 sau dùng kháng sinh và

không tái sốt trở lại Các triệu chứng đều giảm

từ ngày thứ 3 và cải thiện vào ngày 7, trở lại

bình thường vào các ngày sau đó Bên cạnh đó,

về kết quả cận lâm sàng, số lượng bạch cầu và

bạch cầu đa nhân trung tính đều giảm dần ở 2

nhóm sau khi được sử dụng kháng sinh và trở

về số lượng bình thường vào ngày thứ 7 sau

dùng kháng sinh

Tỉ lệ khỏi bệnh khá cao ở 2 nhóm: nhóm

nghiên cứu (86,67%) so với nhóm chứng (80%),

trong khi đó tỉ lệ thất bại rất thấp tương ứng với

3,3% ở cả 2 nhóm nghiên cứu và không có sự

khác biệt có ý nghĩa thống kê về kết quả điều trị

giữa 2 nhóm với p = 0,573 > 0,05;

Như vậy, cùng với sự kiểm soát các yếu tố gây nhiễu đã phân tích ở trên, chúng tôi có thể khẳng định rằng sử dụng kháng sinh Cetrimaz đạt hiệu quả điều trị tương đương với kháng sinh Rocephin trong điều trị bệnh lý viêm phổi cộng đồng nhẹ và vừa cũng như nhiễm trùng tiết niệu

Bảng 5 Ngày điều trị trung bình và chi phí điều trị

Ngày điều trị trung bình

Ceftrimaz (n=31)

Rocephin (n=30) P

0,181

Độ lệch chuẩn 2,23 2,85 Chi phí 1 ca điều trị 768.000 5.870.000 Với các thử nghiệm như trên về các mặt lâm sàng, cận lâm sàng và thử nghiệm in vitro, chúng tôi có thể kết luận rằng chế phẩm thử Cetrimaz hoàn toàn có hiệu lực tương đương với chế phẩm đối chiếu Rocephin trên các chủng vi khuẩn lâm sàng trong nghiên cứu này

Từ khi được phát triển thì kháng sinh ceftriaxone đã được nghiên cứu trên thế giới cho thấy tính tương đương về hiệu quả điều trị của các thuốc generic so sánh với dạng brandname của nó, cũng như có nhiều nghiên cứu đã chứng minh với hiệu quả điều trị cao của ceftrixone là một kháng sinh được ưu tiên lựa chọn trong điều trị nhiều bệnh lý nhiễm trùng Tuy nhiên, việc sử dụng kháng sinh brandname với một chi phí điều trị cao cũng là một rào cản lớn trong thực tế điều trị

Trong thử nghiệm tương đương điều trị giữa Cetrimaz và Rocephin, với sự kiểm soát chặt chẽ các yếu tố gây nhiễu, chúng tôi đã đưa ra một cái nhìn khách quan về tính an toàn và hiệu quả điều trị Hơn thế nữa, chi phí điều trị giảm đi rất nhiều (77%) khi sử dụng một thuốc generic có giá thành thấp hơn nhưng tương đương về hiệu quả điều trị (bảng 5) Không chỉ có ích lợi vì giá thành thuốc thấp hơn, chúng tôi còn chứng minh được rằng lợi ích về kinh tế của Cetrimaz

là thiết thực khi số ngày điều trị trung bình của nhóm điều trị bằng Cetrimaz tương tự với số ngày điều trị trung bình của nhóm được điều trị

Trang 5

với Rocephin Điều này chứng tỏ rằng, khi sử

dụng Cetrimaz là một kháng sinh được sản xuất

trong nước, chúng tôi vẫn đạt được những kết

quả điều trị như mong muốn và không gặp phải

những tác dụng ngoại ý, tương tự như khi sử

dụng Rocephin Trong khi đó, chúng tôi lại thu

được lợi ích thiết thực về chi phí điều trị sau đợt

điều trị do giá thành của Cetrimaz rẻ hơn hơn

Rocephin và số ngày điều trị là như nhau

KẾT LUẬN

Nghiên cứu chúng tôi đã cho thấy chế phẩm

Cetrimaz hoàn toàn có hiệu quả điều trị tương

đương với chế phẩm đối chiếu Rocephin qua các

thông số lâm sàng, cận lâm sàng Trong các xét

nghiệm vi sinh, chế phẩm Cetrimaz có hiệu lực

tương đương với chế phẩm đối chiếu Rocephin

trên các chủng vi khuẩn lâm sàng trong nghiên

cứu này Chi phí điều trị giảm đi rất nhiều khi sử

dụng Cetrimaz thay cho Rocephin Nghiên cứu

này, thực tế đã mang đến một lợi ích thiết thực

rất lớn, góp phần làm cho bệnh nhân và kể cả

các thầy thuốc tin tưởng vào thuốc kháng sinh sản xuất trong nước, giúp giảm chi phí điều trị các bệnh lý nhiễm trùng mà cụ thể là viêm phổi cộng đồng và nhiễm trùng tiết niệu rất nhiều và giúp cho ngành dược Việt nam phát triển ngày càng lớn mạnh

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Cao V., Lambert T., Duong Q.N et al (2002), “Distribution of

extended-spectrum β-lactamase in clinical isolates of

Enterobacteriaceae in Vietnam”, Antimicrobial Agents and

Chemotherapy, 46(12): 3739-3743

2 FDA Approved Drug Products with Therapeutic Equivalence Evaluations 30nd 2010; 1-7

3 Hoàng Kim Tuyến, Vũ Kim Cương, Đặng Mỹ Hương (2005),

“Tình hình kháng kháng sinh của các vi khuẩn gây bệnh phân lập tại bệnh viện Thống Nhất (8/2002-08/2005)

4 Hoàng Trọng Kim, Nguyễn Hoài Phong (2005), “Đặc điểm nhiễm khuẩn bệnh viện tại khoa hồi sức tăng cường bệnh viện

Nhi đồng 1”, Tạp chí Y học TP Hồ Chí Minh, 9(1), 147-153

Ngày nhận bài báo: 11-04-2014 Ngày phản biện nhận xét bài báo: 20-04-2014 Ngày bài báo được đăng: 20-05-2014

Ngày đăng: 22/01/2020, 06:19

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w