1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Kết quả điều trị cong dương vật để triển khai kỹ thuật Snodgrass ở lỗ tiểu thấp thể giữa và thể sau

9 67 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 9
Dung lượng 371,23 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nội dung của bài viết trình bày về bệnh lý tật cong dương vật ở lỗ tiểu thấp, cách xử trí và kết quả điều trị của dị tật này nhưng vẫn bảo tồn được sàn niệu đạo giúp triển khai kỹ thuật Snodgrass trong việc tạo hình niệu đạo.

Trang 1

KẾT QUẢ ĐIỀU TRỊ CONG DƯƠNG VẬT ĐỂ TRIỂN KHAI

KỸ THUẬT SNODGRASS Ở LỖ TIỂU THẤP THỂ GIỮA VÀ THỂ SAU

Phạm Ngọc Thạch*, Nguyễn Hiền*, Đổng SơnTrà*, Lê Tấn Sơn**

TÓM TẮT

Mục tiêu: Chúng tôi giới thiệu bệnh lý tật cong dương vật ở lỗ tiểu thấp, cách xử trí và kết quả điều trị của

dị tật này nhưng vẫn bảo tồn được sàn niệu đạo giúp triển khai kỹ thuật Snodgrass trong việc tạo hình niệu đạo

Phương pháp nghiên cứu: Trong thời gian từ 3/2012- 3/2015 tại bệnh viện Nhi Đồng 2 có 278 bệnh nhân

lỗ tiểu thấp thể giữa và thể sau được làm thẳng dương vật vẫn bảo tồn sàn niệu đạo và được phẫu thuật tạo hình niệu đạo theo kỹ thuật Snodgrass; trong khi đó có 81 bệnh nhân lỗ tiểu thấp thể giữa và thể sau được làm thẳng dương vật với kỹ thuật cắt sàn niệu đạo và được làm phẫu thuật thì 1 Tất cả các bệnh nhân lỗ tiểu thấp thể giữa

và thể sau trước mổ và sau khi làm test cương đều được đánh giá mức độ cong dương vật Kỹ thuật làm thẳng dương vật ở nhóm phẫu thuật Snodgrass là kỹ thuật Nesbit có kèm theo hay không kỹ thuật Mollard; kỹ thuật làm thẳng dương vật ở nhóm phẫu thuật thì 1 là cắt sàn niệu đạo có kèm theo hay không kỹ thuật mở bao trắng mặt bụng dương vật với mảnh ghép bì hoặc kỹ thuật Nesbit Tuổi phẫu thuật từ 12 tháng tuổi đến 15 tuổi, trung bình 5,8 tuổi; Đây là một nghiên cứu tiền cứu mô tả

Kết quả: Tỉ lệ bảo tồn sàn niệu đạo để triển khai kỹ thuật Snodgrass sau điều trị cong dương vật vẫn ở lỗ

tiểu thấp thể giữa và thể sau chiếm tỉ lệ 77,4% (278/359)

Trong nhóm 278 bệnh nhân được triển khai kỹ thuật tạo hình niệu đạo Snodgrass có 112 bệnh nhân được điều trị cong dương vật với kỹ thuật Nesbit trong đó bao gồm 85 bệnh nhân chỉ có kỹ thuật Nesbit và 27 bệnh nhân kỹ thuật Nesbit kết hợp kỹ thuật Mollard Có 11 trường hợp cong tái phát chiếm tỉ lệ biến chứng chung 9,8% (11/112) sau ít nhất 6 tháng theo dõi;tất cả trường hợp tái phát này đều ở mức độ nhẹ và thuộc nhóm chỉ làm kỹ thuật Nesbit đơn thuần: 2 bệnh nhân tái phát được phẫu thuật lại làm thẳng dương vật kết hợp vá rò tiểu,

3 bệnh nhân phẫu thuật lại kết hợp chỉnh chuyển vị dương vật bìu và 6 bệnh nhân còn lại không can thiệp gì Tỉ lệ biến chứng của nhóm chỉ làm Nesbit 12,9% (11/85) cao hơn 0% (0/27) của nhóm kết hợp kỹ thuật Nesbit và Mollard (p<0,05) Trong nhóm 81 bệnh nhân làm phẫu thuật thì 1 có cắt sàn niệu đạo (3 trường hợp sử dụng kèm kỹ thuật mảnh ghép bì, 5 trường hợp kèm kỹ thuật Nesbit) có 2 trường hợp tái phát cong mức độ nhẹ chiếm

tỉ lệ 2,4% (2/81) (cả 2 trường hợp tái phát đều ở nhóm chỉ cắt sàn niệu đạo) Cả 2 trường hợp tái phát đều được giải quyết bằng kỹ thật Nebit ở phẫu thuật thì 2 Tỉ lệ tái phát cong dương vật của nhóm bảo tồn sàn niệu đạo 9,8% (11/112) cao hơn nhóm cắt sàn niệu đạo 2,4% (2/81) (p<0,05)

Kết luận: Tỉ lệ bảo tồn sàn niệu đạo để triển khai kỹ thuật Snodgrass sau điều trị cong dương vật ở lỗ tiểu

thấp thể giữa và thể sau chiếm tỉ lệ 77,4% (278/359) Tỉ lệ cong dương vật tái phát ở nhóm bảo tồn sàn niệu đạo

để triển khai kỹ thuật Snodgrass 9,8% (11/112) cao hơn nhóm cắt sàn niệu đạo 2,4% (2/81) (p<0,05) Tuy nhiên nếu làm thẳng dương vật- bảo tồn sàn niệu đạo với sự kết hợp kỹ thuật Nesbit và kỹ thuật Mollard 0% (0/27) thì

tỉ lệ tái phát thấp hơn so với chỉ sử dụng kỹ thuật Nesbit đơn thuần 12,9% (11/85) (p<0,05)

Từ khóa: Cong dương vật, lỗ tiểu thấp, kỹ thuật Snodgrass

* Bệnh viện Nhi Đồng 2, ** Đại học Y Dược TP.HCM

Tác giả liên hệ: Ths Bs Phạm Ngọc Thạch ,ĐT: 0902187095, Email: dr.thachpham@yahoo.fr

Trang 2

ABSTRACT

OUTCOME OF CHORDEE CORRECTION IN PROXIMAL HYPOSPADIAS REMAINING THE

URETHRAL PLATE IN USING SNODGRASS TECHNIQUE

Pham Ngoc Thach, Nguyen Hien, Dong Son Tra, Le Tan Son

* Y Hoc TP Ho Chi Minh * Supplement of Vol 19 - No 5 - 2015: 55 - 63

Purpose: We present the etiology, management and evaluation of the surgical results of chordee with

hypospadias remaining on the urethral plate and usethe Snodgrass technique

Methods: During the period from 3/2012 - 3/2015, the Children's Hospital 2 had 278 patients with

proximal hypospadias who underwent correction of chordee and urethroplasty with the Snodgrass technique; 81 patients underwent the first stage repair All patients who had chordee with hypospadias received a test before and after surgery to assess the curvature of the penis Penis straightening techniques in the group of Snodgrass techniques included Nesbitaccompanied by Mollard; penis straightening techniques in the group of stage 1 repairreceivedresection of urethral plate Patients were agesfrom 12 months to 15 years old (mean age 5.8) ; this is

a descriptive prospective study

Results: 77.4% (278/359) of patients required the urethral plate in order to use Snodgrass technique Among

the 278 patients who underwent the surgery using Snodgrass technique, 112 patients receiving the surgery also received the Nesbit technique; 85 patientsreceived the Nesbit technique only and 27 patients had a combination of the Nesbit technique and Mollard technique There were 11 cases of recurrent chordeewith a complication rate of 9.8% (11/112) after 6 months of follow-up; all these recurrent chordee cases were mild and received the Nesbit technique only: 2 patients with recurrent chordee to straighten the penis combined with closing of the urethral fistula; 3 patients with combinedpeno-scrotal transposition correction; 6 remaining patients required no intervention Complication rate of the group receiving Nesbit technique was 12.9% (11/85) higher than 0% (0/27)

of the group with the combination of Nesbit technique and Mollard technique (p <0.05) Among 81 patients who underwent the first stage repair with urethral transaction (3 cases using dermal graft techniques, 5 with Nesbit) 2 cases had mild recurrent chordee 2, 4% (2/81) Relapse rates with recurrent chordee in urethral plate conservation group was 9.8% (11/112) higher than the group with urethral plate transection by 2.4% (2/81) (p < 0.05)

Conclusions: The ratio treatment that still remain the urethral plate in order to use Snodgrass technique is

77.4% (278/359) The rate of recurrent chordee at conservation group urethral plate for complication rate of the group underwent Nesbit technique was 12.9% (11/85) higher than 0% (0/27) of the group with the combination

of Nesbit technique and Mollard technique (p<0.05) However if straightening with urethral plate conservation with a combination of technical Nesbit and Mollard 0% (0/27), had lower recurring rates compared to just using

simple techniques Nesbit 12, 9% (11/85) (p <0.05)

Key words: The etiology, Snodgrass technique

MỞ ĐẦU

Cong dương vật trong dị tật lỗ tiểu thấp là

tổn thương cong dương vật về phía mặt bụng

(ventral curvature), thường xảy ra ở thể giữa và

thể sau lỗ tiểu thấpít gặp ở thể trước Tần suất và

mức độ nặng của tật cong dương vật thay đổi

theo tổn thương của bệnh lý lỗ tiểu thấp

Campbell Walsh Urology (2012) ghi nhận cứ 300

trẻ trai sanh ra có một bé bị bệnh lý lỗ tiểu thấp; trong đó 50% thể trước, 30% thể giữa và thể sau chiếm 20% Tương ứng tỉ lệ đó tần suất cong dương vật hiện diện ở 11% thể trước, 30%thể giữa và 81% các trường hợp thể sau(1)

Về mặt nguyên nhân, trước đâytổn thương cong dương vậtđược qui kết do mô xơ vùng mặt bụng dương vật Tuy nhiên những nghiên cứu

Trang 3

phôi thai học cho thấy tình trạng cong dương vật

là quá trình tự nhiên, luôn xảy ra trong sự hình

thành niệu đạo bình thườngở giai đoạn bào

thaivà bản thân nó tự hết khi kết thúc quá trình

này (Glenister, 1954)(13) Do vậy bất cứ sự gián

đoạn nào trong quá trình hình thành dương vật

cũng đồng nghĩa sẽ tồn tại tật cong dương vật đi

kèm (Kaplan và Lamm, 1975)(16) Bên cạnh đó các

nghiên cứu mô học gần đây cho thấy hoàn toàn

không có các mô xơ vùng mặt bụng dương vật,

nguyên nhânbị qui kết làm cong dương vật, mà

trái ngược lại vùng này có hệ thống giàu mạch

máu phong phú giúp tưới máu cho sàn niệu đạo

(Baskin(4), 1998; Snodgrass(22), 2000)

Để phát hiện và đánh giá mức độ cong

dương vật, năm 1974 hai tác giả Gittes và

McLaughlingiới thiệu phương pháp gây cương

nhân tạo, do tính đơn giản dễ ứng dụng trong

lâm sàng nên kỹ thuật này được sử dụng một

cách rộng rãi và ứng dụng tới tận bây giờ (12)

Việc phân độ cong dương vật theo Viện hàn lâm

Nhi khoa Hoa Kỳ (American Academy of

Pediatric) bao gồm cong dương vật mức độ nhẹ

nhỏ hơn 30 độ; cong dương vật mức độ trung

bình từ 30 độ đến 45 độ và cong dương vật mức

độ nặng lớn hơn 45 độ Tuy nhiên trong thực

hành lâm sàng, các tác giả chia cong dương vật ở

hai mức độ khác nhau: cong dương vật nhẹ và

trung bình nhỏ hơn 30 độ và cong dương vật

nặng lớn hơn 30 độ; việc chia mốc ở mức độ 30

độ này giúp người làm lâm sàng đưa ra phác đồ

cũng như các kỹ thuật tương ứng phù hợp trong

việc điều trị cong dương vật

Điều trị đúng cong dương vật là bước đi

đầu tiên và cần thiết để điều trị tốt dị tật lỗ

tiểu thấp ở phần tạo hình niệu đạo tiếp theo

Nguyên tắc chungđể làm thẳng dương vật là

can thiệp giải quyết các nguyên nhân gây cong

dương vật Nếu nguyên nhân là thiểu sản da

mặt bụng dương vật (skin chordee), da gây co

rút thì ở mức độ này phẫu thuật chỉ cần can

thiệp vào vùng da (degloving) Nếu nguyên

nhân là do vật xốp thoái hóa gây co rút cần

phải cắt các mô xơ dọc hai bên sàn niệu đạo,

tuy nhiên nhiều trường hợp dãi xơ kéo dài từ khấc qui đầu theo hai bên bờ niệu đạo đến lỗ sáo và xa hơn nữa; do đó sau khi cắt mô xơ hai bên sàn niệu đạo mà dương vật vẫn không thẳng, việc tách rời sàn niệu đạo và đoạn niệu đạo gần ra khỏi vật hang sẽ giúp làm thẳng dương vật (kỹ thuật Mollard) Nếu nguyên nhân do mất cân đối vật hang giữa phần lưng

và phần bụng (corporal disproportion), trường hợp này để làm thẳng dương vật bằng cách khâu gấp bao cân dương vật ở phía lưng (kỹ thuật Nesbit), tuy nhiên những trường hợp cong nặng lớn hơn 30 độ, việc khâu gấp mặt lưng làm ngắn dương vật (“tuna can” penis),

do đó phẫu thuật sẽ can thiệp vào mặt bụng dương vật bằng cách mở bao trắng(kỹ thuật Devine-Horton) bằng những đường xẻ không bộc lộ tạng cương hay xẻ bao trắng bằng một đường duy nhất bộc lộ tạng cương và tiến hành ghép các mảnh mô như mảnh ghép bì, vật liệu tổng hợp hay mảnh tinh mạc

Kể từ năm 1995 khi tác giả Duckett(10) đưa ra quan niệm mới về vai trò sàn niệu đạo trong việc tạo hình niệu đạo nay đã trở thành việc thực hành lâm sàng chuẩn mực trong điều trị hầu hết các thể lỗ tiểu thấp, do vậy các phẫu thuật viên điều trị cong dương vật luôn cố gắng bảo tồn tối

đa sàn niệu đạo trong việc tạo hình niệu đạo tiếp theo; khuynh hướng mới này đang được chấp nhận sự đồng thuận rộng rãi đưa vào các Algorithm, textbook cũng như guidelines(24) Việc

sử dụng sàn niệu đạo hay hợp nhất sàn niệu đạo trong việc tạo hình niệu đạo giúp làm giảm các tỉ

lệ biến chứng so với các kỹ thuật khác đã được chứng minh Khuynh hướng mới này giúp kỹ thuật Snodgrass tạo hình niệu đạo được ưa chuộng ngay từ khi xuất hiện Ra đời năm 1994

(23), kỹ thuật Snodgrass đã nhanh chóng lan rộng chiếm cảm tình của các phẫu thuật viên niệu nhi

và ghi tên mình vào cây phả hệ kỹ thuật điều trị

lỗ tiểu thấp Hiện nay kỹ thuật Snodgrass đang được sử dụng nhiều nhất đối bệnh lý lỗ tiểu thấp được mổ lần đầu Tác giả Cook(2005)(8) đã làm một nghiên cứu đánh giá sự yêu thích kỹ thuật

Trang 4

tạo hình niệu đạo bởi các phẫu thuật viên niệu

nhi trên các trung tâm nhi khoa hàng đầu trên

thế giới từ Châu Âu đến Châu Mỹ, kết quả cho

thấy kỹ thuật Snodgrass chiếm vị trí cao nhất so

với các kỹ thuật khác, cụ thể là 92%, 83% và 43%

lần lượt là tỉ lệ sử dụng kỹ thuật của các phẫu

thuật viên đối với thể trước, thể giữa và thể sau

lỗ tiểu thấp Sự yêu thích kỹ thuật Snodgrass thể

hiện ở chỗ: tính đơn giản (simplicity) của kỹ thuật,

đây là phẫu thuật một thì, số đường rạch và

đường khâu ít Tính thẩm mỹ (cosmetic) của kỹ

thuật thể hiện rõ nét qua hình thái miệng sáo tự

nhiên, hình khe thẳng đứng (vertical slit like

meatus); hình thái qui đầu cân đối, da thân

dương vật đủ che phủ Tỉ lệ biến chứng thấp, nếu

có biến chứng thì là biến chứng nhẹ, kỹ thuật

Snodgrass hầu như không có biến chứng đáng

sợ nhất là hẹp niệu đạo

Từ năm 2010 tới nay tại khoa Niệu bệnh

viện Nhi Đồng 2 đã triển khai kỹ thuật

Snodgrass (Tubularized incised plate- TIP)

cuộn ống tại chỗ có rạch sàn niệu đạo và kỹ

thuật hai thì đối với lỗ tiểu thấp thể giữa và

thể sau và cho kết quả tốt Để thực hiện được

kỹ thuật Snodgrass chúng tôi chú trọng việc

điều trị cong dương vật bảo tồn sàn niệu đạo

bao gồm các kỹ thuật khâu gấp mặt lưng theo

Nesbit, kỹ thuậttách sàn niệu đạo theo

Mollard Để đánh giá kết quả thành công các

kỹ thuật này trong việc điều trị cong dương

vật bảo tồn sàn niệu đạo chúng tôi tiến hành

nghiên cứu này

ĐỐI TƯỢNG - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Đối tượng nghiên cứu

Bao gồm những bệnh nhân lỗ tiểu thấp thể

giữa và thể sau được phẫu thuật làm thẳng

dương vật có hay không tạo hình niệu đạo kèm

theo và được theo dõi tại khoa Niệu bệnh viện

Nhi đồng 2 trong thời gian từ tháng 3/2012 đến tháng 3/2015

Phương pháp nghiên cứu

Thiết kế nghiên cứu

Nghiên cứu tiền cứu, mô tả

Mô tả kỹ thuật

Tất cả các bệnh nhân lỗ tiểu thấp thể giữa và thể sau trước mổ và sau khi làm test cương đều được đánh giá mức độ cong dương vật Kỹ thuật làm thẳng dương vật ở nhóm phẫu thuật Snodgrass là kỹ thuật Nesbit có kèm theo hay không kỹ thuật Mollard; kỹ thuật làm thẳng dương vật ở nhóm phẫu thuật thì 1 là cắt sàn niệu đạo có kèm theo hay không kỹ thuật mở bao trắng mặt bụng dương vật với mảnh ghép bì hoặc kỹ thuật Nesbit

Chúng tôi xin giới thiệu cách tiếp cận điều trị cong dương vật ở lỗ tiểu thấp do tác giả Warren Snodgrass đưa ra được cho là phổ biến nhất trong Campbell Wash Urology(1) mà chúng tôi ứng dụng

Sau khi tuột da dương vật ra khỏi thân dương vật (degloving), tiến hành cắt xơ hai bên sàn niệu đạo nếu dương vật hết cong tiến hành tạo hình niệu đạo, nếu dương vật còn cong nhưng nhỏ hơn 30 ñộ, tiến hành khâu gấp vật hang mặt lưng vị trí đường giữa theo kỹ thuật Nesbit, sau đó tiến hành tạo hình niệu đạo, nếu dương vật cong lớn hơn 30 ñộ, tiến hành di động niệu đạo ra khỏi vật hang theo kỹ thuật Mollard, nếu hết cong tiến hành tạo hình niệu đạo, nếu còn cong nhỏ hơn 30 ñộ tiến hành khâu gấp vật hang theo Nesbit, nếu còn cong lớn hơn 30 ñộ tiến hành mở bao trắng vùng bụng, nếu vẫn còn cong hay niệu đạo căng tiến hành cắt sàn niệu đạo và làm thì 1

Trang 5

Cong dương vật

- Tuột da dương vật

- Cắt mô xơ

- Giữ sàn niệu đạo

Không cong dương vật Cong dương vật < 30 độ Cong dương vật > 30 độ

Tạo hình niệu đạo Khâu gấp mặt lưng Di động niệu đạo khỏi

thể hang

Cong dương vật < 30 độ Cong dương vật > 30 độ Không cong dương vật

Tạo hình niệu đạo Khâu gấp mặt lưng Mở bao trắng

Không cong dương vật Còn cong dương vật niệu

đạo căng

Tạo hình niệu đạo Cắt sàn niệu đạo

Kỹ thuật Nesbit(1965) (18)

Khâu gấp mặt lưng dương vật ví trí 12 giờ,

có thể tiến hành khâu một hay nhiều vị trí khác

nhau đến khi dương vật thẳng

Kỹ thuật Nesbit

Kỹ thuật Mollard(1994) (17)

Sau khi bóc tách da thân dương vật xuống thân dương vật, cắt mô xơ hai bên sàn niệu đạo, nếu dương vật vẫn còn cong tiến hành tách sàn niệu đạo ra khỏi vật hang, tách từ qui đầu cho đến đoạn niệu đạo lành

Kỹ thuật Mollard

Trang 6

Kỹ thuật Devine và Horton(1975 (9)

Kỹ thuật được tiến hành gồm tuột da thân

dương vật ra khỏi dương vật, cắt bỏ mô xơ do

loạn sản vật xốp Nếu dương vật còn cong hơn

30 độ, cắt sàn niệu đạo Nếu dương vật vẫn còn

cong hơn 30 độ tiến hành rạch bao trắng từ vị trí

3 giờ đến 9 giờ tại vị trí cong nặng nhất Lấy

mảnh ghép bì ở bẹn, mảnh ghép được lóc bỏ lớp

thượng bì và lớp mỡ, có diện tích (20%) hơi lớn

hơn phần khuyết ở bao trắng sau khi rạch Khâu

mảnh ghép vào phần khuyết của bao trắng

Kỹ thuật Devine và Horton

Nguồn gốc số liệu

Bảng thu thập số liệu

Phép kiểm thống kê

T test

KẾT QUẢ

Trong thời giantừ 3/2012 - 3/2015 tại bệnh

viện Nhi Đồng 2 có 278 bệnh nhân lỗ tiểu thấp

thể giữa và thể sau được làm thẳng dương vật

vẫn bảo tồn sàn niệu đạo và được phẫu thuật tạo

hình niệu đạo theo kỹ thuật Snodgrass; trong khi

đó có 81 bệnh nhân lỗ tiểu thấp thể giữa và thể

sau được làm thẳng dương vật với kỹ thuật cắt

sàn niệu đạo và được làm phẫu thuật thì 1

Tuổi

Tuổi phẫu thuật từ 12 tháng tuổi đến 15 tuổi,

trung bình 5,8 tuổi

Nhóm bảo tồn sàn niệu đạo

Tỉ lệ bảo tồn sàn niệu đạo để triển khai kỹ

thuật Snodgrass sau điều trị cong dương vật vẫn

ở lỗ tiểu thấp thể giữa và thể sau chiếm tỉ lệ 77,4% (278/359)

Trong nhóm 278 bệnh nhân được triển khai

kỹ thuật tạo hình niệu đạo Snodgrass có 112 bệnh nhân được điều trị cong dương vật với kỹ thuật Nesbit trong đó bao gồm 85 bệnh nhân chỉ

có kỹ thuật Nesbit và 27 bệnh nhân kỹ thuật Nesbit kết hợp kỹ thuật Mollard Có 11 trường hợp cong tái phát chiếm tỉ lệ biến chứng chung 9,8% (11/112) sau ít nhất 6 tháng theo dõi; tất cả trường hợp tái phát này đều ở mức độ nhẹ và thuộc nhóm chỉ làm kỹ thuật Nesbit đơn thuần: 2 bệnh nhân tái phát được phẫu thuật lại làm thẳng dương vật kết hợp vá rò tiểu, 3 bệnh nhân phẫu thuật lại kết hợp chỉnh chuyển vị dương vật bìu và 6 bệnh nhân còn lại không can thiệp

gì Tỉ lệ biến chứng của nhóm chỉ làm Nesbit 12,9% (11/85) cao hơn 0% (0/27) của nhóm kết hợp kỹ thuật Nesbit và Mollard (p<0,05)

Nhóm phẫu thuật thì 1

Trong nhóm 81 bệnh nhân làm phẫu thuật thì 1 có cắt sàn niệu đạo (3 trường hợp sử dụng kèm kỹ thuật mảnh ghép bì, 5 trường hợp kèm

kỹ thuật Nesbit) có 2 trường hợp tái phát cong mức độ nhẹ chiếm tỉ lệ 2,4% (2/81) (cả 2 trường hợp tái phát đều ở nhóm chỉ cắt sàn niệu đạo)

Cả 2 trường hợp tái phát đều được giải quyết bằng kỹ thật Nebit ở phẫu thuật thì 2

So sánh giữa nhóm bảo tồn sàn niệu đạo và nhóm phẫu thuật thì 1

Tỉ lệ tái phát cong dương vật của nhóm bảo tồn sàn niệu đạo 9,8% (11/112) cao hơn nhóm cắt sàn niệu đạo 2,4% (2/81) (p<0,05)

BÀN LUẬN

Trong nghiên cứu của chúng tôi có 359 bệnh nhi lỗ tiểu thấp thể giữa và thể sau được phẫu thuật, sau khi bóc tách da thân dương vật xuống (degloving) tiến hành chỉnh thẳng dương vật bằng các kỹ thuật khác nhau; chúng tôi có 278 trường hợp còn sàn niệu đạo do đó

tỉ lệ bảo tồn sàn niệu đạo để triển khai kỹ

Trang 7

thuật Snodgrass trong nghiên cứu này chiếm tỉ

lệ 77,4% (278/359) Tỉ lệ này tương tự với tỉ lệ

của chính tác giả Snodgrass (2011) thực hiện

nghiên cứu trên 36 bệnh nhân lỗ tiểu thấp thể

giữa và thể sau, bảo tồn được sàn niệu đạo 26

trường hợp chiếm tỉ lệ 72,2%

Trong nghiên cứu của chúng tôi nhóm 112

bệnh nhân được điều trị cong dương vật với

kỹ thuật Nesbit có 11 trường hợp cong tái phát

chiếm tỉ lệ biến chứng chung 9,8% (11/112) sau

ít nhất 6 tháng theo dõi.Tác giả Gershbaum

(2002)(11) trong nghiên cứu lỗ tiểu thấp thể bìu

và tầng sinh môn, trên 23 trường hợp được

điều trị làm thẳng dương vật bằng kỹ thuật

Nesbit thì có 5 trường hợp tái phát chiếm tỷ lệ

24%.Với xu hướng dùng sàn niệu đạo nguyên

thủy tạo hình niệu đạo trong điều trị lỗ tiểu

thấp, kỹ thuật Nesbit ngày càng có vai trò

quan trọng trong điều trị cong dương vật và

bảo tồn niệu đạo nguyên thủy, kết quả thể

hiện tốt trong các nghiên cứu của các tác giả

Baskin(3), Hollowell(15) vừa giữ sàn niệu đạo

vừa khâu gấp mặt lưng dương vật Tuy nhiên

như Baskin và Duckett (1994) đã từng nhận

xét trong các trường hợp cong dương vật nhẹ

và trung bình nhỏ hơn 30 độ thì khâu gấp vật

hang theo kỹ thuật Nesbit thường cho kết quả

tuyệt vời và trong thực tế lâm sàng lúc phẫu

thuật nếu như cong dương vật không làm

thẳng được với ngón tay thì đây là một dấu

chỉ điểm không nên sử dụng kỹ thuật Nesbit

11 bệnh nhân tái phát trong nghiên cứu

của chúng tôi đều ở mức độ nhẹ nhỏ hơn 15

độ trong đó 2 bệnh nhân được phẫu thuật lại

làm thẳng dương vật kết hợp vá rò tiểu, 3

bệnh nhân phẫu thuật lại kết hợp chỉnh

chuyển vị dương vật bìu và 6 bệnh nhân còn

lại theo dõi Các bệnh nhân được phẫu thuật

lại vẫn áp dụng kỹ thuật Nesbit và đều cho kết

quả tốt Điều này cũng thể hiện trong nghiên

cứu của tác giả Selcuk (2006)(20) đã báo cáo

điều trị thành công 25 trường hợp cong dương

vật tái phát với kỹ thuật Nesbit trong thời gian

theo dõi trung bình 22 tháng cho kết quả tốt

Về theo dõi kết quả lâu dài khi sử dụng kỹ thuật Nesbit, tác giả Chertin (2004)(7) đã kết luận trên 83 bệnh nhân bị cong dương vật trên

lỗ tiểu thấp với thời gian theo dõi trung bình

10 năm cho kết quả tốt về mặt thẩm mỹ cũng như chức năng

So sánh tỉ lệ biến chứng của nhóm chỉ làm Nesbit và nhóm kết hợp kỹ thuật Nesbit và kỹ thuật Mollard chúng tôi nhận thấy tỉ lệ tái phát cong dương vật ở nhóm có kỹ thuật Mollard là thấp hơn có ý nghĩa về mặt thống kê, 0% (0/27)

so với 12,9% (11/85) (p<0,05) Theo chúng tôi, nếu sau khi degloving da thân dương vật xuống và bóc tách mô xơ hai bên sàn niệu đạo nếu còn cong < 30 độ sẽ tiến hành khâu gấp mặt lưng với

kỹ thuật Nesbit so với nhóm di động sàn niệu đạo có kèm kỹ thuật Nesbit thì nhóm di động sàn niệu đạo có ưu thế là các mô xơ được loại trừ hoàn toàn từ lỗ sáo đến đoạn niệu đạo lành, đây chính là lí do giải thích tại sao tỉ lệ biến chứng nhóm kỹ thuật Nesbit và Mollard thấp hơn

Kỹ thuật Mollard tách sàn niệu đạo ra khỏi vật hang trong điều trị cong dương vật nặng lớn hơn 30 độ, giải pháp này giúp giải quyết được tình trạng cong dương vật nhưng vẫn giữ lại sàn niệu đạo giúp việc thực hiện phẫu thuật tạo hình niệu đạo về sau.Ưu điểm của phương pháp này là giúp loại bỏ triệt để các

mô xơ hai bên sàn niệu đạo cũng như vật xốp thiểu sản gây co rút, bên cạnh đó khuynh hướng điều trị miệng niệu đạo đóng thấp sử dụng sàn niệu đạo ngày càng chiếm ưu thế, do

đó nhiều tác giả cố gắng tìm mọi cách làm thẳng dương vật mà vẫn bảo tồn được sàn niệu đạo mà kỹ thuật Mollar đáp ứng được Tác giả Snodgrass trong nghiên cứu của mình(21) đã đưa ra kết luận về việc tách sàn niệu đạo để điều trị cong dương vật là không làm tăng thêm biến chứng của việc tạo hình niệu đạo theo kiểu Snodgrass

Trong nghiên cứu của chúng tôi nhómphẫu thuật thì 1 có 81 bệnh nhân được cắt sàn niệu đạo (trong đó 3 trường hợp sử dụng kèm kỹ thuật mảnh ghép bì, 5 trường

Trang 8

hợp kèm kỹ thuật Nesbit) có 2 trường hợp tái

phát cong mức độ nhẹ chiếm tỉ lệ 2,4% (2/81)

(cả 2 trường hợp tái phát đều ở nhóm chỉ cắt

sàn niệu đạo) Cả 2 trường hợp tái phát đều

được giải quyết bằng kỹ thật Nebit ở phẫu

thuật thì 2.Nếu nhìn vào tỉ lệ tái phát 2,4%

chúng tôi nhận thấy dường như cắt sàn niệu

đạo là giải pháp cho tỉ lệ tái phát thấp, nhất là

khi kết hợp kỹ thuật mở bao trắng với mảnh

ghép bì hoặc kỹ thuật Nesbit thì hầu như

không có trường hợp nào tái phát So sánh tỉ lệ

tái phát cong dương vật của nhóm bảo tồn sàn

niệu đạo 9,8% (11/112) cao hơn nhóm cắt sàn

niệu đạo 2,4% (2/81) (p<0,05) Ưu điểm khác

của cắt sàn niệu đạo là làm dài bên ngắn khác

với kỹ thuật Nesbit là làm ngắn bên dài nên

tránh làm ngắn dương vật, nhất là trong

những trường hợp cong nặng Theo nghiên

cứu của tác giả Braga (2008) kết luận phương

pháp này tỉ lệ tái phát thấp hơn so với kỹ

thuật Nesbit(6) Tuy nhiên theo chúng tôi yếu

điểm của kỹ thuật can thiệp vào vùng bụng

dương vật và cắt sàn niệu đạo làm thì một là

mất sàn niệu đạo, không triển khai được các

kỹ thuật tạo hình niệu đạo với các ưu thế của

sàn niệu đạo nguyên thủy, bên cạnh đó bệnh

nhân phải chịu nhiều thì phẫu thuật trong khi

đó khuynh hướng phẫu thuật một thì đang

chiếm ưu thế

KẾT LUẬN

Tỉ lệ bảo tồn sàn niệu đạo để triển khai kỹ

thuật Snodgrass sau điều trị cong dương vật

vẫn ở lỗ tiểu thấp thể giữa và thể sau chiếm tỉ

lệ 77,4% (278/359) Tỉ lệ cong dương vật tái

phát ở nhóm bảo tồn sàn niệu đạo để triển

khai kỹ thuật Snodgrass 9,8% (11/112) cao hơn

nhóm cắt sàn niệu đạo 2,4% (2/81) (p<0,05)

Tuy nhiên nếu bảo tồn sàn niệu đạo với sự kết

hợp kỹ thuật Nesbit và kỹ thuật Mollard 0%

(0/27) thì tỉ lệ tái phát thấp hơn so với chỉ sử

dụng kỹ thuật Nesbit đơn thuần 12,9%(11/85)

(p<0,05)

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Alan JW (2012), Campbell-Walsh Urology, Hypospadias, Chapter 130, pp 3503-3527

2 Arnold GC (2012), Pediatric Surgery, Hypospadias, Chapter

121, pp 1531-1553

3 Baskin LS, Duckett JW, Synder M (1994), Changing concepts of hypospadias curvature lead to more onlay island flap procedures J Urol., 151:pp 191 -6

4 Baskin LS, Erol A, Li YW (1998), Anatomical studies of hypospadias J Urol., 160:pp 1108

5 Baskin LS, Duckett JW (1994), Dorsal tunica albuginea plication for hypospadias curvature J Urol., 151:pp 1668-1671

6 Braga LH, Khoury AE, Farhat WA (2008), Ventral pnile lengthening versus dorsal plication for severe ventral curvature

in children with proximal hypospadias J Urol., 180, pp

1743-1748

7 Chertin B, Farkas A (2004), Dorsal tunica albuginea plication to correct congenital and acquired penile curvature: a long term follow up BJU Int, 93:pp 379

8 Cook A, Khoury AE (2005), A multicenter evaluation of technical preferences for primary hypospadias repair J Urol

174 :pp 2354-7

9 Devine CJ, Horton CE (1975), Use of dermal graft to correct chordee, J Urol., 113:pp 56

10 Duckett JW (1995),The current hype in hypospadiology.Br J Urol.76:pp 1-7.

11 Gershbaum MD, Hanna MK (2002), A case for two stage repair

of perineoscrotal hypospadias with severe chordee J Urol., 168:pp 1727

12 Gittes RF, McLaughlin AP (1974), Injection technique to induce penile erection J Urol., 4:pp 473

13 Glenister TW (1954), The origin and fate of the urethral plate in man J Anat., 88:pp 413

14 Hollowell JG, Keating MA, Snyder HM, Duckett JW (1990), Preservation of the urethral plate in hypospadias repair J Urol.,143:pp 98

15 Hollowell JG, Keating MA, Snyder HM, Duckett JW (1990), Preservation of the urethral plate in hypospadias repair J Urol,143:pp 98

16 Kaplan GW, Lamm DL (1975), Embryogenesis of chordee.J Urol.,114:769

17 Mollard P, Castagnola C (1994), Hypospadias: the release of the chordee without dividing the urethral plate and onlay island flap J Urol,152:pp 1238-1240

18 Nesbit RM (1965), Congenital curvature of the phallus: report

of three cases with description of corrective operation J Urol, 93:pp.230

19 Pierre M (2004), Current concept on hypospadiology.BJU Int.93:pp 26-34

20 Selcuk Y, Erol G (2006), Midline dorsal plication to repair recurrent chordee at reoperation for hypospadias surgery complication J Urol, 175: pp 600-703

21 Snodgrass W, Nicol B (2011), Tubularized incised plate proximal hypospadias repair: continued evolution and extended applications J P Urol 7:pp 2-9

22 Snodgrass W, Patterson K, Plaire JC et al (2000), Histology of the urethral plate: implications for hypospadias repair J Urol., 164:pp 988

23 Snodgrass W (1994), Tubularized incised plate urethroplasty for distal hypospadias J Urol 151:pp 464-465

Trang 9

24 Tekgul S, Riedmiller H, Dogan HS, Hoebeke P, Kocvara R,

Nijman R, Radmayr C, Stein R (2013), Guidelines on Pediatric

Urology ESPU and EAU

25 Wiener JS (1997), Comparison of onlay and tubularized island

flaps of inner preputial skin for the repair of proximal

hypospadias J Urol ; 158 :1172-4

Ngày nhận bài báo: 24/08/2015 Ngày phản biện nhận xét bài báo: 25/08/2015 Ngày bài báo được đăng: 01/10/2015

Ngày đăng: 22/01/2020, 05:53

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm