1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Đánh giá hiệu quả kiểm soát đau bằng phương pháp giảm đau dự phòng trên bệnh nhân phẫu thuật làm cứng cột sống tại bệnh viện đa khoa Thống Nhất Đồng nai

8 87 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 8
Dung lượng 796,37 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Phẫu thuật làm cứng cột sống là phẫu thuật lớn, gây đau nhiều cho bệnh nhân hậu phẫu. Do đó, cần có chiến lược giảm đau phù hợp khi thực hiện phẫu thuật này. Giảm đau dự phòng là phương pháp giảm đau đang được chú ý áp dụng hiện nay. Nghiên cứu nhằm đánh giá hiệu quả của phương pháp giảm đau dự phòng so với phương pháp giảm đau truyền thống tại bệnh viện đa khoa Thống Nhất - Đồng Nai.

Trang 1

ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ KIỂM SOÁT ĐAU BẰNG PHƯƠNG PHÁP GIẢM ĐAU DỰ PHÒNG

TRÊN BỆNH NHÂN PHẪU THUẬT LÀM CỨNG CỘT SỐNG TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA THỐNG NHẤT - ĐỒNG NAI

Đỗ Thị Phương Dung*, i Thị Hương Quỳnh**

TÓM TẮT

Mở đầu: Phẫu thuật làm cứng cột sống là phẫu thuật lớn, g}y đau nhiều cho bệnh nhân hậu phẫu Do đó,

cần có chiến lược giảm đau phù hợp khi thực hiện phẫu thuật này Giảm đau dự phòng là phương ph{p giảm đau đang được chú ý áp dụng hiện nay

Mục tiêu: Đ{nh gi{ hiệu quả của phương ph{p giảm đau dự phòng so với phương ph{p giảm đau truyền

thống tại bệnh viện đa khoa Thống Nhất - Đồng Nai

Đối tượng - Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu đo|n hệ tiến cứu được thực hiện trên bệnh nhân phẫu

thuật làm cứng cột sống, tại Khoa Ngoại thần kinh, Bệnh viện đa khoa Thống Nhất Đồng Nai từ 1/8/2016 đến 30/7/2017 Bệnh nh}n được chia làm 2 nhóm - có và không sử dụng phương ph{p giảm đau dự phòng bằng paracetamol 1g/100ml trước khi rạch da 15 phút

Kết quả: Có 67 bệnh nh}n được chọn vào nghiên cứu, trong đó 33 bệnh nhân nhóm giảm đau dự

phòng và 34 bệnh nhân nhóm không giảm đau dự phòng Các giá trị nền trước phẫu thuật đều tương đồng nhau giữa 2 nhóm, trừ yếu tố tuổi (p = 0,025) Nhóm giảm đau dự ph ng có điểm đau VAS trong 3 ng|y đầu hậu phẫu, mức độ đau nặng trong 2 ng|y đầu hậu phẫu, tổng lượng morphin sử dụng hậu phẫu, thời gian tập vận động và số ngày dùng thuốc ngủ thấp hơn có ý nghĩa thống kê so với nhóm không dùng giảm đau dự phòng (p < 0,05) Thời gian nằm viện, tỷ lệ mất ngủ, tỷ lệ các biến cố có hại không có sự khác biệt có

ý nghĩa thống kê giữa 2 nhóm (p > 0,05)

Kết luận: Phương ph{p giảm đau dự phòng giúp giảm đau hiệu quả, hạn chế được liều lượng thuốc giảm

đau opioid phải sử dụng sau mổ, giúp sớm hồi phục chức năng vận động và giảm số ngày dùng thuốc ngủ

Từ khoá: Giảm đau dự phòng, phẫu thuật làm cứng cột sống, điểm VAS

ABSTRACT

EFFICACY OF PREEMPTIVE ANALGESIA FOR POSTOPERATIVE PAIN MANAGEMENT AFTER SPINAL FUSION SURGERY IN THONG NHAT DONG NAI GENERAL HOSPITAL

Do Thi Phuong Dung, Bui Thi Huong Quynh

* Y Hoc TP Ho Chi Minh * Supplement Vol 22 - No 1- 2018: 111 - 118

Background: Spine fusion surgery is a major surgery, which is generally associated with intense pain in the

postoperative period Therefore, it is necessary to have appropriate pain management strategies for patients Preemptive analgesia has been recently applied

Objectives: The purpose of this study was to evaluate the effectiveness of preemptive analgesia, compared

with conventional regimen

Methods: A prospective cohort study was conducted in patients with spine fusion surgery at Neurosurgery

*Khoa Dược, Đại học Lạc Hồng, Đồng Nai **Khoa Dược, Đại học Y Dược Thành phố Hồ Chí Minh

Tác giả liên lạc: TS Bùi Thị Hương Quỳnh ĐT: 0912261353 Email: huongquynhtn@gmail.com

Trang 2

Department of Thong Nhat Dong Nai General Hospital from 01/07/2016 to 30/07/2017 Patients were divided into two groups – preemptive analgesic, in which patients were administered 1g/100 ml of IV paracetamol 15 minutes before surgery and conventional pain control group

Results: A total of 67 patients were included Of those, there were 33 patients in the preemptive analgesic

group and 34 patients in the conventional pain control group No baseline variable differences between the groups were observed, excepted for patient mean age (p = 0.025) Patients in preemptive analgesic group had a significantly lower mean VAS score in the first 3 days after surgery (p < 0.05), significantly lower rate of severe pain in the first 2 days after surgery (p < 0.05), significantly lower mean dose of morphin used (p = 0.019), significantly earlier ambulation (p < 0.001) and a significantly lower lenghth of night sedation used (p = 0.01), compared with those in conventional pain control group There were no significant differences in the lenghth of hospital stay, rate of sleep disturbance and rate of adverse drug events (p > 0.05) between the two groups

Conclusions: The preemptive analgesic regimen provided an effective pain relief, decreased opioid

consumption, an earlier functional recovery and decreased the length of night sedation used

Key words: preemptive analgesic, spinal fusion surgery, VAS score

ĐẶT VẤN ĐỀ

Phẫu thuật làm cứng cột sống là phẫu thuật

được thực hiện nhằm mục đích l|m vững cột

sống, ngăn chặn sự chuyển động tại vị trí đốt

sống bị tổn thương, điều trị cho c{c trường hợp

mất vững cột sống hoặc chấn thương gãy cột

sống Đ}y l| phẫu thuật lớn g}y đau nhiều cho

bệnh nhân sau phẫu thuật Từ đó, ảnh hưởng

đến sự hồi phục cũng như chất lượng sống của

bệnh nhân Nhiều chiến lược giảm đau được áp

dụng để kiểm so{t đau hậu phẫu cho bệnh nhân,

trong đó phương ph{p giảm đau dự phòng

(GĐDP) đang được chú ý áp dụng hiện nay,

phương ph{p giảm đau n|y được thực hiện từ

trước phẫu thuật, trước khi có bất kỳ kích thích

để ngăn chặn sự nhạy cảm hóa ngoại biên và

trung tâm(6,19). Hiệu quả giảm đau tối ưu khi tiếp

tục dùng các thuốc giảm đau sau phẫu thuật

Tại bệnh viện đa khoa Thống Nhất Đồng

Nai đang bước đầu áp dụng phương ph{p

giảm đau n|y, tuy nhiên chưa có nghiên cứu

đ{nh gi{ hiệu quả điều trị

ĐỐI TƯỢNG - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Thiết kế nghiên cứu

Nghiên cứu đo|n hệ tiến cứu

Tiêu chuẩn chọn mẫu

Bệnh nh}n đủ 18 tuổi trở lên

Có chỉ định phẫu thuật làm cứng cột sống ngực hoặc thắt lưng

Thời gian từ 1/8/2016 đến tháng 30/7/2017

Tiêu chuẩn loại trừ

Bệnh nhân có tiền sử dùng thuốc gây nghiện trong vòng 1 th{ng trước phẫu thuật, hoặc dùng các thuốc giảm đau như NSAIDs trước khi phẫu thuật 8 giờ, các loại thuốc giảm đau kh{c trong

12 giờ trước phẫu thuật

Bệnh nhân có chẩn đo{n suy gan hoặc có AST, ALT > 80 U/L

Bệnh nhân có chẩn đo{n suy thận, hoặc GFR

< 60 ml/phút/1,73 m2 hoặc creatinin > 2 mg/dl Bệnh nhân dị ứng hoặc chống chỉ định với bất kỳ thuốc nào sử dụng trong nghiên cứu Bệnh nhân không đồng ý tham gia nghiên cứu

Cỡ mẫu

Công thức tính cỡ mẫu để so sánh trị số trung bình về điểm đau VAS của hai phương pháp giảm đau:

Với power = 0,9 v| α = 0,05, C = 10,51

 là sự khác biệt điểm đau VAS trung bình

có ý nghĩa Nghiên cứu của chúng tôi x{c định 

Trang 3

mong muốn bằng 1 Theo nghiên cứu của Kim

SI và cộng sự năm 2016(5), độ lệch chuẩn điểm

đau () VAS ở ng|y đầu tiên sau phẫu thuật đối

với nhóm có dùng GĐDP l| 0,89; nhóm không

dùng GĐDP l| 1,06 C{c gi{ trị này ở ngày thứ 2

hậu phẫu là 0,92 và 1,13

Như vậy, nghiên cứu phải có tối thiểu 27

bệnh nhân cho mỗi nhóm

Các bước tiến hành

Bệnh nhân thỏa tiêu chuẩn chọn mẫu được

lấy v|o 2 nhóm tùy theo phương ph{p giảm đau

được chỉ định – nhóm GĐDP v| nhóm không

GĐDP Ph{c đồ giảm đau ở nhóm GĐDP bao

gồm truyền tĩnh mạch paracetamol 1g/100ml

trước khi rạch da 15 phút, sau phẫu thuật dùng

các thuốc giảm đau như paracetamol, c{c thuốc

nhóm NSAIDs, thuốc giảm đau thần kinh,

opioid hoặc sự phối hợp các thuốc trên Nhóm

không GĐDP không sử dụng thuốc giảm đau

trước khi phẫu thuật, các thuốc giảm đau dùng

sau phẫu thuật tương tự nhóm GĐDP

Thu thập thông tin cá nhân của bệnh nhân,

tiến hành phỏng vấn bệnh nhân về điểm đau

VAS lúc bệnh nhân nhập viện Sau khi bệnh

nh}n được phẫu thuật, tiến hành phỏng vấn

bệnh nhân về điểm đau VAS tại các thời điểm

ngày 1, 2, 3 và ngày 7 sau phẫu thuật Đồng thời

phỏng vấn về các biến cố có hại (ADE) mà bệnh

nhân gặp phải sau phẫu thuật Các thông tin

khác thu thập trong hồ sơ bệnh án

Hiệu quả của biện ph{p GĐDP so với biện

ph{p không GĐDP được đ{nh gi{ bằng cách so

sánh giữa hai nhóm bệnh nhân các tiêu chí sau:

- Điểm đau VAS trung bình v| tỷ lệ mức độ

đau sau phẫu thuật

- Lượng opioid trung bình sử dụng được

quy đổi ra morphin IV (bảng 1)

- Trung bình thời gian tập vận động

- Tỷ lệ bệnh nhân bị mất ngủ và trung bình

số ngày bệnh nhân phải sử dụng thuốc

ngủ sau phẫu thuật

- Trung bình thời gian nằm viện sau phẫu thuật

- Tỷ lệ các ADE gặp phải khi sử dụng thuốc sau phẫu thuật

Bảng 1: Tỷ lệ chuyển đổi giữa các opioid (2)

Thuốc chuy n đổi Tỷ lệ Ví dụ

Morphin PO –

Morphin PO 10 mg = Tramadol PO 100 mg Morphin IV – Fentanyl

Morphin 10 mg = Fentanyl

100 mcg Morphin IV –

Morphin 10 mg = Tramadol

100 mg Tramadol PO –

Tramadol PO 120 mg = Tramadol IV 100 mg

Phân tích số liệu

Phần mềm thống kê sử dụng: SPSS 20.0 Đặc điểm nền của bệnh nh}n được trình bày theo trung bình hoặc trung vị hoặc tỷ lệ phần trăm

So sánh các giá trị trung bình bằng phép kiểm independent sample t-test hoặc Mann-Whitney

So sánh các tỷ lệ bằng phép kiểm chi bình phương (hoặc Fisher exact test)

Sự khác biệt được xem l| có ý nghĩa thống kê khi p < 0,05

Sử dụng hồi quy tuyến tính hoặc hồi quy logistic đa biến để hiệu chỉnh yếu tố gây nhi u liên quan tới c{c tiêu chí đ{nh gi{ của nghiên cứu

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU Các đặc điểm nền của bệnh nhân của 2 nhóm nghiên cứu

Độ tuổi trung bình của toàn mẫu nghiên cứu là 52,06 ± 11,95 tuổi, chủ yếu là bệnh nhân

từ 60 tuổi trở xuống, có 61,2% bệnh nhân nữ, nghề nghiệp chủ yếu là nông dân (26,9%), công nhân (23,9%) và nội trợ (23,9%) Có 40,3% mắc ít nhất 1 bệnh k m, trong đó phổ biến nhất l| tăng huyết áp

Các nguyên nhân dẫn đến phẫu thuật làm cứng cột sống đa phần l| trượt đốt sống (77,6%), chấn thương l|m đốt sống gãy, mất

Trang 4

vững (22,4%) Có 83,6% bệnh nh}n được phẫu

thuật ở vị trí đốt sống thắt lưng-cùng, với tầng

phẫu thuật trượt đốt sống chủ yếu là L4-L5,

59,6% bệnh nhân làm cứng cột sống 1 tầng

Phương ph{p phẫu thuật chủ yếu là hàn

xương liên th}n đốt lối sau (77,6%) Thời gian

phẫu thuật trung bình là 172,46 ± 44,71 phút Điểm VAS trung bình của toàn dân số nghiên cứu là 7,1 ± 0,8 với mức độ đau nặng chiếm 61,2% C{c đặc điểm nền của 2 nhóm bệnh nh}n được trình bày trong bảng 2

Bảng 2: Tóm tắt c{c đặc điểm nền của 2 nhóm bệnh nhân

c đi m Nh m DP (n = 33) Nh m không DP (n = 34) Giá trị p

Nghề nghiệp

0,257

Nguyên nhân phẫu

thuật

0,126

Sô tầng làm cứng

0,987

Phương pháp phẫu

thuật

0,126

Mức độ đau trước

phẫu thuật

0,109

Đánh giá hiệu quả của phương pháp GĐDP

trên bệnh nhân phẫu thuật làm cứng cột sống

Điể đau VAS và ức độ đau sau phẫu thuật

Điểm đau VAS ở nhóm GĐDP v| không

GĐDP đều giảm dần theo theo thời gian, trong

đó điểm đau VAS ở nhóm GĐDP thấp hơn có

ý nghĩa thống kê so với nhóm không GĐDP ở

3 ngày sau phẫu thuật (p < 0,05) Ở ngày 7 hậu

phẫu, điểm đau VAS ở cả 2 nhóm đều xuống

thấp và không khác biệt có ý nghĩa thống kê

giữa 2 nhóm Kết quả điểm đau VAS ở 2 nhóm

bệnh nhân sau phẫu thuật được trình bày qua

bảng 3

Kết quả mức độ đau ở các ngày sau phẫu

thuật ở 2 nhóm nghiên cứu được trình bày ở

bảng 4 Trong nghiên cứu của chúng tôi, đặc điểm nền về độ tuổi trung bình giữa 2 nhóm có

sự khác biệt có ý nghĩa thống kê, có thể đ}y l| yếu tố nhi u ảnh hưởng đến điểm đau của bệnh nhân sau phẫu thuật Để điều chỉnh yếu tố gây nhi u này, chúng tôi tiến hành phân tích hồi quy tuyến tính đa biến

B ng 3: i đ c a bệnh nhân các ngày sau

phẫu thuật

Ngày sau phẫu thu t

Nh m DP (n = 33)

Nhóm không

DP (n = 34) Giá trị p Trung bình ± SD Trung bình ± SD

Trang 5

Kết quả cho thấy yếu tố kh{c biệt về tuổi

không ảnh hưởng có ý nghĩa đến điểm đau

sau phẫu thuật của bệnh nhân (p > 0,05), chỉ có

áp dụng phương ph{p GĐDP giúp l|m giảm

có ý nghĩa thống kê điểm VAS ở ngày 1 (hệ số

góc = 0,649, p = 0,001) và ngày 2 (hệ số góc =

-0,868, p = 0,006) sau mổ

Bảng 4: Mức độ đau của bệnh nhân ở các ngày sau

phẫu thuật

Mức độ đau

Nh m DP (n = 33)

Nhóm không

DP (n = 34) Giá trị p

Số BN % Số BN %

Hậu phẫu ngày 1

0,008

Hậu phẫu ngày 2

0,021

Hậu phẫu ngày 3

0,091

Hậu phẫu ngày 7

0,203

Tổng lượng morphin sử dụng

Tổng lượng morphin sử dụng sau phẫu

thuật ở nhóm GĐDP l| 53,33 ± 26,30 mg, thấp

hơn có ý nghĩa thống kê so với nhóm không

GĐDP (71,18 ± 33,82 mg) (p = 0,019) Sau khi

hiệu chỉnh yếu tố gây nhi u là tuổi trung bình

bằng hồi quy tuyến tính đa biến, kết quả cho

thấy phương ph{p GĐDP thực sự làm giảm có

ý nghĩa thống kê tổng lượng morphin sử dụng

sau mổ (hệ số góc= -15,503, p = 0,048), trong

khi đó yếu tố tuổi không ảnh đến kết quả này

(p = 0,272)

Thời gian tập vận động

Thời gian tập phục hồi chức năng tại giường

bao gồm tập hô hấp, vận động tay chân, nghiêng

bên, tập vận động cơ cột sống, tập ngồi Trong

nghiên cứu chúng tôi, thời gian tập vận động

chức năng tại giường được tính từ khi phẫu

thuật tới khi bệnh nhân có thể tập ngồi được Thời gian tập vận động tại giường tương ứng ở 2 nhóm có v| không GĐDP l| 3,09 ± 0,84 ng|y v| 4,21 ± 0,95 ngày (p < 0,001) Sau khi hiệu chỉnh yếu tố tuổi, kết quả cho thấy chỉ có phương ph{p GĐDP có liên quan l|m giảm số ngày tập phục hồi chức năng tại giường (hệ số góc = -1,006, p<0,001)

Thời gian tập đi được tính từ sau khi phẫu thuật đến khi bệnh nhân đứng dậy tập đi có người đỡ Thời gian tập đi ở nhóm GĐDP l| 4,0 ± 0,86 ngày, thấp hơn có ý nghĩa thống kê so với thời gian tập đi ở nhóm không GĐDP l| 5,65 ± 1,07, p < 0,001 Sau khi hiệu chỉnh yếu tố nhi u, phương ph{p GĐDP vẫn chứng minh có thể rút ngắn được số ngày tập đi (hệ số góc= -1,539, p<0,001)

Tỷ lệ mất ngủ và số ngày dùng thuốc ngủ

Tỷ lệ mất ngủ ở nhóm GĐDP (30,3%) thấp hơn có ý nghĩa thống kê so với nhóm không GĐDP (58,8%), p = 0,019 Số ngày dùng thuốc ngủ ở nhóm GĐDP l| 1,80 ± 0,63 ng|y, thấp hơn

có ý nghĩa thống kê so với nhóm không GĐDP (2,55 ± 0,67 ngày), p = 0,01 Kết quả sau khi hiệu chỉnh yếu tố tuổi, phương ph{p GĐDP vẫn là yếu tố giúp làm giảm số ngày bệnh nhân phải dùng thuốc ngủ (hệ số góc = -0,783, p = 0,004)

Thời gian nằm viện sau phẫu thuật

Số ngày nằm viện ở nhóm GĐDP l| 9,55 ± 2,58 ngày, không có sự khác biệt với nhóm GĐDP l| 10,68 ± 2,80 ngày, p = 0,093

Các ADE khi dùng thuốc

Bảng 5: Tỷ lệ các ADE xảy ra ở 2 nhóm bệnh nhân

ADE

Nh m DP (n = 33)

Nhóm không

DP (n = 34) Giá trị

p

Số BN % Số BN %

Đau đầu, chóng

Trang 6

Không ghi nhận có sự khác biệt có ý nghĩa

thống kê về tần số các ADE xảy ra ở 2 nhóm có

v| không GĐDP (p > 0,05) Kết quả cụ thể về

tỷ lệ các ADE của 2 nhóm được trình bày qua

bảng 5

BÀN LUẬN

Các đặc điểm nền của bệnh nhân của 2 nhóm

nghiên cứu

Độ tuổi trung bình của bệnh nhân trong

nghiên cứu của chúng tôi là 52,06 ± 11,95 tuổi,

với 71,6% là bệnh nhân từ 60 tuổi trở xuống Kết

quả n|y tương tự với nghiên cứu của tác giả

Nguy n Thế Hanh(10) (trung bình 47,18 ± 1,62

tuổi, 90% bệnh nhân từ 60 tuổi trở xuống),

nghiên cứu của tác giả Phạm Ngọc Hải và cộng

sự(12) (trung bình 52 ± 9 tuổi) Điều này có thể

được giải thích do bệnh nhân phẫu thuật làm

cứng cột sống chủ yếu nằm trong độ tuổi lao

động, độ tuổi thường làm việc nhiều và nặng

nhọc, d dẫn đến các bệnh lý và các chấn thương

liên quan đến cột sống Tỷ lệ bệnh nhân nữ là

61,2% cao hơn so với bệnh nhân nam (38,8%)

Nghiên cứu của tác giả Nguy n Vũ(11), Lee BH.(7)

cũng cho kết quả tỷ lệ bệnh nhân nữ cao hơn

nam Có thể do phụ nữ trải qua giai đoạn mang

thai v| sinh nở, lúc n|y cột sống phải chịu lực t{c

động lớn l|m tổn hại đến cột sống Ngo|i ra,

phần lớn đối tượng l| công nh}n v| nông d}n,

điều kiện kinh tế xã hội thấp, người phụ nữ phải

l|m việc nặng nhọc như nam giới Vì vậy, tỷ lệ

phụ nữ mắc c{c bệnh liên quan đến cột sống

thường cao hơn nam giới Bệnh nhân có nghề

nghiệp là nông dân chiếm tỷ lệ cao nhất trong

toàn mẫu nghiên cứu (26,9%), kế đến là công

nhân và nội trợ (23,9%) Đ}y l| c{c bệnh t{c động

xấu đến cột sống Vùng cột sống thắt lưng-cùng

là vùng chịu sức ép nhiều nhất của hệ thống cột

sống, do đó vùng n|y d xảy ra tình trạng trượt

đốt sống, có 83,6% bệnh nh}n được phẫu thuật ở

vị trí thắt lưng-cùng, nguyên nhân phẫu thuật

chủ yếu l| trượt đốt sống (77,6%) với vị trí phẫu

thuật nhiều nhất là L4-L5 (40,4%) và chủ yếu là

trượt 1 tầng (59,6%) Về phương ph{p phẫu

thuật, h|n xương liên th}n đốt lối sau được áp dụng nhiều nhất (77,6%) Thời gian phẫu thuật trung bình là 172,46 ± 44,71 phút Thời gian phẫu thuật trong nghiên cứu của tác giả Phạm Ngọc Hải và cộng sự(12) tương tự như nghiên cứu của chúng tôi (177 ± 19 phút)

Điểm VAS trung bình của toàn dân số nghiên cứu là 7,1 ± 0,8 Nhiều nghiên cứu chỉ ra rằng, đau trước phẫu thuật có thể liên quan đến cơn đau cấp tính hoặc mạn tính của bệnh nhân sau phẫu thuật như nghiên cứu của D'Angelo C

và cộng sự(1), Moranjkic và cộng sự (9), Hegarty và cộng sự (3) Trong nghiên cứu của chúng tôi, điểm VAS trước mổ trung bình ở 2 nhóm nghiên cứu

là tương đồng và không khác biệt có ý nghĩa thống kê (p = 0,364) Về mức độ đau trước phẫu thuật: bệnh nh}n đau ở mức độ trung bình và nặng, chủ yếu là bệnh nh}n đau nặng (61,2%)

Đa số bệnh nh}n đến viện khi bệnh cảnh rầm rộ, tình trạng đau lưng trầm trọng

Tóm lại, đặc điểm nền của bệnh nhân ở 2 nhóm nghiên cứu không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (p > 0,05), trừ yếu tố tuổi trung bình, yếu tố n|y được hiệu chỉnh khi phân tích các tiêu chí của nghiên cứu

Hiệu quả của phương pháp GĐDP trên bệnh nhân phẫu thuật làm cứng cột sống

Điểm đau VAS ở nhóm GĐDP thấp hơn có ý nghĩa thống kê so với nhóm không GĐDP ở 3 ng|y đầu sau phẫu thuật (p < 0,05) Mặc khác, GĐDP giúp giảm mức độ đau cho bệnh nhân trong 2 ng|y đầu hậu phẫu, cụ thể ng|y đầu tiên sau phẫu thuật, có 48,5% bệnh nhân ở nhóm giảm đau dự phòng bị đau nặng, tỷ lệ này ở nhóm không GĐDP l| 79,4% (p = 0,008), con số này ở ngày thứ 2 là 15,2% so với 41,2% (p = 0,021) Kết quả nghiên cứu của chúng tôi về điểm đau v| mức độ đau sau phẫu thuật phù hợp với kết quả nghiên cứu của một số tác giả trên thế giới Nghiên cứu của tác giả Kim SI và cộng sự(5) cho thấy điểm đau ở nhóm GĐDP thấp hơn có ý nghĩa thống kê so với nhóm không GĐDP (p < 0,001), cụ thể điểm đau VAS ở nhóm

Trang 7

GĐDP ở các ngày 1, 2, 4 sau phẫu thuật là 4,25 ±

0,89; 3,62 ± 0,92; 3,1 ± 0,92; so với nhóm không

GĐDP l| 5,52 ± 1,06; 5,12 ± 1,13; 4,52 ± 0,96 Phân

tích gộp của Jiang và cộng sự(4) cho thấy ở nhóm

dùng giảm đau trước phẫu thuật có thể làm

giảm điểm VAS khi nghỉ ngơi tại thời điểm 12

giờ và 24 giờ sau phẫu thuật so với nhóm không

dùng giảm đau trước phẫu thuật Các tác giả

kh{c như Rajpal S và cộng sự(13), Sekar và cộng

sự(16) cũng cho kết quả tượng tự

Việc sử dụng các opioid phản ánh mức độ

đau nặng của bệnh nhân hậu phẫu, vì vậy tính

lượng opioid sử dụng sau phẫu thuật có thể gián

tiếp đ{nh gi{ việc kiểm so{t c{c cơn đau trên

bệnh nhân Nhóm GĐDP sử dụng lượng

morphin sau phẫu thuật ít hơn có ý nghĩa thống

kê so với nhóm không GĐDP (53,33 ± 26,30 mg

so với 71,18 ± 33,82, p = 0,019) Kết quả n|y được

lặp lại trong nghiên cứu của các tác giả kh{c như

Reuben S và cộng sự(14), Lee BH và cộng sự(7)

Đau sau phẫu thuật cản trở sự hồi phục của

bệnh nhân, làm chậm tập vận động, nằm lâu kéo

theo các biến chứng kh{c như giảm nhu động

ruột, b|ng quang, gia tăng nguy cơ huyết khối,

tắc mạch, viêm phổi Ở nhóm bệnh nhân sử

dụng GĐDP thời gian tập vận động đều thấp

hơn so với nhóm không GĐDP, p < 0,001

Nghiên cứu của tác giả Mathiesen O.(8) cũng cho

thấy hiệu quả của GĐDP trên sự hồi phục vận

động của bệnh nhân, với trung vị thời gian tập

vận động tại giường là 1 ngày, trung vị thời gian

tập vận động có khung tập đi l| 3 ng|y, trung vị

thời gian tập vận động không có khung tập đi l|

7 ngày

Kết quả nghiên cứu cho thấy, chỉ 30,3 %

bệnh nhân bị mất ngủ sau phẫu thuật ở nhóm

GĐDP, tỷ lệ này ở nhóm không GĐDP l| 58,8%

(p = 0,019) So với kết quả của tác giả Rolan R.(15),

tỷ lệ bệnh nhân mất ngủ và dùng thuốc an thần

để ngủ của chúng tôi cao hơn Tỷ lệ bệnh nhân

phải dùng thuốc an thần trong nghiên cứu của

tác giả là 5% ở 2 ng|y đầu hậu phẫu

Về số ngày dùng thuốc ngủ ở nhóm GĐDP

là 1,80 ± 0,63 ngày thấp hơn nhóm không giảm đau dự phòng (2,55 ± 0,67 ngày) (p = 0,01) Lý giải có trường hợp này có thể l| do c{c cơn đau sau phẫu thuật ở nhóm không GĐDP không được kiểm soát tốt bằng nhóm GĐDP, c{c cơn đau kéo d|i nhiều ngày, làm bệnh nhân không thể ngủ được, và các thuốc an thần gây ngủ được chỉ định để giúp bệnh nh}n đi v|o giấc ngủ d d|ng hơn

Không có khác biệt về thời gian nằm viện của bệnh nhân ở 2 nhóm nghiên cứu (p = 0,093) Thời gian nằm viện của bệnh nhân sau phẫu thuật có thể không chỉ được quyết định bởi cảm nhận đau của bệnh nhân mà còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố kh{c như: quy trình nằm viện chung của bệnh viện cho bệnh nhân phẫu thuật làm cứng cột sống, số lượng bệnh nhân tại khoa, tình hình tài chính của bệnh nhân

Việc sử dụng thuốc giảm đau nhóm opioid cũng như một số thuốc giảm đau kh{c có thể gây

ra một số tác dụng không mong muốn bao gồm chóng mặt, buồn nôn và nôn, bí tiểu, táo bón, tiêu chảy, chướng hơi đầy bụng, đau thượng vị Hầu như c{c ADE đều xảy ra ở 2 nhóm nghiên cứu, và không có sự khác biệt có ý nghĩa thống

kê về tần số các ADE xảy ra ở 2 nhóm có và không GĐDP (p>0,05) Kết quả của chúng tôi tương đồng với nghiên cứu của tác giả Siribumrungwong và cộng sự(17), các ADE trong vòng 48 giờ sau mổ là khó tiêu, buồn nôn và nôn, táo bón, chóng mặt, ngứa và không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê ở nhóm GĐDP v| không GĐDP (p > 0,05) Nghiên cứu của một số tác giả kh{c như Jiang H v| cộng sự(4), Turan A

và cộng sự(18) cũng cho thấy không có sự khác biệt về tỷ lệ các ADE gặp phải giữa nhóm có và không GĐDP

Như vậy, phương ph{p GĐDP không l|m tăng tỷ lệ gặp ADE so với không sử dụng GĐDP, điều này chứng tỏ tính an toàn của phương ph{p GĐDP bằng paracetamol trước mổ cho bệnh nhân phẫu thuật làm cứng cột sống

Trang 8

Tóm lại, áp dụng phương ph{p GĐDP giúp

giảm điểm đau VAS trong 3 ng|y đầu hậu phẫu,

giảm mức độ đau vừa và nặng trong 2 ng|y đầu

hậu phẫu, giảm tổng lượng morphin sử dụng

hậu phẫu, rút ngắn thời gian tập vận động, giảm

số ngày dùng thuốc ngủ v| không l|m tăng ADE

sau phẫu thuật Tuy nhiên, nghiên cứu chưa

chứng minh được ảnh hưởng của GĐDP đến số

ngày nằm viện sau PT, tỷ lệ mất ngủ

KẾT LUẬN

Việc sử dụng GĐDP với paracetamol truyền

tĩnh mạch trước khi rạch da mang lại hiệu quả

giảm đau tốt cho bệnh nhân hậu phẫu, giúp

giảm được lượng opioid dùng sau phẫu thuật,

đồng thời giúp hồi phục chức năng sớm, rút

ngắn thời gian tập vận động của bệnh nhân

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 D’Angelo C et al (2010) Role of trait anxiety in persistent

radicular pain after surgery for lumbar disc herniation: a 1-year

longitudinal study, Neurosurgery, 67: 265-271

2 Eastern Metropolitan Region Palliative Care Consortium (2013),

Opioid Conversion Guidelines

3 Hegarty D, Shorten G (2012) Multivariate Prognostic Modeling

of Persistent Pain Following Lumbar Discectomy, Pain

Physician., 15: 421-434

4 Jiang H (2017) Preoperative use of pregabalin for acute pain in

spine surgery: A meta-analysis of randomized controlled trials,

Medicine (Baltimore), 96: 6129

5 Kim SI, Ha KY, Oh IS (2016) Preemptive multimodal analgesia

for postoperative pain management after lumbar fusion surgery:

a randomized controlled trial, Eur Spine J, [Epub ahead of print]

6 Kissin I (2000) Preemptive analgesia Anesthesiology, 93:

1138-1143

Perioperative Pain Management May Improve Quality of Life in

Patients Undergoing Spinal Surgery, Pain Physician,16: 217-226

8 Mathiesen O et al (2013) A comprehensive multimodal pain treatment reduces opioid consumption after multilevel spine

surgery, Eur Spine J, 22: 2089-2096

9 Moranjkic M et al (2010) Outcome Prediction in Lumbar Disc

Herniation Surgery, Acta Med Sal., 39: 75–80

10 Nguy n Thế Hanh (2012), Điều trị phẫu thuật trượt đốt sống thắt

lưng mất vững bằng dụng cụ krypton, Luận án chuyên khoa cấp II,

Đại học Y Dược thành phố Hồ Chí Minh

11 Nguy n Vũ (2015), Nghiên cứu điều trị TĐS thắt lưng bằng phương

pháp cố định cột sống qua cuống kết hợp h|n xương liên th}n đốt,

Luận án tiến sĩ Y học, Đại học Y Hà Nội

12 Phạm Ngọc Hải và cộng sự (2015) Đ{nh gi{ kết quả điều trị trượt đốt sống thắt lưng bằng phẫu thuật cố định ốc chân cung

v| h|n xương liên th}n đốt lối sau, Y học Thành Phố Hồ Chí Minh,

19: 219-224

13 Rajpal S (2010) Comparison of perioperative oral multimodal

analgesia versus IV PCA for spine surgery”, J Spinal Disord Tech.,

23: 139-145

14 Reuben SS et al (2006) The analgesic efficacy of celecoxib, pregabalin, and their combination for spinal fusion surgery,

Anesth Analg., 103: 1271-1277

15 Rolan R (2016) A prospective analysis of sleep deprivation and

disturbance in surgical patients, Ann Med Surg (Lond), 6: 1–5

16 Sekar C et al (2004) Preemptive analgesia for postoperative pain relief in lumbosacral spine surgeries: a randomized controlled

trial, Spine J., 4: 261-264

17 Siribumrungwong K et al (2015) Comparing parecoxib and ketorolac as preemptive analgesia in patients undergoing posterior lumbar spinal fusion: a prospective randomized

double-blinded placebo-controlled trial, BMC Musculoskelet

Disord, 16:59

18 Turan A et al (2004) Analgesic Effects of Gabapentin after Spinal

Surgery, Anesthesiology., 100: 935-938

19 Woolf CJ, Chong MS (1993) Preemptive analgesia-treating postoperative pain by preventing the establishment of central

sensitization, Anesth Analg., 77, 362-379

Ngày phản biện nhận xét bài báo: 01/11/2017 Ng|y b|i b{o được đăng 15/03/2018

Ngày đăng: 22/01/2020, 05:58

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm