1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Nghiên cứu một số chỉ số hóa sinh, huyết học và miễn dịch của bệnh nhân tai mũi họng có HIV

6 83 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 6
Dung lượng 371,15 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong bài báo này, chúng tôi trình bày kết quả nghiên cứu một số chỉ số hóa sinh, huyết học và miễn dịch của bệnh nhân tai mũi họng có HIV, với mục đích tìm hiểu đặc điểm nhiễm HIV ở bệnh nhân tai mũi họng và sự biến đổi một số chỉ số xét nghiệm ở những bệnh nhân này.

Trang 1

1

NGHIÊN CỨU MỘT SỐ CHỈ SỐ HÓA SINH, HUYẾT HỌC VÀ MIỄN DỊCH

CỦA BỆNH NHÂN TAI MŨI HỌNG CÓ HIV

Vũ Minh Thục - Vũ Công Cường (Viện Tai - Mũi - Họng Trung ương), Huỳnh Bá Tân (Bệnh viện Đà Nẵng) - Lương Thị Hồng Vân (Khoa Khoa học TN&XH - Đại học Thái Nguyên)

1 Đặt vấn đề

Nhiễm HIV/AIDS ngày càng phát triển trên thế giới nói chung và ở Việt Nam nói riêng

Theo nghiên cứu của UNAIDS về dịch tễ học của HIV trên thế giới thì số người nhiễm HIV (cả

người lớn và trẻ em) tính đến cuối năm 2003 là 40 triệu; Số người chết do HIV/AIDS trong năm

2003 là 3 triệu (2,5 - 3,5 triệu) [6]

Tại Việt Nam HIV/AIDS đã phát triển ở tất cả 64 tỉnh/thành phố của nước ta với sự phân bố

không đồng đều Theo báo cáo tình hình nhiễm HIV/AIDS của Ban phòng chống AIDS Bộ Y tế tính

đến tháng 9/2004 cả nước đã có 83.431 người nhiễm HIV, trong đó 13.000 người đã chuyển sang

giai đoạn AIDS và 7.455 người đã tử vong Những tỉnh, thành phố có tỉ lệ người nhiễm HIV (AIDS)

cao là Hải Phòng, Tp Hồ Chí Minh, Quảng Ninh, An Giang, Hà Nội, Cần Thơ [7]

Tại Bệnh viện Tai Mũi Họng trung ương, trong số những bệnh nhân đến khám và điều trị

với các bệnh Tai Mũi Họng, thấy tỉ lệ HIV dương tính (+) tăng rõ rệt Năm 2001 là 15/7613 (tỉ lệ

0,20%); năm 2002 là: 24/9622 (0,25%) và năm 2003 là: 34/9542 (tỉ lệ 0,36%) và trong 8 tháng

năm 2004 là 21/8076 (tỉ lệ 0,26%) Trong bài báo này, chúng tôi trình bày kết quả nghiên cứu

một số chỉ số hóa sinh, huyết học và miễn dịch của bệnh nhân tai mũi họng có HIV, với mục

đích tìm hiểu đặc điểm nhiễm HIV ở bệnh nhân tai mũi họng và sự biến đổi một số chỉ số xét

nghiệm ở những bệnh nhân này

2 Đối tượng và phương pháp nghiên cứu

2.1 Đối tượng nghiên cứu

Là những bệnh nhân đến khám chuyên khoa tai mũi họng (104 bệnh nhân) có xét nghiệm

HIV dương tính (+) trong thời gian từ tháng 01 năm 2001 đến tháng 8/2004 Những bệnh tai

mũi họng của 104 bệnh nhân này bao gồm: bệnh tai - xương chũm, viêm họng - viêm amydan

mạn tính, viêm họng kéo dài, bệnh mũi xoang, bệnh lý thanh quản, chấn thương tai mũi họng,

viêm loét họng, hạch cổ, apxe hạch, zona tai, nấm họng, sốt cao chưa rõ nguyên nhân, kiểm tra

sức khoẻ…

2.2 Phương pháp nghiên cứu: Kết hợp nghiên cứu hồi cứu và tiến cứu

- Xét nghiệm sàng lọc HIV dương tính (bằng Test Determine HIV1/HIV2 Abbott (USA)

tại Khoa Xét nghiệm - Bệnh viện Tai Mũi Họng TW),

- Xét nghiệm khẳng định bằng test Serodia, Elisa Genscreen Ag/Ab, Murex Ag/Ab,

Uniform II Ag/Ab

- Xét nghiệm sinh hóa: Urê huyết, đường huyết, GOT, GPT, protein toàn phần huyết

thanh, albumin, globulin, A/G được thực hiện trên máy sinh hóa bán tự động H2000

Photometer 4010 (Khoa xét nghiệm Bệnh viện TMH TW) và máy sinh hóa tự động HITACHI

(Khoa Hóa sinh Bệnh viện Bạch Mai)

- Xét nghiệm huyết học: Công thức máu (trên máy Cell Dyn 1400), nhóm máu (A, B,

AB, O) tại Khoa xét nghiệm Bệnh viện TMH TW

Trang 2

2

- Xét nghiệm miễn dịch CD4, CD8 thực hiện tại Labo Viện Y học lâm sàng các bệnh nhiệt

đới Bệnh viện Bạch Mai, Bệnh viện TW QĐ 108, Bệnh viện Đống Đa - Hà Nội

- Số liệu được xử lý theo phương pháp thống kê y sinh học

3 Kết quả và bàn luận

3.1 Đặc điểm xã hội học của bệnh nhân HIV

* Đặc điểm về giới

Bả ng 1 Đặ c đ iể m về giới củ a đ ố i tượng nghiên cứu

Chẩn đoán Giới n Bệnh nhân HIV %

Tổng số 104 100

Kết quả bảng 1 cho thấy, nam chiếm tỉ lệ cao hơn nữ nhiều ở nhóm HIV, kết quả này

cũng tương tự kết quả nghiên cứu của một số tác giả khác [4]

Bảng 2 Đặc điểm về tuổi của đối tượng nghiên cứu

Chẩn đoán Phân lớp theo tuổi

Bệnh nhân HIV

Độ tuổi trung bình của nhóm bệnh nhân HIV (+) là 27,52 5,28 tuổi

So sánh với tuổi trung bình của các đối tượng HIV (+) ở các công trình nghiên cứu khác

cho thấy kết quả nghiên cứu của chúng tôi cũng tương tự (27,7 6,8) [4]

Kết quả nghiên cứu cho thấy nhóm bệnh nhân lứa tuổi 16 - 30 tuổi chiếm tỉ lệ cao nhất

69,23%, sau đó là lứa tuổi 31- 40 chiếm tỉ lệ19,23%

Bảng 3 Đặc điểm về nghề nghiệp của đối tượng nghiên cứu

Kết quả bảng 3 cho thấy, đối tượng nghiên cứu có nghề nghiệp đa dạng từ cán bộ, học

sinh, sinh viên, công nhân đến người làm ruộng Đặc biệt là những người ở nhà làm nghề tự do

(43,10%) sau đó là công nhân (24,12%) và người làm ruộng (15,51%) chiếm tỉ lệ cao

Kết quả bảng 4 cho thấy, số bệnh nhân HIV khám chuyên khoa tại Bệnh viện TMH TW

đến rải rác từ 20 tỉnh thành phố trực thuộc miền Bắc, trong đó Hà Nội và Quảng Ninh có số bệnh

nhân HIV(+) nhiều nhất 17,25% và 13,80% Quảng Ninh là tỉnh có tỉ lệ HIV cao nhất cả nước

nên số bệnh nhân HIV (+) đến khám tại Bệnh viện với tỉ lệ cao như trên là phù hợp

Trang 3

3

Bảng 4 Đặc điểm về nơi cư trú của đối tượng nghiên cứu

Bảng 5 Đặc điểm về hành vi nguy cơ của đối tượng nghiên cứu

Biểu đồ 4 Đặc điểm về hành vi nguy cơ của đối tượng nghiên cứu

Kết quả bảng 5 cho thấy các đối tượng có tiền sử tiêm chích ma tuý chiếm tỉ lệ cao nhất

79,04%, quan hệ với gái mại dâm chiếm 4,93% Có 9 bệnh nhân nhiễm HIV do lây truyền từ

chồng sang chiếm tỉ lệ 11,1% Nhóm “Không rõ nguyên nhân” có cháu Trần Thúy Quỳnh, 9

tuổi, viêm Amydan quá phát

Bảng 6 Bệnh Tai Mũi Họng của đối tượng nghiên cứu

TT Nhóm Bệnh Tai Mũi Họng Bệnh nhân HIV

1

I

46,40%

6

II

53,60%

Chú thích:

Nhóm I: Nhóm BN khám và điều trị chuyên khoa TMH, phải làm xét nghiệm HIV như các xét

nghiệm thường quy khác mà tình cờ chúng tôi phát hiện HI dương tính (+)

Nhóm II: Nhóm BN có hạch cổ, viêm loét họng, ap xe hạch, zona tai, nấm họng, trong đó HIV là

một nguyên nhân

Kết quả bảng 6 cho thấy: Bệnh tai mũi họng rất đa dạng, trong đó bệnh thuộc nhóm I

chiếm 46,40%; nhóm II chiếm 53,60%; bệnh nhân viêm loét họng, hạch cổ, ap xe hạch, bệnh tai

– xương chũm chiếm tỉ lệ cao nhất

Trang 4

4

3.2 Một số chỉ số hóa sinh, huyết học và miễn dịch của đối tượng nghiên cứu

Bảng 7 Chỉ số hóa sinh của đối tượng nghiên cứu

Chỉ số hóa sinh Bình thường

( X )

Bệnh nhân HIV (X ) n p

Urê (mmol/l) 5,10 1,25 4,78 1,39 32 p > 0,05

Đường (mmol/l) 5,15 0,63 5,46 1,47 32 p >0,05

Protein toàn phần (g/l) 73,5 4,25 78,61 9,22 30 p <0,05

Albumin (g/l) 42,50 3,75 33,71 6,67 30 p <0,05

Globulin (g/l) 31,0 3,50 46,3 9,57 30 p <0,05

Kết quả bảng 7 cho thấy Xét nghiệm Urê, đường, GOT, GPT, protein là những xét nghiệm

sinh hóa cần thiết cho người bệnh Khi so sánh các giá trị khảo sát với các giá trị tham chiếu các

chỉ số Urê, đường, GOT, GPT không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (p > 0,05)

Các chỉ số: Albumim, A/G thấp hơn giá trị tham chiếu ( p < 0,05) Protein toàn phần,

globulin cao hơn giá trị tham chiếu (p < 0,05)

Bảng 8 Số lượng bạch cầu của đối tượng nghiên cứu (Giga/lit)

Số lượng bạch cầu Giới < 4G/l 4 - 10G/l > 10G/l Tổng số

(số lượng bạch cầu được chia làm 3 mức: (< 4G/l; 4 - 10G/l; > 10G/l)

Như vậy, có 7,4% bệnh nhân là nam giới có biểu hiện giảm bạch cầu Có 1 bệnh nhân số

lượng bạch cầu giảm chỉ còn 1,6G/l và thường những bệnh nhân này có kèm theo thiếu máu và

giảm tiểu cầu

Bảng 9 Các chỉ số của hồng cầu (gam/lÝt)

Hemoglobin

Giới < 60g/l 60g/l - 90g/l 90g - 110g/l > 110g/l

Như vậy có 3,7 % bệnh nhân nam và 8,30% bệnh nhân nữ thiếu máu trung bình, 16,7%

bệnh nhân nam và 25,0% bệnh nhân nữ thiếu máu nhẹ Không gặp bệnh nhân thiếu máu nặng

Bảng 10 Tỉ lệ nhóm máu A,B, AB, O của đối tượng nghiên cứu

Nhóm máu

Trang 5

5

Biểu đồ 6 Tỉ lệ nhóm máu A, B, AB, O của đối tượng nghiên cứu Bảng 11 Chỉ số miễn dịch của đối tượng nghiên cứu

Chỉ số miễn dịch Giá trị bình thường Bệnh nhân HIV (n = 24) p

CD 4 (tế bào/mm3) 868 206 264 89,57 < 0,05

CD 8 (tế bào /mm3) 529 135,5 1435 442,85 < 0,05

Từ kết quả nghiên cứu bước đầu cho thấy 3 chỉ số: Số lượng tế bào CD4 và tỉ lệ CD4/CD8

giảm và số lượng tế bào CD8 tăng có ý nghĩa thống kê ở nhóm bệnh nhân HIV Kết quả thu được

cũng phù hợp với một số công trình nghiên cứu của các tác giả trong nước [2] và nhận xét của

tác giả này là: Ở giai đoạn sớm (mới nhiễm HIV), số lượng tế bào CD4 giảm nhưng CD8 tăng

cao, nhưng khi tình trạng của người bệnh nặng dần lên thì sự giảm sút cả hai quần thể tế bào

lympho T xảy ra song song với nhau

4 Kết luận

Từ nghiên cứu 104 bệnh nhân có xét nghiệm HIV dương tính đến khám và chữa bệnh tại

Bệnh viện T-M-H Trung ương, chúng tôi thấy:

- Hầu hết đối tượng nghiên cứu là nam giới (85,55%); có độ tuổi trung bình là 27,52

5,28; lứa tuổi 16 đến 30 chiếm tỉ lệ nhiều nhất (69,23%)

- Các đối tượng nghiên cứu đa dạng về nghề nghiệp; nhóm người ở nhà lao động tự do,

công nhân và làm ruộng chiếm tỉ lệ cao hơn cả

- Các đối tượng nghiên cứu đến từ 20 tỉnh thành của miền Bắc trong đó Hà Nội và Quảng

Ninh là 2 nơi có tỉ lệ bệnh nhân HIV khám chuyên khoa tại Bệnh viện TMH TW nhiều nhất

- Tiêm chích ma tuý là hành vi nguy cơ chiếm tỉ lệ cao nhất (79,04%) Bệnh nhân có

bệnh lý tai mũi họng như viêm loét họng, hạch cổ, áp xe hạch chiếm tỉ lệ hàng đầu

- Sự thay đổi về chỉ số hóa sinh ở người nhiễm HIV có đặc điểm: albumin huyết thanh

giảm, globulin tăng, tỉ lệ A/G cũng giảm

- Sự thay đổi về chỉ số huyết học: có 3 bệnh nhân có tình trạng giảm cả 3 dòng hồng cầu,

bạch cầu, tiểu cầu trong máu ngoại vi Và 22,7% bệnh nhân có biểu hiện thiếu máu vừa và nhẹ;

6% bệnh nhân có giảm bạch cầu, cá biệt có 1 trường hợp bạch cầu chỉ còn 1,6G/l

- Sự thay đổi về chỉ số miễn dịch ở người nhiễm HIV có đặc điểm: số lượng tế bào CD4

giảm, CD8 tăng và tỉ lệ CD4/CD8 giảm

- Các xét nghiệm: công thức máu, albumin, globulin, tỉ lệA/G, số lượng tế bào CD4, CD8, tỉ lệ

CD4/CD8 là những xét nghiệm cần thiết trong chẩn đoán và theo dõi điều trị bệnh nhân HIV

Summary

Trang 6

6

The HIV infection state on E.N.T patients Some biochemical, hematological, immunological parameters of HIV patients

104 patients with HIV (+) admitted to National Hospital of Otorhinolaryngology were

examined specialy in E.N.T and investigated to determine the changes in some biochemical and

immunohematological parameters in blood (urea, glucose, total protein, albumin, globulin, A/G,

GOT, GPT, RBC – amount WBC-amount, platelet amount, haemoglobin, blood group, CD4 and

CD8, T-lymphocyte, CD4/CD8 ratio)

The results have shown that in the study group:

- Albumin level, A/G ratio severely decreased, globulin level increased

- RBC-amount, WBC amount, Platelet amount decreased in 3 HIV-patients

22,7% of the patients have suffered from average and light anaemia

6% of the patients have shown that their WBC – amount decreased

- CD4 cell amount, CD4/CD8 ratio decreased and CD8 cell amount increased in 6 HIV

patients Biochemical tests (such as albumin, globulin, A/G) and hematological tests (such as

blood formula) and immunological tests (such as CD4, CD8, CD4/CD8) are necessary to diagnose

and observe the process of HIV patient’s treatment

Tài liệu tham khảo

[1] “Báo cáo tình hình nhiễm HIV/AIDS của Ban phòng chống AIDS, Bộ Y tế”, ngày 31/3/2003

[2] Bùi Thị An (2000) "Một vài nhận xét về các trường hợp nhiễm HIV được phát hiện từ 1996

đến 1999 tại Viện Da liễu", Công trình nghiên cứu khoa học 1999-2000, Nhà xuất bản Y học

[3] Phạm Mạnh Hùng, Nguyễn Chí Phi, Nguyễn Ngọc Lanh, Đào Văn Phan, Lê Ngọc Yến

(1995) "Nhiễm HIV/AIDS – Y học cơ sở, Lâm sàng và phòng chống", Nhà xuất bản Y học

[4] Đào Huyền Quyên, Hà Thị Trúc, Nguyễn Chí Phi, Lê Đăng Hà (2004) "Một số đặc điểm hóa

sinh và miễn dịch của người nhiễm HIV và bệnh nhân AIDS khám và điều trị tại Bệnh viện Bạch Mai",

Hội nghị khoa học Hóa Sinh Y Dược năm 2004, Hà Nội tháng 8/2004

[5] Vũ Đình Vinh (1996), Hướng dẫn sử dụng các xét nghiệm hóa sinh, NXB Y học

Ngày đăng: 22/01/2020, 06:15

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w