1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Tỷ lệ bệnh da hiện mắc và các yếu tố liên quan của học sinh trường THCS Lê Văn Tám, Quận Bình Thạnh, TP.HCM

7 144 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 7
Dung lượng 331,44 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mụn trứng cá và các bệnh da khác gây những quan tâm lo lắng của học sinh PTCS, từ 12- 15 tuổi, bắt đầu thời kỳ dậy thì. Vì vậy, nghiên cứu được thực hiện nhằm xác định tỷ lệ hiện mắc của bệnh da và các yếu tố liên quan như các chế độ sinh hoạt hàng ngày, kiến thức, thực hành về bệnh da, ở học sinh THCS.

Trang 1

TỶ LỆ BỆNH DA HIỆN MẮC VÀ CÁC YẾU TỐ LIÊN QUAN

CỦA HỌC SINH TRƯỜNG THCS LÊ VĂN TÁM, Q.BÌNH THẠNH, TP HCM

Trần Thị Hoài Hương*, Lê Ngọc Diệp**

TÓM TẮT

Mở đầu: Mụn trứng cá và các bệnh da khác gây những quan tâm lo lắng của học sinh PTCS, từ 12- 15

tuổi, bắt đầu thời kỳ dậy thì (1,2) Những vấn đề về da được chăm sóc, điều trị sớm và đúng sẽ làm giảm các di chứng và tránh được những biến chứng của bệnh và tránh những tác hại không mong muốn do tự ý sử dụng thuốc

Mục tiêu nghiên cứu: Xác định tỷ lệ hiện mắc của bệnh da và các yếu tố liên quan như các chế độ sinh hoạt

hàng ngày, kiến thức, thực hành về bệnh da, ở học sinh THCS

Phương pháp nghiên cứu: mô tả cắt ngang: Bs chuyên khoa Da Liễu khám bệnh da Học sinh trả lời bảng

câu hỏi

Kết quả: Tổng cộng có 420 học sinh THCS tuổi 12 – 15 được khám Tỷ lệ chung của bệnh da là 63,1% Tỉ

lệ học sinh nữ và nam mắc bệnh lần lượt là 66,2% và nam 59,3%.Trong đó, phổ biến nhất là mụn trứng cá (97,7%) và bệnh chàm (2,6%) Các bệnh da khác như nấm da, nevus, viêm nang lông, viêm da tiết bã, rạn da, lang ben, chiếm tì lệ không đáng kể Có 34,4% nữ và 22 % nam mắc bệnh mtc trước 12 tuổi Thời gian bị mụn hơn 1 năm tính đến thời điểm nghiên cứu, trong đó tỉ lệ nữ và nam là 47,7% và 32,4% Tỉ lệ học sinh có người thân trong gia đình từng bị mụn trứng cá là 27,9%.Tỉ lệ bệnh mtc của nhóm học sinh với tiền sử gia đình mắc bệnh này cao gấp 2,13 lần so với nhóm học sinh không có tiền sử gia đình Mức độ mtc; nhẹ, trung bình, nặng là 46,7%, 47,1%, và nặng (6,2%) Trong số bệnh mtc nặng, nam chiếm tỉ lệ cao hơn nữ Trong số học sinh nam, có

sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa tỉ lệ mtc và các khối lớp (p<0,05) Các khối lớp càng lớn thì càng mắc mtc nhiều hơn Học sinh nữ có thực hành chăm sóc da tốt hằng ngày mắc mtc chỉ bằng 0,86 lần so với học sinh nữ chăm sóc da chưa tốt (p<0,05) Có sự liên quan giữa bệnh mụn trứng cá và chế độ ăn

Kết luận: Tỷ lệ bệnh da là 63,1% Giới nữ 66,2% Giới nam 59,3% Mụn trứng cá chiếm ưu thế tuyệt đối

tỷ lệ là 61,6%, nữ 65,4%, nam là 57,1% Từ kết quả nghiên cứu có hướng thiết kế các chương truyền thông giáo dục các em học tự chăm sóc da, và làm tiền đề cho các nghiên cứu về bệnh da sau này

Từ khóa: bệnh da, mụn trứng cá, chàm, nấm da, viêm da tiết bã

ABSTRACT

PREVALENCE OF SKIN DISEASES AND RELATED FACTORS IN STUDENTS OF LE VAN TAM

JUVENILE HIGH SCHOOL, BINH THANH DISTRICT, HO CHI MINH CITY, 2011

Tran Thi Hoai Huong, Le Ngoc Diep

* Y Hoc TP Ho Chi Minh * Vol 16 - Supplement of No 1 - 2012: 330 - 336

Background: Acne and other skin diseases are important concerns of the juvenile school students, who are

usually in their puberal period Early diagnosis and treatment and good care of skin problems possibly reduce

severe complications thus avoiding side effects of self using drugs

Objectives: Identifying the prevalence and related fators of skin diseases such as habits, knowledge and skills

of skin care in this group of population

* Bệnh viện Da Liễu TP.HCM ** Bộ môn Da Liễu – ĐHYD TP HCM

Trang 2

Methods: A cross-setional study was performed Students were examined by dermatologist and were asked

to fill out a questionaire sheet

Result: Total 420 students, 12 – 15 years of age, were enrolled Skin lesion ratio was 63.1% Females and

males with skin disease were 66.2% and 59.3%, respectively, in which, the predominant diseases were acne vulgaris (61.6 %) and eczema (2.6%) Other skin diseases such as tinea, foliculitis, seborrheic dermatitis, striae, pityriasis versicolor accounted for low ratios 34.4 % of females and 22% of males had acne before 12 years of age 47.7% of females and 32.4% of males had been suffering from acne over one year 27.9% of students with acne had family history with this disease The ratio of acne in the students with acne family history was 2.13 fold higher than that of the ones without acne family history Clinincal-based grades were: 46.7% mild, 47.1% moderate, 6.2% severe Of the severe grade, the ratio of males was higher than that of female There was significant relation (p<0.05) among male students of different school grades and ratios of acne Male students of higher school grades had acne more frequently Female students who took good care of their skin were less frequent (0.86 fold) to have acne as compared with ones who never (rarely) took care of their skin There were significant

relations between acne and diet

Conclusions: Skin disease ratio was 63.1% Females were 66.2% Males were 59.3% Acne vulgaris was

the most frequent disease with the ratio of 61.6% These data may be useful to develop not only the guildeline of

skin care for students but also future research of skin disease

Keywords: skin diseases, acne vulgaris, eczema, tinea, seborrheic dermatitis

ĐẶT VẤN ĐỀ

Đa số các bệnh da thường gặp không ảnh

hưởng đến tính mạng, nhưng thường gây

những cảm giác khó chịu như ngứa, đau, rát,

cũng như những tổn thương cấu trúc da và

nếu không được điều trị, chăm sóc đúng cách,

có thể để lại những di chứng là những thay

đổi màu sắc và các loại sẹo lồi hoặc lõm trên

da(4), điều này thường gây lo lắng và các phản

ứng khác nhau đặc biệt ở lứa tuổi dậy thì 12-

15 tuổi(11), mà đặc biệt (mtc) thường được xem

là bệnh của lứa tuổi thanh thiếu niên(4), mtc ở

mức độ trung bình và nặng có thể để lại

những mức độ sẹo khác nhau ảnh hưởng

nặng nề lên thẩm mỹ da và tâm lý(1,4,6)

Với mong muốn tìm hiểu mô hình bệnh

ngoài da ở học sinh THCS chúng tôi tiến hành

nghiên cứu “Tỷ lệ bệnh da hiện mắc và các yếu

tố liên quan của học sinh trường trung học cơ sở

(THCS) Lê Văn Tám, Quận Bình Thạnh,

TP.HCM, năm 2011”, nhằm tìm hiểu về tỷ lệ

bệnh da ở các em học sinh lứa tuổi 12-15, góp

phần đánh giá tình hình bệnh da và các yếu tố

liên quan, làm bước đầu cho những nghiên cứu

xa hơn về chăm sóc sức khoẻ ban đầu cho bệnh

da ở học sinh và cho những nghiên cứu chuyên

về bệnh da trong cộng đồng sau này

Mục tiêu nghiên cứu

Mục tiêu tổng quát

Xác định được tỷ lệ bệnh da hiện mắc và các yếu tố liên quan về bệnh da của học sinh trường trung học cơ sở Lê Văn Tám quận Bình Thạnh TP.HCM

Mục tiêu chuyên biệt

Xác định được tỷ lệ bệnh da hiện mắc tại trường trung học cơ sở Lê Văn Tám Quận Bình Thạnh

Xác định được tỷ lệ từng loại bệnh da và các loại bệnh da ưu thế

Xác định được các yếu tố liên quan: cách chăm sóc da hàng ngày và kiến thức thực hành

về các bệnh da

ĐỐI TƯỢNG - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Mô tả nhóm đối tượng nghiên cứu

Đối tượng mục tiêu

Thanh thiếu niên độ tuổi 12 - 15

Đối tượng nghiên cứu

Trang 3

Học sinh đang theo học tại trường THCS Lê

Văn Tám, quận Bình Thạnh, TP.HCM được

chọn

Địa điểm và thời gian nghiên cứu

Địa điểm: trường THCS Lê Văn Tám, quận

Bình Thạnh, TP.HCM, tháng 5 năm 2011

Tiêu chí chọn vào

Học sinh đang theo học tại 4 khối lớp của

trường, đồng ý tham gia nghiên cứu

Tiêu chí loại ra

Học sinh không đảm bảo tình trạng sức

khỏe tại thời điểm khảo sát Đối tượng không

đúng tuổi

Phương pháp nghiên cứu

Thiết kế nghiên cứu

Nghiên cứu cắt ngang mô tả

Cỡ mẫu nghiên cứu

Với mục đích xác định tỷ lệ hiện mắc

2

2 2 /

1 ( 1 )

d

p p Z

n    

n: cỡ mẫu nghiên cứu Z: Trị số tới hạn của độ tin cậy

(Z=1,96) : Xác xuất sai lầm loại I (=0,05) p: Tỷ lệ bệnh

da trong học sinh, tỷ lệ này chưa biết nên lấy=0,5 (để đạt cỡ

mẫu lớn nhất) d: sai số ước lượng (d=0,05) Số mẫu tối

thiểu cần đạt: 387 học sinh Cộng thêm 10% dự trù mất

mẫu, số mẫu thực tế: 425 học sinh

Phương pháp chọn mẫu

Trường phổ thông cơ sở Lê Văn Tám có 4

khối lớp, mỗi lớp có # 40-50 học sinh Tổng số

mẫu là ≥387, chọn ngẫu nhiên mỗi khối 3 lớp,

khám mỗi khối đến #100 em

Thu thập dữ kiện

Đo chiều cao, cân nặng Khám phát hiện

bệnh, chẩn đoán, lập bệnh án Trong trường hợp

bệnh khó chẩn đoán hội chẩn với Bộ môn Da

liễu Phát câu hỏi điều tra tự điền

Xử lý và phân tích số liệu

Đánh mã bộ câu hỏi Nhập số liệu bằng

phần mềm Epi Data Xử lý số liệu bằng phần

mềm Stata 10

Trình bày số liệu bằng phần mềm Microsoft Word

Mô tả: bằng tần số và tỷ lệ (%)

Phân tích: dùng PR với khoảng tin cậy (KTC) 95% để xác định sự liên quan giữa các yếu tố

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

Nghiên cứu tại trường THCS Lê Văn Tám, Quận Bình Thạnh thu nhận 425 mẫu, loại bỏ 5 mẫu không đủ tiêu chuẩn, số mẫu còn lại để phân tích là 420

Đặc tính của mẫu nghiên cứu

Bảng 1: Tần số và tỷ lệ các đặc tính

Nội dung Tần số (n = 420) Tỷ lệ %

Tỷ lệ hiện mắc bệnh da

Bảng 2: Tần số và tỷ lệ mắc bệnh da hiện tại của học

sinh

Nội dung Tần số(n=420) Nữ(n=231) Nam(n=189)

Bệnh 265 (63,1) 153 (66,2) 112 (59,3

Không bệnh 155 (36,9) 7 (33,8) 77 (40,7)

Nhận xét: Trong 420 học sinh, có 265 học

sinh hiện đang mắc các bệnh ngoài da, chiếm 63,1% Trong đó, số nữ bị bệnh chiếm 66,2%

và ở nam là 59,3%

Xác định bệnh da ưu thế: Mụn trứng cá

Bảng 3: Tần số và tỷ lệ nam và nữ mắc bệnh mụn

trứng cá

Nội dung Tần số (n=420) Nữ (n=231) Nam

(n=189)

Bệnh 259 (61,6) 151 (65,4) 108 (57,1)

Không bệnh 161 (38,4) 80 (34,6) 81 (42,9)

Nhận xét:, Có 259 học sinh hiện đang mắc

bệnh mụn trứng cá trong tổng số 420 học sinh, chiếm tỷ lệ 61,6%, nữ bị mụn trứng cá chiếm

65,4% và ở nam 57,1%

Trang 4

Bảng 4: Tần số và tỷ lệ nam nữ các khối lớp mắc

bệnh mụn trứng cá

Nội dung Tần số

(n=259) Nữ (n=151) Nam (n=108)

Lớp 6 (n=125) 55/125 (44) 37/62 (59,7) 18/63 (28,6)

Lớp 7 (n=102) 66/102 (64,7) 32/53 (60,4) 34/49 (69,4)

Lớp 8 (n=103) 74/103 (71,8) 39/56 (69,6) 35/47 (74,5)

Lớp 9 (n=90) 64/90(71,1) 43/60 (71,7) 21/30 (70)

Nhận xét:Trong 259 trường hợp mắc bệnh

mụn trứng cá, tỷ lệ mắc bệnh ở các khối lớp 7, 8

và 9 cao (>60%) Trong đó, nam sinh lớp 8 là

nhóm có tỷ lệ mắc bệnh mụn trứng cá cao nhất

(74,5%), kế đến là nhóm nữ lớp 9 và nam sinh

lớp 9 (>70%) Nhóm có tỷ lệ mắc thấp nhất là

nam lớp 6 (28,6%)

Bảng 7: Phân loại mức độ lâm sàng mụn trứng cá

Nội dung Tần số

(n=259) Nữ (n=151)

Nam (n=108)

Trung bình 122 (47,1) 72 (47,7) 50 (46,3)

Nhận xét: Đánh giá mức độ lâm sàng mụn

trứng cá, nhận thấy:

Xét mức độ mụn trên 259 học sinh, nhận

thấy, đa số các trường hợp chỉ ở mức độ nhẹ và

trung bỉnh (≈ 47%),có một số ít bị nặng (6,2%)

Mức độ này cũng tương đương khi xét riêng

từng nhóm nam và nữ

Sự liên quan giữa mắc bệnh mụn trứng cá với

tiền sử gia đình

Đặc điểm Không bệnh Bệnh PR

(KTC 95%) P

Tần số Tỷ lệ Tần số Tỷ lệ

Không 161 53,1 142 46,9 2,13(1,89

– 2,4)

<0,0

5

Nhận xét: Có sự liên quan có ý nghĩa thống

kê (p<0,05) giữa tiền sử mắc bệnh da của người

thân với hiện mắc bệnh da HS tiền sử gia đình

có bệnh mụn trứng cá mắc bệnh gấp 2,13 lần so

với tiền sử gia đình không mắc bệnh

Sự liên quan giữa bệnh mtc với ăn đồ ngọt

Đặc

điểm

Không bệnh Bệnh PR

(KTC 95%) P

Tần số Tỷ lệ Tần số Tỷ lệ

Không 126 44,1 160 55,9 1,32 (1,14 –

1,52)

<0,0

5

Nhận xét: Có sự liên quan có ý nghĩa thống

kê (p<0,05) giữa ăn đồ ngọt (bánh, kẹo) hằng ngày với mắc bệnh Kết quả học sinh ăn đồ ngọt hằng ngày mắc bệnh gấp 1,32 lần so với học sinh không ăn hằng ngày

BÀN LUẬN Các đặc tính

Cỡ mẫu ban đầu ước lượng khảo sát là 425 học sinh, trong quá trình thực hiện, qua giai đoạn phân lọc, còn lại 420 học sinh được khảo sát

Tỷ lệ phân bố nam nữ trong từng khối lớp nói riêng và trong mẫu chung là tương đối đều

Tỷ lệ nữ và nam trong nghiên cứu không chênh lệch nhiều nữ (55%) so với nam (45%)

Tỷ lệ hiện mắc bệnh da

Nghiên cứu xác định được tỷ lệ bệnh da ở học sinh học sinh THCS 63,1%, nữ chiếm 66,2%

và ở nam là 59,3% Trong đó mtc chiếm ưu thế tuyệt đối 97,7%, tỷ lệ ở 2 giới gần tương đương nhau nữ 65,4% và ở nam 57,1%, các bệnh còn lại theo tỷ lệ lần lượt giảm dần là chàm (2,6%), lang ben 0,8%, rạn da 0,8%, viêm da tiết bã, viêm nang lông, nấm da,… Đây là những bệnh thường gặp trong độ tuổi họat động thể lực, theo tác giả W.K Fung tỷ lệ bệnh da thường gặp nhất ở học sinh trung học là mụn trứng cá và chàm, còn ở độ tuổi tiểu học là chàm và nevus bẩm sinh, NC của Sunil Dorga(10) ở Ấn Độ tuổi

từ 6-14 tỷ lệ bệnh chàm là 5,2%, theo WHO(13) tỷ

lệ bệnh chàm ở các nước đang phát triển là 0-5%, trong nghiên cứu này tỷ lệ bệnh chàm thu được (2,6%), thấp hơn các nghiên cứu khác nhưng nằm trong tỷ lệ trung bình của WHO Nhìn chung số liệu tỷ lệ bệnh da thu được trong nghiên cứu này tương đương với các tài liệu trong và ngoài nước trong thời gian gần đây, đặc biệt khẳng định thêm mtc là bệnh da đặc trưng cho độ tuổi dậy thì với độ lưu hành bệnh rất cao so với những dịch bệnh khác có thể gặp trong cộng đồng, vấn đề nghiên cứu thiết lập một chương trình chăm sóc da cho lứa tuổi này là cần thiết

Trang 5

Tỷ lệ hiện mắc bệnh da

Giới tính

Ảnh hưởng của giới tính lên mtc: trong

nghiên cứu này tỷ lệ mtc ở nữ cao hơn nam một

chút (65,4% so với 57,1%), tỷ lệ này chênh lệch

không nhiều trong khi tỷ lệ nữ tham gia NC

cũng nhỉnh hơn nam nữ là 55% nam 45%, Giới

tính không ảnh hưởng lên mụn trứng cá cũng

được kết luận trong Nc của tác giả S

Zahra Ghodsi ở Iran(11) tỷ lệ MTC là 93,3, 94,4%

cho nam và 92,0% cho trẻ em gái

Các yếu tố lâm sàng

Vị trí bị mụn chủ yếu là ở mặt (95%) Do đó

mà mắc mtc thường ảnh hưởng nhiều đến tâm

lý học sinh(9,10)

Về loại mụn trứng cá, chủ yếu thường gặp là

các loại mụn đầu trắng, đầu đen (75,7% và 57,9),

tỷ lệ mụn mủ cũng chiếm tỷ lệ tương đối cao

(47,9%) Đáng chú ý, một số trường hợp bị mụn

nặng hoặc nốt sâu (6,2% và 0,8%) Đây là những

bệnh cảnh rất nặng, chỉ thường gặp ở những

thanh niên độ tuổi 18 trở lên(3) Các bệnh cảnh

mụn nặng này nếu không được điều trị tốt sẽ để

lại các loại sẹo xấu

Về sẹo do mụn thường gặp là sẹo lõm và sẹo

thâm (18,1% và 17,7%).Trong khi tỷ lệ mtc mức

độ nặng chỉ chiếm 6,2 %, như vậy không chỉ mtc

mức độ nặng mà các mức độ khác vẫn có thể để

lại di chứng

Vấn đề có “cần chữa trị bệnh ngay” khi bị

bệnh hay không, với tỷ lệ đồng ý (83,1%) cho

thấy nhận thức rất tốt của các em trong vấn đề

điều trị bệnh Số còn lại 14% các em cho rằng

bệnh từ từ chữa và 2,9% cho rằng không cần

chữa trị tuy là con số không lớn nhưng cần giúp

các em hiểu thêm về tính chất các bệnh da Và có

hướng bổ xung về phần mảng nhận thức này

trong kế hoạch truyền thông sau này

Bệnh Viện Da Liễu được đa số lựa chọn đi

khám bệnh, ngoài ra nơi các em chọn còn là các

bệnh viện công có khoa khám da (76%), phòng

mạch tư bác sĩ chuyên khoa (15,7%) Tỷ lệ các

em không biết là 13,3%, việc này có thể giải

thích là do các em thường được cha mẹ dẫn đi bệnh viện khi mắc bệnh nên các em không biết hoặc không nhớ tên nơi mình được khám Kết quả của khảo sát với tỷ lệ trả lời đúng cao cho từng kiến thức riêng lẻ, nhưng kết quả tổng hợp kiến thức chung ngược lại, chỉ 39% các

em có kiến thức tổng hợp tốt, 61% các em có kiến thức chưa tốt, cho thấy kiến thức rời rạc chưa có hệ thống vì hiện tại chưa có chương trình chuẩn nào đầu tư cho vấn đề này

Nguồn thông tin mà các em học sinh tiếp cận chủ yếu từ TV, đài phát thanh (68,4%), sách báo (39,4%), internet và gia đình (khoảng 44%)

và từ bạn bè (23%) Từ những kết quả khảo sát

có hướng sử dụng phương tiện truyền thông thích hợp cung cấp thông tin cho các em sau này

Tương tự khi khảo sát về nơi điều trị bệnh

da, đa phần các em chọn nơi điều trị mụn trứng

cá là Bệnh Viện Da Liễu hoặc những bệnh viện công có khoa khám da Một số ít chọn nơi khám

là nhà thuốc tây (10,5%) và 23,6% không biết nơi nào điều trị mụn trứng cá tương tự như trường hợp các bệnh da kể trên Về kiến thức chung về mụn trứng cá, tỷ lệ học sinh có kiến thức đúng cũng khá thấp (31,7%) so với số học sinh có kiến thức chung chưa đúng (68,3%)

Qua khảo sát các kiến thức, cho thấy trong công tác truyền thông, giáo dục sức khỏe, vấn

đề đặt ra không đơn thuần là độ chính xác của thông tin mà còn phải chú ý đến việc cung cấp kiến thức có hệ thống, cách tiếp cận dễ gần, dễ hiểu, dễ tìm khi cần, giúp các em nhận thức đúng, biết cách xoay sở với bệnh da của chính mình, thậm chí giúp gia đình và cộng đồng

Sự liên quan với sinh hoạt hằng ngày

Ăn uống hằng ngày: Có sự liên quan giữa

bệnh mụn trứng cá và chế độ ăn(p< 0,05) ở nghiên cứu này với các loại thức ăn như; ngọt, chất béo, trái cây, nước uống tương tự 1 số nghiên cứu gần đây(6)

Trong NC này học sinh có tiền sử gia đình

có bệnh mụn trứng cá mắc bệnh gấp 2,13 lần so với tiền sử gia đình không mắc bệnh

Trang 6

Kết quả cho thấy, học sinh nữ chăm sóc da

đúng hằng ngày mắc bệnh chỉ bằng 0,86 lần so

với học sinh nữ chăm sóc da không đúng Với

kiến thức và thực hiện chăm sóc da tốt có khả

năng góp phần dự phòng xuất hiện bệnh(10)

Hạn chế của đề tài

Khảo sát các yếu tố chỉ phát biểu ở mức ghi

nhận mối liên quan, không phát biểu mang tính

nhân quả Mẫu là từ trường THCS Lê Văn Tám

là trường điểm lớn của quận Bình Thạnh, nhưng

cũng chưa thể đại diện cho TP HCM, chỉ có thể

ghi nhận được phần nào mô hình bệnh, khởi

đầu cho những dự kiến những chương trình

chăm sóc da ở học sinh và hướng nghiên cứu

sau này

KẾT LUẬN

Nghiên cứu khảo sát trên 420 học sinh

trường phổ thông THCS Lê Văn Tám, quận Bình

Thạnh, TP.HCM, kết quả thu nhận đã trả lời

được cho câu hỏi nghiên cứu và thỏa mãn các

mục tiêu ban đầu đề ra:

Tỷ lệ hiện mắc mắc các bệnh ngoài da, chiếm

63,1% Giới nữ 66,2% Giới nam 59,3%

Tỷ lệ và các thể bệnh da gồm; nấm da 0.4%,

nevus 0.4%, viêm nang lông 0.4%, viêm da tiết

bã 0.4%, rạn da 0.8%, lang ben 0,8%, chàm 2,6%,

mụn trứng cá 97,7% Tỷ lệ hiện mắc bệnh mụn

trứng cá 61,6%, nữ 65,4%, nam là 57,1% (trong

tổng số bệnh da 63,1%) Bệnh da ưu thế được

xác định trong nghiên cứu này là bệnh mụn

trứng cá

34,4% nữ sinh mắc bệnh mụn trứng cá trước

12 tuổi, thứ 2 là thời điểm 12 tuổi tỷ lệ 33,1% ở

nữ và 29,6% ở nam

Thời gian bị mụn hơn 1 năm tính đến thời

điểm nghiên cứu, nữ 47,7%, nam 32,4%

27,9% số học sinh có người thân từng bị

mụn trứng cá 37% học sinh có sử dụng thuốc

điều trị mụn

Tỷ lệ da nhờn vùng chữ T chiếm tỷ lệ cao

nhất (39,8%), nữ 37,1%, nam 42,5%

Mức độ lâm sàng mụn trứng cá; nhẹ 46,7% trung bình 47,1%, nặng (6,2%), nam chiếm 11,1%

và nữ là 2,6%

Có sự liên quan có ý nghĩa thống kê (p<0,05) giữa học sinh nam các khối lớp và mắc bệnh, kết quả cho thấy học sinh nam các khối lớp càng lớn (lớp 8, 9) thì càng mắc bệnh nhiều hơn so với nhóm nam lớp 6

Học sinh có tiền sử gia đình có bệnh mụn trứng cá mắc bệnh gấp 2,13 lần so với tiền sử gia đình không mắc bệnh

Học sinh nữ có thực hành chăm sóc da tốt hằng ngày mắc bệnh chỉ bằng 0,86 lần so với học sinh nữ chăm sóc da chưa tốt

Có sự liên quan có ý nghĩa thống kê (p<0,05) giữa ăn thức ăn nhiều dầu mỡ, ăn rau, ăn trái cây, dùng đồ ngọt, uống đủ nước và chăm sóc

da đúng cơ bản hằng ngày với mắc bệnh Cụ thể

Học sinh ăn thức ăn nhiều dầu mỡ mắc bệnh

gấp 1,37 lần so với học sinh không ăn nhiều

Học sinh ăn rau hằng ngày mắc bệnh chỉ bằng 0,78 lần so với học sinh không ăn hằng ngày

Học sinh ăn trái cây hằng ngày mắc bệnh chỉ bằng 0,84 lần so với học sinh không ăn hằng ngày

Học sinh ăn đồ ngọt hằng ngày mắc bệnh gấp 1,32 lần so với học sinh không ăn hằng ngày

Học sinh uống đủ từ 1,5 – 2 lít nước hằng ngày mắc bệnh chỉ bằng 0,78 lần so với học sinh không uống đủ

Học sinh nữ chăm sóc da đúng hằng ngày mắc bệnh chỉ bằng 0,86 lần so với học sinh nữ chăm sóc da không đúng

ĐỀ XUẤT – KIẾN NGHỊ

- Cần có một đầu tư biên soạn những nội dung chuẩn, truyền thông trên những kênh thông tin chính thống một cách có hệ thống về chăm sóc, dự phòng và hướng điều trị cho bệnh

da và mtc ở độ tuổi 12 – 15 và tuổi thanh thiếu niên nói chung Bổ xung kiến thức một số bệnh

Trang 7

da thông thường, nơi khám chữa bệnh đúng khi

cần chú ý hơn vào một số nhóm nguy cơ cao

như nhóm nam sinh lớp 8

- Chế độ ăn theo tháp dinh dưỡng của Viện

Dinh Dưỡng Quốc Gia, khuyến cáo không ăn

nhiều dầu mỡ, đồ ngọt, dùng đủ rau xanh, trái

cây, uống nước đủ

- Cung cấp thông tin trên các bản tin của nhà

trường, tổ chức các buổi nói chuyện chuyên đề,

thảo luận nhóm về các vấn đề liên quan cho các

em học sinh

- Cung cấp thêm thông tin về mạng lưới y tế,

nơi khám chữa bệnh cho nhân viên nhà thuốc,

các khóa huấn luyện dược tá bán thuốc, để họ

có thể hướng dẫn người dân đến đúng nơi

khám bệnh khi được tham vấn và nhân viên y

tế nhà trường có thể hướng dẫn các em học sinh

và phụ huynh đi khám bệnh đúng nơi cần thiết

Thực hiện những chương trình liên kết phụ

huynh, học sinh, nhà trường, cơ sở khám chữa

bệnh định kỳ, theo dõi khám, chăm sóc da cho

các em Bổ xung cơ số thuốc bôi mtc cho tủ

thuốc y tế nhà trường

- Cần có những nghiên cứu tương tự với

mức độ sâu rộng hơn để trong tương lai có thể

đề xuất những chương trình chăm sóc bệnh da

trẻ em tại học đường, đặc biệt là bệnh mụn

trứng cá trong độ tuổi này hướng tới chuẩn hóa

các biện pháp dự phòng, nâng cao ý thức về sự

cần thiết việc điều trị sớm, kịp thời các bệnh,

nhằm giảm mức độ nặng của bệnh, phòng tránh

di chứng bảo vệ làn da cho các em, góp phần

gìn giữ vẻ đẹp về thể chất và tinh thần cho thế

hệ trẻ trong tương lai

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Aktans.et al (2000), “Anxiety, depression and nature of acne vulgaris in adolescents”, Int J Dermatol; pp.354-7

thời kỳ tuổi trẻ”, “sự tăng trưởng thể chất trẻ em”, Nhi khoa chương trình đại học, NXB Y học, tr 29 – 46

thì”, Sản phụ khoa, NXB Y Học, tr 681 – 685

Epidemiological study of Acne Vulgaris in Hong Kong Adolescents”, ActadermVenereol, Vol.82, pp.104 – 107

5 Hoàng Văn Minh (2004), “một số vấn đề hiện nay về điều trị mụn trứng cá”, Tạp chí Y học TP.HCM, tập 8, phụ bản số 1, nhà xuất bản Y Học, tr.2-4

6 Ferdowsian HR, MD, MPH; Levin S (2010) “Does Diet Really Affect Acne?”, Skin Therapy Letter, Vol 15 Issue, 3, pp.1- 7

7 Fung WK, Lo KK (2000), “Prevalence of skin disease among school children and adolescents in a Student Health Service Center in Hong Kong”, Pediatric Dermatology, Vol.17, Issue 6, pp.440–446

8 Purvis D (2006), “Acne Anxiety, depression, and suicide in teenagers: a cross sectional survey of New-Zealand secondary school students”, J Paediatr Child Health, vol 42, Issue 12, pp.793-796

9 Rigopoulos D et al (2007), “Coping with acne: beliefs and perceptions in a sample of secondary school Greek pupils”, J EurDermatolVenereol, vol 21, Issue 6, pp.806-810

10 Dorga S, and Kumar B (2003), ‘’Epidemiology of skin diseases in

PediatiricDeramatology, Vol.20, Issue 6, pp.470-473

http://www.unfpa.org/swp/2003/english/ch1/

12 Uslu G., Sendur N., Uslu M., Savk E., Karaman G., Eskin M (2008), “Acne: prevalence, perception and effects on psychological health aming adolescent in Aydin, Turkey”, Journal of the European Academy of Dermatology and Venereology, Volume 22, Issue 4, pp.462–469

management of common skin diseases in Children in developing countries”, Epidemiology and management of skin diseases, pp.1-25

http://www.who.int/childadolescenthealth/New_Publications/ch ild_health/dp/whofch_cah_05.12.pdf, accessed March, 2007

Ngày đăng: 22/01/2020, 05:38

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm