1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng và cận lâm sàng của bệnh nhân suy tim tâm trương điều trị tại Bệnh viện Đa khoa Trung ương Thái Nguyên

8 83 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 8
Dung lượng 205,84 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nghiên cứu được tiến hành trên 166 bệnh nhân suy tim; tiêu chuẩn xác định suy tim tâm trương là các trường hợp suy tim có phân số tống máu thất trái (EF) > 50%. Kết quả: Suy tim tâm trương chiếm tỷ lệ 57,83% trong tổng số các bệnh nhân suy tim, bệnh nhân nữ chiếm 66,7% so với nam chiếm 33,3%. Không có sự khác biệt về nguyên nhân ở nhóm suy tim tâm trương so với suy tim tâm thu.

Trang 1

CỦA BỆNH NHÂN SUY TIM TÂM TRƯƠNG ĐIỀU TRỊ TẠI

BỆNH VIỆN ĐA KHOA TRUNG ƯƠNG THÁI NGUYÊN

Nguyễn Trọng Hiếu * , Bùi Văn Hoàng

Trường Đại học Y Dược - ĐH Thái Nguyên

TÓM TẮT

Nghiên cứu được tiến hành trên166 bệnh nhân suy tim; tiêu chuẩn xác định suy tim tâm trương là các trường hợp suy tim có phân số tống máu thất trái (EF) > 50% Kết quả: Suy tim tâm trương chiếm tỷ lệ 57,83% trong tổng số các bệnh nhân suy tim, bệnh nhân nữ chiếm 66,7% so với nam chiếm 33,3% Không có sự khác biệt về nguyên nhân ở nhóm suy tim tâm trương so với suy tim tâm thu Tỷ lệ các bệnh nhân vào viện với NYHA 4 ở nhóm EF < 50% cao hơn có ý nghĩa thống

kê so với nhóm có EF ≥ 50% (17,2% so với 8,4%) Ở nhóm EF < 50% có tỷ lệ nhịp tim nhanh và gan to cao hơn có ý nghĩa so với nhóm có EF ≥ 50% Hình ảnh điện tim và Xquang tim phổi của các bệnh nhân suy tim có EF ≥ 50% và nhóm có EF < 50% không có sự khác biệt Tỷ lệ các bệnh nhân phải dùng thuốc ức chế men chuyển, thuốc chống loạn nhịp và thuốc lợi tiểu ở nhóm suy tim

có EF < 50% cao hơn có ý nghĩa thống kê so với nhóm có EF ≥ 50% Độ NYHA khi ra viện và số ngày điều trị nội trú tương tự nhau ở hai nhóm bệnh nhân Kết luận: Suy tim tâm trương là thường gặp Cần có nghiên cứu kỹ lưỡng hơn về nhóm bệnh nhân này, nhất là về vấn đề điều trị và tiên lượng lâu dài

Từ khóa: Suy tim, tâm trương

ĐẶT VẤN ĐỀ*

Suy tim tâm trương chiếm khoảng 50% trong

các bệnh nhân suy tim, đây là các trường hợp

suy tim có phân số tống máu thất trái (EF)

bình thường [1], [6] Phân biệt suy tim tâm

trương với suy tim tâm thu (suy tim có EF

giảm) rất quan trọng vì bệnh sinh học của 2

thể suy tim này khác nhau nên đòi hỏi phải có

cách thức tiếp cận điều trị khác nhau Biểu

hiện lâm sàng của các bệnh nhân này rất

giống nhau do đó rất khó phân biệt 2 thể suy

tim này nếu chỉ dựa vào hỏi bệnh và khám

bệnh [4] Ngày nay, ngày càng có nhiều các

bằng chứng cho thấy rối loạn chức năng tâm

trương có liên quan với mức độ và tiên lượng

của các bệnh nhân suy tim, bất kể EF như thế

nào [2], [ 3], [ 5], [9] Hiểu biết về suy tim

tâm trương còn rất hạn chế, việc chẩn đoán và

điều trị thể suy tim này vẫn còn một số điểm

chưa thống nhất

Chúng tôi tiến hành đề tài này nhằm mục tiêu:

Xác định tỷ lệ và so sánh một số đặc điểm lâm

sàng và cận lâm sàng của suy tim tâm trương

với suy tim tâm thu

ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP

*

NGHIÊN CỨU

Đối tượng nghiên cứu: Bệnh nhân được

chẩn đoán và điều trị suy tim tại Khoa Tim - Khớp, BVĐKTƯ Thái Nguyên

* Tiêu chuẩn chẩn đoán xác định suy tim: Theo khuyến cáo của Hội tim mạch học Việt Nam năm 2008 [1]

* Tiêu chuẩn chẩn đoán suy tim tâm trương [1]:

- Có suy tim

- Chỉ số EF > 50%

* Phân độ suy tim: Phân độ chức năng suy tim theo Hội Tim New York (NYHA)

* Tiêu chuẩn chọn bệnh nhân: Các BN suy tim có kết quả siêu âm Doppler tim

* Loại trừ: các BN suy tim nhưng không được làm siêu âm tim, bệnh án không đầy đủ

Thời gian và địa điểm nghiên cứu

- Thời gian nghiên cứu: Từ 01/2009 đến 10/2009

- Địa điểm nghiên cứu: Khoa Nội 1 - BVĐKTƯ Thái Nguyên

Phương pháp nghiên cứu

Trang 2

* Thiết kế nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả, hồi

cứu

* Cách chọn mẫu: Chọn mẫu theo chủ đích,

bao gồm các bệnh nhân suy tim (có được làm

siêu âm Doppler tim) được điều trị tại khoa

Tim Khớp trong thời gian 2007- 2009

* Các bước nghiên cứu:

- Bước 1: Xác định tỷ lệ suy tim tâm trương

trên tổng số các bệnh nhân suy tim

- Bước 2: So sánh đặc điểm lâm sàng và cận

lâm sàng giữa 2 nhóm bệnh nhân suy tim tâm

trương và suy tim tâm thu Xác định các yếu

tố liên quan với suy tim tâm trương

Các chỉ tiêu nghiên cứu chính

- Đặc điểm chung: tuổi, giới…

- Triệu chứng lâm sàng của suy tim: khó thở,

phù, gan to, ran ẩm ở phổi, nhịp tim nhanh…

- Mức độ suy tim theo NYHA

- Xquang tim phổi: bóng tim to, tràn dịch

màng phổi, phổi ứ huyết

- Điên tim: dày thất, loạn nhịp tim, thiếu máu

cơ tim…

- Siêu âm tim: tình trạng các van tim, tình

trạng các buồng thất, EF, dịch màng ngoài

tim, bệnh cơ tim…

- Các xét nghiệm hóa sinh: glucose, ure,

creatinin, điện giải đồ, triglyceride,

cholesterol, HDL-C, LDL-C, CK-MB…

- Nguyên nhân gây suy tim

- Các thuốc điều trị suy tim

- Số ngày nằm viện

- Kết quả điều trị

Kỹ thuật thu thập số liệu

Số liệu nghiên cứu được thu thập thông qua khai thác hồi cứu các hồ sơ bệnh án của các bệnh nhân, ghi chép vào mẫu bệnh án nghiên cứu

Xử lý số liệu: Theo phương pháp thống kê Y

học thông thường, sử dụng phần mềm SPSS 13.0

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

Bảng 1 Tỷ lệ suy tim tâm trương trong tổng số

các BN suy tim mạn tính

Suy tim có EF ≥ 50% 96 57,83 Suy tim có EF < 50% 70 42,17

Nhận xét: Các bệnh nhân có EF ≥ 50% (suy tim tâm trương) chiếm tới 57,83% trong tổng

số các bệnh nhân suy tim trong nghiên cứu

Bảng 2 Đặc điểm về giới của các đối tượng

nghiên cứu

EF Giới

≥ 50% (n=96) < 50% (n=70)

n Tỉ lệ % n Tỉ lệ %

Nam 32 33,3 31 44,3

Nữ 64 66,7 39 55,7

p < 0,05 > 0,05

Nhận xét: Trong nhóm suy tim tâm trương, các bệnh nhân nữ chiếm 66,7% so với nam chiếm 33,3% Sự khác biệt có ý nghĩa với p < 0,05

Bảng 3 Đặc điểm về tuổi của các đối tượng nghiên cứu

EF

< 50%

p

Nhận xét: Tỷ lệ bệnh nhân suy tim tăng dần theo tuổi Trong đó ở nhóm tuổi 46-55 tỷ lệ bệnh nhân suy tim tâm trương gặp nhiều hơn bệnh nhân suy tim tâm thu; ở độ tuổi > 55 tỷ lệ suy tim tâm thu lại cao hơn so với suy tim tâm trương Sự khác biệt là có ý nghĩa thống kê với p<0,05

Trang 3

Bảng 4 Nguyên nhân gây suy tim của các đối tượng nghiên cứu

EF

Nguyên nhân

≥ 50% (n = 96) < 50% (n = 70)

p

Bệnh động mạch vành 10 10,6 9 12,7 > 0,05

Nhận xét: Không có sự khác biệt về nguyên nhân ở nhóm suy tim tâm trương so với suy tim tâm thu

Bảng 5 Triệu chứng cơ năng của các đối tượng nghiên cứu

EF Triệu chứng n≥ 50% (n = 96) i % n< 50% (n = 70) i % p

Nhận xét: Biểu hiện cơ năng của các bệnh nhân suy tim có EF ≥ 50% và nhóm có EF < 50% không có sự khác biệt

Bảng 6 Phân bố mức độ suy tim theo NYHA của các nhóm nghiên cứu

EF

Độ NYHA n≥ 50% (n = 96) i % n< 50% (n = 70) i % p

NYHA lúc vào viện 2,7 ± 0,6 2,9 ± 0,6 < 0,05

Nhận xét: Tỷ lệ các bệnh nhân vào viện với NYHA 4 ở nhóm EF < 50% cao hơn có ý nghĩa thống kê so với nhóm có EF ≥ 50%

Bảng 7 Triệu chứng thực thể của các đối tượng nghiên cứu

EF

< 50% (n = 70)

p

Phản hồi gan - TM cổ (+) 73 44,2 38 54,3 > 0,05

Huyết áp tâm thu 110,9 ± 15,7 112,6 ± 12,2 > 0,05 Huyết áp tâm trương 68,7 ± 9,5 70,8 ± 9,3 > 0,05

Nhận xét: Ở nhóm EF < 50% có tỷ lệ nhịp tim nhanh và gan to cao hơn so với nhóm có EF ≥ 50% Sự khác biệt có ý nghĩa với p < 0,05

Trang 4

Bảng 8 Một số chỉ tiêu sinh hóa và huyết học của các nhóm nghiên cứu

EF

Creatinin 90,4 ± 24,3 98,2 ± 29,8 < 0,05

Nhận xét: Nồng độ của ure, creatinin, transaminase, CK-MB máu ở các bệnh nhân có EF < 50% cao hơn có ý nghĩa so với ở nhóm có EF ≥ 50%

Bảng 9 Đặc điểm điện tâm đồ của các nhóm nghiên cứu

EF

< 50% (n = 70)

p

Nhận xét: Biểu hiện rối loạn nhịp, thiếu máu cơ tim và dày thất trên điện tim tương tự nhau ở nhóm suy tim có EF < 50% so với ở nhóm có EF ≥ 50%

Bảng 10 Đặc điểm Xquang tim phổi của các nhóm nghiên cứu

EF

Xquang

≥ 50% (n = 96) < 50% (n = 70)

p

Nhận xét: Dấu hiệu tim to và ứ huyết phổi tương tự nhau ở nhóm suy tim có EF < 50% so với ở nhóm có EF ≥ 50%

Bảng 11 Điều trị và kết quả điều trị ở các nhóm nghiên cứu

EF

< 50% (n = 70)

p

NYHA lúc ra viện 1,16 ± 0,4 1,24 ± 0,4 > 0,05 Tổng số ngày điều trị 10,3 ± 4,7 10,6 ± 3,5 > 0,05

Trang 5

Nhận xét: Tỷ lệ các bệnh nhân phải dùng thuốc ức chế men chuyển, thuốc chống loạn nhịp và thuốc lợi tiểu ở nhóm suy tim có EF < 50% cao hơn có ý nghĩa thống kê so với nhóm có EF ≥ 50% Độ NYHA khi ra viện và số ngày điều trị nội trú tương tự nhau ở hai nhóm bệnh nhân BÀN LUẬN

1 Tỷ lệ suy tim tâm trương

Suy tim tâm trương sảy ra khi tâm thất không

nhận được lượng máu thích hợp trong thời kỳ

tâm trương với áp lực và thể tích bình thường

để duy trì cung lượng tim đầy đủ Bất thường

trên gây ra bởi sự rối loạn khả năng giãn của

tâm thất và/hoặc sự gia tăng độ cứng của

thành tâm thất Hậu quả là thể tích đổ đầy tâm

thất không đủ do buồng thất giãn ra không hết

làm cho thể tích tống máu giảm, cung lượng

tim thấp [1], [7]

Qua nghiên cứu 166 bệnh nhân suy tim,

chúng tôi thấy có tới 57,83% bệnh nhân có

suy tim tâm trương Kết quả này phù hợp với

y văn thế giới vì theo thống kê dịch tễ học suy

tim trong những năm gần đây của các nước

Âu Mỹ cho thấy suy tim tâm trương (hay

thường gọi suy tim có phân suất tống máu

thất trái bảo tồn chiếm khoảng 29 - 55% số

bệnh nhân có triệu chứng suy tim [3],[5],[6]

2 Về độ tuổi - giới

Các bệnh nhân suy tim trong nghiên cứu chủ

yếu ở độ tuổi > 45, trong đó ở nhóm tuổi

46-55 tỷ lệ bệnh nhân suy tim tâm trương gặp

nhiều hơn bệnh nhân suy tim tâm thu; ở độ

tuổi > 55 tỷ lệ suy tim tâm thu lại cao hơn so

với suy tim tâm trương Điều này có thể là do

các bệnh nhân suy tim thường bắt đầu bắt đầu

bằng các rối loạn chức năng tâm trương

nhưng theo thời gian thì các rối loạn chức

năng tâm thu sẽ xuất hiện và nặng dần lên

Các nghiên cứu ở nước ngoài thường thấy suy

tim tâm trương ở các bệnh nhân lớn tuổi hơn

[5] Trong nhóm suy tim tâm trương, chúng

tôi thấy có đến 66,7% bệnh nhân là nữ Kết

quả này cũng được ghi nhận trong các nghiên

cứu ở nước ngoài [5],[6]

3 Về nguyên nhân suy tim

Chúng tôi nhận thấy nguyên nhân ở nhóm suy

tim tâm trương so với suy tim tâm thu không

có sự khác biệt Trong nhóm suy tim tâm

trương, chúng tôi thấy nguyên nhân gây suy tim thường gặp nhất là bệnh van tim chiếm 67,4% Trong các nghiên cứu ở nước ngoài thấy nguyên nhân thường gặp nhất ở các bệnh nhân suy tim có chức năng tâm thu được bảo tồn là tăng huyết áp, rất ít các bệnh van tim [1], [3], [6], [8] Sự khác biệt ở đây phản ánh

sự khác nhau về mô hình bệnh tật ở nước ta

so với các nước Âu - Mỹ; một phần có thể là hạn chế trong nghiên cứu của chúng tôi do chỉ thu nhận được rất ít các bệnh nhân tăng huyết

áp (do các bệnh nhân này ít được làm siêu âm tim)

4 Về biểu hiện lâm sàng và cận lâm sàng

Cũng như các nghiên cứu trước đây [3], [6], [8]; chúng tôi thấy không có sự khác biệt rõ ràng về các triệu chứng cơ năng và triệu chứng lâm sàng giữa hai nhóm suy tim tâm trương và suy tim tâm thu; ngoại trừ triệu chứng nhịp tim nhanh và gan to gặp nhiều hơn và độ NYHA lúc vào viện cao hơn ở nhóm suy tim tâm thu Về cơ bản biểu hiện của suy tim có EF ≥ 50 và suy tim có EF < 50% là giống nhau, và chúng ta không thể phân biệt giữa suy tim tâm thu và suy tim tâm trương mà chỉ dựa và các triệu chứng về lâm sàng

Vì vậy câu hỏi đặt ra là liệu các xét nghiệm thông thường có giúp ích gì trong việc xác định suy tim tâm trương hay không? Qua khảo sát 97 bệnh nhân suy tim tâm trương và

70 bệnh nhân suy tim tâm thu chúng tối thấy nồng độ ure, creatinin, SGOT, SGPT và

CK-MB ở nhóm bệnh nhân suy tim tâm trương thấp hơn ở nhóm bệnh nhân suy tim tâm thu Tuy nhiên các xét nghiệm trên không phải là các marker có giá trị trong chẩn đoán suy tim

mà có thể là biểu hiện hậu quả của suy tim vì dòng máu đến gan và thận có thể giảm nhiều hơn ở các bệnh nhân có giảm chức năng tâm thu và việc sử dụng nhiều hơn thuốc ức chế men chuyển ở các bệnh nhân này Như vậy,

để phân biệt giữa 2 thể của suy tim chủ yếu phải dựa vào phân suất tống máu (EF)

Trang 6

Các nghiên cứu ở nước ngoài cho thấy giảm

chất lượng cuộc sống cũng như giảm khả

năng gắng sức tương tự nhau giữa nhóm suy

tim tâm thu so với suy tim tâm trương; tỷ lệ

tái nhập viện cũng tương tự nhau ở hai nhóm

bệnh nhân này [3], [5]

Chúng tôi nhận thấy hình ảnh điện tim và

Xquang tim phổi ở nhóm suy tim tâm trương

và nhóm suy tim tâm thu không có sự khác

biệt Một số nghiên cứu thấy tỷ lệ tim to trên

Xquang ít thấy hơn ở nhóm suy tim tâm

trương so với nhóm suy tim tâm thu; ngược

lại người ta lại thấy tỷ lệ rung nhĩ lại thường

gặp hơn trong nhóm suy tim tâm trương, tác

giả Masoudi còn cho rằng rung nhĩ là một yếu

tố độc lập tiên lượng nguy cơ cao hơn với suy

tim tâm trương trong số các bệnh nhân vào

viện vì suy tim; do đó một câu hỏi đang được

đặt ra là phải chăng rung nhĩ là nguyên nhân

gây suy tim ở các bệnh nhân có chức năng

tâm thu được bảo tồn [6]

5 Về điều trị

Trong nghiên cứu của chúng tôi, tỷ lệ các

bệnh nhân phải dùng thuốc ức chế men

chuyển, thuốc chống loạn nhịp và thuốc lợi

tiểu ở nhóm suy tim có EF < 50% cao hơn có

ý nghĩa thống kê so với nhóm có EF ≥ 50%

Điều này dễ hiểu vì các bệnh nhân suy tim

tâm thu vào viện với một số triệu chứng nặng

nề hơn, và EF giảm là chỉ định gần như bắt

buộc của thuốc ức chế men chuyển và

verospiron Trong nghiên cứu của Hogg K

[6], thuốc ức chế men chuyển và digoxin ít

được sử dụng hơn còn thuốc chẹn kênh canxi

lại được dùng nhiều hơn ở nhóm suy tim có

chức năng tâm thu thất trái được bảo tồn so

với nhóm giảm chức năng tâm thu Sự khác

biệt ở đây là do tỷ lệ rung nhĩ cao trong nhóm

suy tim có chức năng tâm thu được bảo tồn

Chiến lược điều trị đối với các bệnh nhân suy

tim có chức năng tâm thu được bảo tồn tập

trung vào giải quyết triệu chứng và điều trị

các bệnh nền Cho đến nay vẫn chưa có các

phác đồ mang tính chuyên biệt đối với các

bệnh nhân này; tuy nhiên, có một số điểm cần

lưu ý như việc dùng digoxin ở các bệnh nhân

suy tim tâm trương có thể làm tăng nồng độ canxi trong tế bào dẫn đến làm giảm khả năng thư giãn tâm trương; thuốc chẹn kênh canxi thường tránh dùng trong suy tim tâm thu lại tỏ

ra có ích trong suy tim tâm trương, các non - dihydropyridine như verapamil và diltiazem

đã được chứng minh cải thiện các thông số tâm trương, cải thiện triệu chứng và khả năng gắng sức [5], [7]

Độ NYHA khi ra viện và số ngày điều trị nội trú tương tự nhau ở hai nhóm bệnh nhân Kết quả nghiên cứu của chúng tôi tương tự kết quả nghiên cứu của nước ngoài [3], [6] KẾT LUẬN

Qua nghiên cứu 166 bệnh nhân suy tim, chúng tôi có một số kết luận sau:

- Suy tim tâm trương (suy tim có EF ≥ 50%) chiếm tỷ lệ 57,83% trong tổng số các bệnh nhân suy tim

- Trong nhóm suy tim tâm trương, các bệnh nhân nữ chiếm 66,7% so với nam chiếm 33,3% Sự khác biệt có ý nghĩa với p < 0,05

- Không có sự khác biệt về nguyên nhân ở nhóm suy tim tâm trương so với suy tim tâm thu

- Biểu hiện cơ năng của các bệnh nhân suy tim có EF ≥ 50% và nhóm có EF < 50% không có sự khác biệt

- Tỷ lệ các bệnh nhân vào viện với NYHA 4 ở nhóm EF < 50% cao hơn có ý nghĩa thống kê

so với nhóm có EF ≥ 50% (17,2% so với 8,4%)

- Ở nhóm EF < 50% có tỷ lệ nhịp tim nhanh

và gan to cao hơn so với nhóm có EF ≥ 50%

Sự khác biệt có ý nghĩa với p < 0,05

- Biểu hiện rối loạn nhịp, thiếu máu cơ tim và dày thất trên điện tim tương tự nhau ở nhóm suy tim có EF < 50% so với ở nhóm có EF ≥ 50%

Trang 7

- Dấu hiệu tim to và ứ huyết phổi tương tự

nhau ở nhóm suy tim có EF < 50% so với ở

nhóm có EF ≥ 50%

- Tỷ lệ các bệnh nhân phải dùng thuốc ức chế

men chuyển, thuốc chống loạn nhịp và thuốc

lợi tiểu ở nhóm suy tim có EF < 50% cao hơn

có ý nghĩa thống kê so với nhóm có EF ≥

50%

- Độ NYHA khi ra viện và số ngày điều trị

nội trú tương tự nhau ở hai nhóm bệnh nhân

KHUYẾN NGHỊ

Suy tim tâm trương là tình trạng phổ biến,

còn nhiều vấn đề chưa rõ cần phải có nghiên

cứu thêm nhất là về điều trị và tiên lượng lâu

dài đối với các bệnh nhân suy tim tâm trương

TÀI LIỆU THAM KHẢO

[1] Hội Tim mạch học Việt Nam (2008), "Khuyến

cáo 2008 của Hội Tim mạch học Việt Nam về

chẩn đoán, điều trị suy tim", Khuyến cáo 2008 về

các bệnh lý tim mạch & chuyển hóa, pp 438-475

[2] Al-Khatib SM, Shaw LK, O'Connor C, et al

(2007), "Incidence and predictors of sudden

cardiac death in patients with diastolic heart

failure", J Cardiovasc Electrophysiol, 18 (12), pp

1231-5

[3] Berry C, Hogg K, Norrie J et al (2005), “Heart

failure with preserved left ventricular systolic

function: a hospital cohort study”, Heart, 91,

pp.907-13

[4] Dubourg O, Gueret P, Beauchet A, et al

(2008), "Focale: study of systolic and diastolic

heart failure in a French elderly population", Int J

Cardiol, 124 (2), pp 188-92

[5] Fukuta H, Little WC (2007), "Diagnosis of

diastolic heart failure", Curr Cardiol Rep, 9 (3),

pp 224-8

[6] Hogg K, Swedberg K, McMurray J (2004),

“Heart Failure with preserved left ventricular

systolic function: epidemiology, clinical

characteristics, and prognosis”, J Am Coll Cardiol,

43, pp.317-27

[7] Ingle L, Cleland JG, and Clark AL (2008),

"Perception of symptoms is out of proportion to

cardiac pathology in patients with "diastolic heart

failure"", Heart, 94 (6), pp 748-53

[8] Jithendra B Somaratne, Colin Berry, John J.V McMurray et al (2009), “The prognostic significance of heart failure with preserved left ventricular ejection fraction: a literature-based

meta-analysis”, Eur J Heart Fail, 11 (9), pp

855-862

[9] Okura Y, Ohno Y, Ramadan MM, et al

(2007), "Characterization of outpatients with isolated diastolic dysfunction and evaluation of the burden in a Japanese community: Sado Heart

Failure Study", Circ J, 71 (7), pp 1013-21.

Trang 8

SUMMARY

CHARACTERIZATION OF PATIENTS WITH DIASTOLIC HEART FAILURE

IN THAI NGUYEN CENTRAL GENERAL HOSPITAL

Nguyen Trong Hieu * , Bui Van Hoang

Thai Nguyen University of Medicine and Pharmacy

By studying 166 heart failure patients, we have some following conclusions:

- Diastolic heart failure (heart failure with EF ≥ 50%) account for 57.83% of patients with heart failure

- In diastolic heart failure group, female patients accounted for 66.7% compared with men accounting for 33.3% Significant difference with p <0.05

- The clinical symptoms of the heart failure patients with EF ≥ 50% and EF <50% has no difference

- The percentage of patients with NYHA 4 at admission in group EF <50% is higher with statistical significance compared with group EF ≥ 50%

- Arrhythmias, ischemic and ventricular hyperthrophy in Electrocardiology in patients with EF <50% are similar to the group with EF ≥ 50%

- The percentage of patients must take ACE inhibitors, antiarrhythmics, and diuretics in group with EF

<50% is higher with statistical significance than EF ≥ 50% However, times in hospital are same in two groups

Keywords: Heart failure, Diastolic

*

Ngày đăng: 22/01/2020, 06:19

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm