Mục tiêu của bài viết khảo sát những đặc điểm của nhóm Bn, mức độ và biểu hiện của những ảnh hưởng từ chứng tăng tiết mồ hôi tay trên các mặt lao động, sinh hoạt, giao tiếp và tâm lý của bệnh nhân. Mời các bạn tham khảo!
Trang 124 KHẢO SÁT NHỮNG ẢNH HƯỞNG VỀ MẶT XÃ HỘI VÀ NGHỀ NGHIỆP
CỦA CHỨNG TĂNG TIẾT MỒ HÔI TAY
Hồ Nam*, Cao Văn Thịnh*
TÓM TẮT
TỔNG QUAN VÀ ĐẶT VẤN ĐỀ: Chứng tăng tiết mồ hôi tay là do gia tăng hoạt động của hệ thần kinh giao cảm Bệnh không nguy hiểm đến tính mạng nhưng gây ra những ảnh hưởng đáng kể về mặt lao động - việc làm và học tập, trong cuộc sống sinh hoạt, giao tiếp và tâm lý của bệnh nhân Trên thế giới cũng như ở Việt Nam đã có nhiều nghiên cứu về chứng tăng tiết mồ hôi tay nhưng chưa có những phân tích cụ thể về những tác hại của bệnh đối với cuộc sống của bệnh nhân
MỤC TIÊU: khảo sát những đặc điểm của nhóm Bn, mức độ và biểu hiện của những ảnh hưởng từ chứng tăng tiết mồ hôi tay trên các mặt lao động, sinh hoạt, giao tiếp và tâm lý của bệnh nhân
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU: Tiền cứu, cắt ngang Bệnh nhân là các trường hợp có chứng tăng tiết mồ hôi tay được khám và điều trị tại Bv Bình Dân TP.HCM trong một năm (9/2002 – 8/2003)
KẾ`T QUẢ NGHIÊN CỨU: Có gặp 250 Bn tăng tiết mồ hôi tay, với tỉ lệ nam và nữ ngang nhau, độ tuổi trung bình 24-25 tuổi Phần lớn Bn mắc bệnh từ nhỏ, số còn lại trung bình đã mắc bệnh được 10-11 năm 50% các Bn đi khám và điều trị qua việc nắm được các thông tin từ báo và các tạp chí y khoa 29.6 % Bn trong gia đình có từ 2 người mắc bệnh trở lên Đa số các Bn đã từng được điều trị bằng các phương pháp Đông và Tây y
¼ các Bn có những hiểu biết sơ bộ về phẫu thuật nội soi mặc dù có 62% trường hợp đi khám chuyên khoa ngay khi có thông tin liên quan đến việc điều trị bệnh.98,8% các Bn ghi nhận bệnh có những ảnh hưởng đáng kể đến việc làm và học tập; 87,6% các Bn có những ảnh hưởng của bệnh đến sinh hoạt và cuộc sống, và tất cả các Bn (100%) đều có những ảnh hưởng trong giao tiếp và tâm lý
BÀN LUẬN VÀ KẾT LUẬN: Nhìn chung tới nay có rất ít các nghiên cứu phân tích độc lập về những ảnh hưởng của chứng TT/MH/T đối với bệnh nhân Bn có chứng tăng tiết mồ hôi tay chủ yếu đang ở độ tuổi lao động, tỉ lệ Bn nam và nữ ngang nhau Phần lớn Bn có thời gian mắc bệnh kéo dài và 29.6% Bn mắc bệnh có tính chất gia đình Các phương tiện thông tin đã có vai trò quan trọng trong tuyên truyền điều trị bệnh Mặc dù chỉ có ¼ số các Bn hiểu biết về phẫu thuật nội soi nhưng 62% Bn đi khám chuyên khoa ngay khi có thông tin về điều trị bệnh Những ghi nhận về ảnh hưởng của bệnh liên quan đến lao động, sinh hoạt, giao tiếp và tâm lý gặp ở hầu hết các Bn Các biểu hiện về những tác hại của bệnh khá phong phú và ở mức độ đáng kể đối với người bệnh Nghiên cứu cho thấy nếu việc chẩn đoán và điều trị chứng TT/MH/T có hiệu quả sẽ có ý nghĩa lớn không những về mặt sức khỏe cho Bn mà còn có nhằm cải thiện về mặt quan hệ xã hội và tâm lý của người bệnh
SUMMARY
STUDY ON SOCIAL AND OCCUPATIONAL EFFECTS OF HYPERHIDROSIS
Ho Nam, Cao Van Thinh* Y Hoc TP Ho Chi Minh * Vol 8 * Supplement of No 1 * 2004: 163 – 171
BACKGROUND: Hyperhidrosis is a disorder characterized by excessive sweating caused by a malfunction
in the sympathetic nervous system The disease is not dangerous but can hamfer ones’ activities of daily living They are many studies on hyperhidrosis worldwide and some in Viet Nam But it doesn’t have concret analysis
* Bộ môn Ngoại tổng quát TTĐT – Khoa lồng ngực - mạch máu BV Bình Dân TP.HCM
Trang 2on harmful affects of patients with hyperhidrosis
AIM: Assessment of characteristies and unfavored effects of hyperhidrosis on the fields of working, activities and psychology of patients
METHOD: Prospective– crossectional study on patients with hyperhidrosis examed and treated in Binh Dan Hospital from 9/2002 to 8/2003
RESULT: We got 25 patient with ratio of male on female =1, the average age =24-25 Most of them have got the disease when they were is in childhood 50% of patients went to see doctors and got treatment when they got information of hyperhidrosis from media communication and newspapers 29,6% cases got ≥ 2 members with hyperhidrosis in the family Most of patients are treated by modern and traditional medicine ¼ cases have knowledge about endoscopic transthoracic sympathetic (TES), 62% cases examed by specialists 98,8% patients reported that hyperdrosis have effected to their jobs and learning 87,6% have been hampered
on their activities and their life All of them have a psychological problem
DISCUSSION AND CONCLUSION: So far, there are few studies on this field Most of patients with hyperhidrosis are on ages of working Rate of male and female is equal Duration acquired diseases is long 29,6% cases have genetic factors Media communication has a role in treatment of disease 62% of patients examed by specialists immediatelly after got information about hyperhidrosis Effects of hypehidrosis are plentiful and rather significant to the patients If patients are informed and treated early, they will be improved not only for their health but also in the social and psychological fields
MỞ ĐẦU
Chứng tăng tiết mồ hôi quá mức ở lòng bàn tay,
ở mặt, lưng và đỏ mặt quá mức do gia tăng hoạt
động của hệ thần kinh giao cảm – một hệ thống thần
kinh mà chúng ta không kiểm soát được Hệ thống
thần kinh này trở nên tăng hoạt động với những
hành động được coi trọng đặc biệt, nhất là khi các
hành động này liên quan đến những người khác,
chẳng hạn có sự bối rối, xấu hổ
Tăng tiết mồ hôi tay được coi là một bệnh không
nguy hiểm đến tính mạng nhưng gây nhiều phiền
toái đối với người bệnh trong lao động, sinh hoạt và
giao tiếp xã hội Bệnh để lại những hậu quả đáng kể
về mặt tâm lý Chính vì vậy, với đa số các Bn nhu cầu
điều trị bệnh đã trở nên cấp thiết
Tăng tiết mồ hôi quá mức ở lòng bàn tay có thể
gặp ở mọi lứa tuổi, tuy nhiên đối tượng tập trung
nhiều nhất, cũng như có nhu cầu điều trị cao nhất là
những người đang trong độ tuổi lao động Theo một
số nghiên cứu ở các nước, tần suất mắc bệnh tăng
tiết mồ hôi quá mức ở lòng bàn tay chiếm từ 0,6%
đến 1% trong cộng đồng, tuy nhiên ở Việt Nam chứa
có nghiên cứu nào về vấn đề này(4,8)
Trên thế giới việc nghiên cứu và điều trị chứng tăng tiết mồ hôi quá mức ở lòng bàn tay bắt đầu được lưu ý nhiều từ thập niên 60 (4,6) Đã có khá nhiều phương pháp điều trị bệnh được áp dụng(4,5,8,11) Những năm gần đây người ta đã tiến hành cắt thần kinh giao cảm ngực 2 bên qua ngả nội soi có gây mê toàn thân(1,8) Ở Việt Nam tăng tiết mồ hôi quá mức ở lòng bàn tay được điều trị ngoại khoa từ những năm 1970 tại Bệnh viện Việt Đức Hà Nội bằng phẫu thuật hở, cắt hạch giao cảm ngực hoặc tiêm nước nóng đun sôi vào hạch giao cảm ngực(11), phương này cũng được ứng dụng và theo dõi nghiên cứu ở một số trung tâm y tế khác như BV 175 vào những năm 1980 Từ cuối năm
1996 tại Bệnh viện Bình Dân TP.HCM đã áp dụng phương pháp phẫu thuật cắt thần kinh giao cảm ngực qua ngả nội soi để điều trị chứng tăng tiết mồ hôi quá mức ở lòng bàn tay(4,8) Những năm gần đây kỹ thuật này đã được áp dụng ở nhiều trung tâm ngoại khoa khác trong cả nước và đã có những cải tiến về phương diện gây mê hồi sức, tư thế bệnh nhân (5,8)
Aûnh hưởng nổi bật của chứng tăng tiết mồ hôi tay là gây cho bệnh nhân nhiều sự phiền toái trong lao động, sinh hoạt, giao tiếp Chính các bức xúc xuất phát từ những phiền phức do bệnh gây ra đã thôi thúc
Trang 3người bệnh đi khám và quyết tâm điều trị bệnh Để có
thể đánh giá cụ thể hơn các tác hại của chứng tăng tiết
mồ hôi quá mức ở lòng bàn tay về mặt đời sống xã hội,
cần tiến hành nghiên cứu độc lập những ảnh hưởng
của bệnh trên các khía cạnh công việc lao động, sinh
hoạt, giao tiếp và tâm lý người bệnh Trên cơ sở đó
thúc đẩy các nghiên cứu khác nhằm hoàn thiện việc
chẩn đoán và điều trị bệnh
Dựa vào lý luận và thực tiễn trên chúng tôi
nghiên cứu đề tài này
MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
Mục tiêu tổng quát
Khảo sát những đặc điểm và mức độ ảnh
hưởng của chứng tăng tiết mồ hôi quá mức ở lòng
bàn tay trên các mặt lao động (nghề nghiệp), sinh
hoạt, giao tiếp và tâm lý của bệnh nhân
Mục tiêu cụ thể
Nêu những đặc điểm chung của các bệnh nhân
có tăng tiết mồ hôi quá mức ở lòng bàn tay gặp tại
Bệnh viện Bình Dân TP.HCM
Xác định mức độ ảnh hưởng và những biểu hiện
của chứng tăng tiết mồ hôi quá mức ở lòng bàn tay
trong lao động-nghề nghiệp, sinh hoạt, giao tiếp và
tâm lý của bệnh nhân
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Dân số nghiên cứu
Dân số nghiên cứu gồm tất cả các bệnh nhân có
tăng tiết quá mức mồ hôi ở lòng bàn tay tới Bệnh
viện Bình Dân khám và điều trị trong thời gian một
năm (từ 9/2002 đến 8/2993)
Thời gian nghiên cứu
Nghiên cứu được thực hiện theo 3 giai đoạn
Giai đoạn I: Tập hợp và tham khảo tài liệu liên quan
đến đề tài nghiên cứu Lập hồ sơ ng/ cứu, đồng thời bắt
đầu thu thập Bn để hoàn thiện bệnh án mẫu
Giai đoạn II: Thu thập số liệu theo bệnh án mẫu
đã điều chỉnh và căn cứ vào các tiêu chuẩn chọn
bệnh của nghiên cứu
Giai đoạn III: Xử lý số liệu và lập báo cáo nghiệm thu đề tài
Tiêu chuẩn chọn bệnh và loại trừ
Bệnh nhân đủ tiêu chuẩn tham gia nghiên cứu gồm: Các bệnh nhân có chứng tăng tiết mồ hôi quá mức ở lòng bàn tay (kèm theo, người bệnh có thể có
bị tăng tiết quá mức mồ hôi ở lưng, nách, chân ) Bệnh nhân đồng ý hợp tác, tự nguyện tham gia nghiên cứu (cụ thể là bệnh nhân có sự hợp tác để nhóm nghiên cứu hoàn thành các thông tin của bệnh án mẫu và một số vấn đề khác liên quan)
Một lưu ý của nghiên cứu: đây là nghiên cứu khảo sát, thăm dò tình trạng Bệnh nhân ở giai đoạn trước mổ Do đó việc thăm khám và hỏi bệnh được thực hiện tại phòng khám chuyên khoa hoặc tại phòng tiền phẫu Nghiên cứu cũng chưa đặt vấn đề đánh giá diễn biến phẫu thuật và theo dõi sau mổ Bệnh nhân bị loại trừ khỏi nghiên cứu Bệnh nhân không đồng ý tham gia nghiên cứu, không hợp tác với nhóm nghiên cứu trong việc thăm khám bệnh và hoàn thành bệnh án nghiên cứu Bệnh nhân không có khả năng trả lời các câu hỏi thăm dò liên quan đến bệnh và liên quan đến nghiên cứu
Cỡ mẫu dự kiến và thực tế
Theo dự kiến ban đầu, trong thời gian một năm số bệnh nhân có thể thu thập được tối thiểu là 100 trở lên
Thực tế nghiên cứu, số Bệnh nhân đủ tiêu chuẩn tham gia nghiên cứu đạt 250 bệnh nhân, đảm bảo về số mẫu nghiên cứu
Thiết kế nghiên cứu
Nghiên cứu cắt ngang mô tả Tiền cứu lâm sàng
Xử lý số liệu
Nhập dữ liệu trên máy điện toán với chương trình Excel Trình bày bằng các bảng phân tích dữ liệu
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Trong thời gian một năm, từ 9/2002 đến 8/2003, tại khoa phẫu thuật lồng ngực Bv Bình Dân TP.HCM,
Trang 4đã gặp 250 bệnh nhân có chứng tăng tiết mồ hôi quá
mức ở lòng bàn tay, đủ tiêu chuẩn chọn bệnh tham
gia nghiên cứu
Đặc điểm chung của nhóm bệnh nhân
có chứng tăng tiết mồ hôi quá mức ở
lòng bàn tay được khám và điều trị tại
Bv Bình Dân TP.HCM
Tổng số Bệnh có chứng tăng tiết mồ hôi quá mức
ở lòng bàn tay là 250 trong đó có :
- 128 Bệnh nhân nam (51,2%)
- 122 Bệnh nhân nữ (48,8%)
- Tỉ lệ Bn nam/nữ = 1,05
Tuổi trung bình của các Bệnh nhân có chứng
tăng tiết mồ hôi quá mức ở lòng bàn tay là 24,72 tuổi
- Người lớn nhất là 68 tuổi
- Người nhỏ nhất 13 tuổi
Thời gian mắc bệnh, qua lời khai của Bệnh nhân,
cho thấy 155 Bệnh nhân (62%) bị mắc bệnh từ nhỏ
nhưng không xác định rõ thời gian cụ thể Số Bệnh
nhân còn lại (95 Bệnh nhân, chiếm 38%), xác định
được thời gian mắc bệnh.Thời gian mắc bệnh trung
bình của nhóm này là 10,87 năm
Bảng 1 Khoảng thời gian Bn đã mắc bệnh:
Số bệnh nhân Tỉ lệ
Bn mắc bệnh từ nhỏ nhưng không xác
định được thời gian cụ thể
155 62%
Xác định được thời gian mắc bệnh 95 38%
Về chẩn đoán phát hiện bệnh: với các dấu hiệu
tăng tiết mồ hôi quá mức ở lòng bàn tay, Bệnh nhân
đã tiếp cận khám và điều trị bệnh bằng “phẫu thuật
cắt thần kinh giao cảm ngả nội soi lồng ngực” nhiều
cách khác nhau, và một Bn có thể có 2 lý do cùng lúc
khiến Bn đi khám và điều trị chuyên khoa
Bảng 2 Lý do Bn tới khám chuyên khoa
Lý do Bn
đi khám chuyên khoa
Bệnh nhân Tỉ lệ
Đọc báo hay tạp chí y khoa 125 50% Có người bệnh
đã được điều trị hướng dẫn
90 36%
Đi khám bệnh và Bs giới thiệu khám
chuyên khoa
85 34%
Với 250 Bệnh nhân mắc chứng tăng tiết mồ hôi quá mức ở lòng bàn tay có 74 trường hợp trong gia đình có từ 2 người mắc bệnh trở lên, chiếm tỉ lệ 29,6%
Quá trình điều trị bệnh
Bảng 3 Bệnh nhân đã được điều trị bằng các
phương pháp
Các phương pháp điều trị Số Bệnh nhân Tỉ lệ
Điều trị bằng châm cứu 27 10,80%
Không gặp các trường hợp đã mổ triệt hạch giao cảm ngực hay đã phẫu thuật nội soi lồng ngực cắt thần kinh giao cảm
Bảng 4 Những hiểu biết của Bn về điều trị bệnh bằng
phẫu thuật nội soi lồng ngực cắt thần kinh giao cảm
Số Bệnh nhân Tỉ lệ
Bn có hiểu biết nhất định về phẫu
thuật nội soi
61 24,4%
Bn có cảm giác sợ mổ 102 40,80%
Bệnh nhân khám chuyên khoa
sớm
155 62,00%
Bệnh nhân đã khám chuyên khoa
nhưng chưa điều trị ngay
76 30,40%
Những ảnh hưởng của chứng tăng tiết mồ hôi quá mức ở lòng bàn tay đến lao động (việc làm, học tập), sinh hoạt, tâm lý và giao tiếp của Bệnh nhân
Bảng 5 Những ảnh hưởng của chứng tăng tiết mồ
hôi tay
Những ảnh hưởng của bệnh* Số bệnh
nhân
Tỉ lệ
Ảnh hưởng đến lao động 247 98,8%
Trang 5(việc làm và học tập)
Ảnh hưởng đến sinh hoạt
(trong cuộc sống hàng ngày)
219 87,6%
Ảnh hưởng đến giao tiếp
(trong nghề nghiệp và sinh hoạt)
250 100%
Ảnh hưởng đến tâm lý
Đối với Bn
Đối với vợ (hoặc chồng)
Đối với người khác
250 (10/77Bn)
-
100%
13%
- Tuy nhiên trong N/C này chưa khai thác và phân
loại được mức độ (nặng, trung bình, nhẹ) của từng
ảnh hưởng từ chứng TT/MH/T
Những biểu hiện cụ thể của ảnh
hưởng từ chứng tăng tiết mồ hôi tay
đến lao động (việc làm, học tập), sinh
hoạt, tâm lý và giao tiếp của Bệnh
nhân
Những biểu hiện của ảnh hưởng từ
chứng tăng tiết mồ hôi tay đến lao động
(việc làm và học tập)
Qua khảo sát đã phát hiện được những biểu hiện sau
Với các đối tượng sử dụng viết, phấn hay máy
vi tính Bn cảm thấy
Khó cầm và sử dụng tốt cây viết, phấn
Dễ làm nhòe chữ viết mực, làm dơ bàn phím
Làm việc khó khăn do phải dùng kèm theo giấy
thấm, khăn thấm
Đôi khi gặp một số biến cố như : làm hỏng hoá
đơn giao hàng, bị điện giật
Khi đụng vào phần các phích nối của máy
Đối với các công việc khác
Người lái xe cầm cần lái luôn ướt và khó chịu
Người làm nghề trang điểm cô dâu khó hành
nghề do bị khách hàng trách
Người làm nghề in (giấy, vải) để thấm nhòe hư
sản phẩm
Người làm nghề may đồng phục phải làm thêm
công đoạn (gặt đồ sạch cho khách hàng trước khi giao
hàng)
Một số hậu quả đáng kế
Thất nghiệp (chưa xin được việc làm) do e ngại, không tin mình có thể tham gia được các công việc chân tay
Không xin được việc làm theo đúng ngành nghề mình yêu thích (sử dụng máy vi tính, vẽ, điêu khắc) Bỏ công việc làm vì luôn gặp những khó khăn (từ bản thân công việc hay từ người quản lý)
Buộc lòng phải chuyển việc khác do bệnh tăng tiết mồ hôi quá mức ở lòng bàn tay mà không đảm đương được công việc
Những biểu hiện của ảnh hưởng từ chứng tăng tiết mồ hôi tay đến sinh hoạt (trong cuộc sống hàng ngày)
Qua khảo sát cho thấy
Bn ghi nhận vì có TT/MH/T đã gây cản trở các hoạt động trong sinh hoạt cuộc sống hàng ngày
Khó cầm các đồ vật trong gia đình (nấu ăn, cầm các vật dụng )
Khâu vá (dùng kim chỉ) khó khăn
Luôn để lại những dấu ấn (dấu vết, vết dơ) trên các đồ vật
Một số biến cố và hậu quả đáng kể
Dễ bị điện giật khi sờ vào phích điện
Dễ tuột tay làm vỡ các đồ vật
Với phụ nữ gặp khó khăn để tự trang điểm khi cần thiết
Với các trường hợp tăng tiết mồ hôi tay kèm với tăng tiết mồ hôi chân khi mang dép một quai dễ té ngã
Những biểu hiện của ảnh hưởng từ chứng tăng tiết mồ hôi tay đến giao tiếp (trong nghề nghiệp và sinh hoạt)
Qua khảo sát cho thấy
Khi bàn tay ướt cản trở khi thực hiện
Bắt tay đồng nghiệp, khách hàng, hoặc người thân Giao lưu văn nghệ, ca múa nhạc
Kiểm tra hàng hóa Aûnh hưởng trong quan hệ gia đình
Trang 6Một số ảnh hưởng đáng kể
Bn dễ bị thay đổi tính tình và trở nên “nhút nhát” ,
“dễ bị tổn thương”, “hạn chế giao tiếp và quan hệ”
Bn và người thân có e ngại “mắc bệnh truyền
nhiễm”
E ngại trong quan hệ lứa đôi
Giao động, thiếu chủ động trong công việc
Những biểu hiện của ảnh hưởng từ
chứng tăng tiết mồ hôi tay đến tâm lý
(với Bn, gia đình và người khác)
Qua khảo sát cho thấy
Các biểu hiện
Đối với Bn : Luôn có cảm giác khó chịu, tâm lý
hoang mang mất tự tin (cho rằng mình bị bệnh nặng
khó chữa, nghĩ rằng mình ít có cơ hội tham gia vào
các công việc xã hội ), mặc cảm với mọi người
chung quanh (nghĩ mình bị coi nhẹ, hoặc trở nên vô
ích ), Tạo tâm lý tự ti, tự cô lập (xa lánh bạn bè,
người thân, ngại giao tiếp, luôn chịu thiệt thòi )
Đối với gia đình và những người khác: gây thắc
mắc về chứng bệnh, thiếu tin tưởng vào Bệnh nhân
Một số ảnh hưởng đáng kể
Cảm giác bế tắc trong cuộc sống
Dễ dàng tự chấp nhận những việc làm và cuộc
sống cho dù không ưng ý hay không tương xứng
Đi khám và chữa bệnh bằng bất cứ giá nào, khi
chưa thỏa mãn dễ giao động, không tin vào chuyên
môn và khoa học
BÀN LUẬN
Tăng tiết mồ hôi quá mức ở lòng bàn tay là
chứng bệnh không nguy hiểm nhưng gây nhiều
phiền toái cho người bệnh (4,6) Trong những năm gần
đây trên Thế giới cũng như ở Việt Nam chứng tăng
tiết mồ hôi tay được nghiên cứu trên nhiều phương
diện như gây mê hồi sức(1), phương pháp điều
trị(2,4,5,6), những cải tiến kỹ thuật(8) Tuy nhiên cũng
còn khá nhiều vấn đề khác chưa được đề cập tới
nhiều, đặc biệt ở Việt Nam như tần suất mắc bệnh
trong cộng đồng, phân loại mức độ mắc bệnh, khảo sát tính chất gia đình của bệnh, nghiên cứu độc lập những ảnh hưởng của bệnh dưới các khía cạnh khác nhau và kết quả lâu dài sau phẫu thuật
Trong nghiên cứu này, chúng tôi thu thập dữ liệu (bệnh nhân) từ một Bệnh viện có chuyên khoa phẫu thuật nội soi lồng ngực So với các phương pháp điều trị chứng tăng tiết mồ hôi tay khác, phẫu thuật nội soi lồng ngực cắt thần kinh giao cảm đã ngày một ứng dụng nhiều hơn và hiệu quả hơn(1,5,8)
Xem xét nhóm bệnh nhân tăng tiết mồ hôi tay cho thấy những đặc điểm chung:
Với 250 Bệnh nhân thuộc nhóm nghiên cứu có tỉ lệ Bệnh nhân nam và nữ gần ngang nhau Đa số Bệnh nhân ở độ tuổi lao động, tuổi trung bình 24-25 tuổi Điều này phù hợp với nhận định của các nghiên cứu khác(4,8) Như vậy với những đối tượng Bệnh nhân đang ở tuổi lao động sẽ có những biểu hiện rõ ràng về sự ảnh hưởng của bệnh về mặt lao động, cụ thể là việc làm và học tập Bên cạnh đó cũng cho thấy các đối tượng điều trị bệnh đa số là có sức khỏe ổn định so với các nhóm Bệnh nhân khác
Các Bn tăng tiết mồ hôi tay có thời gian mắc bệnh kéo dài Theo bảng 1 có 62% Bn khai mắc bệnh từ nhỏ, tuy nhiên không có một thời gian cụ thể, đôi khi chỉ là cha mẹ Bn mô tả lại Số còn lại (38%) xác định được thời gian mắc bệnh và thời gian mắc bệnh trung bình khoảng 10-11 năm Trong một số công trình nghiên cứu gần đây chưa nêu ra thời gian Bn mắc bệnh(4,6,8) Có thể lý giải thời gian mắc bệnh tăng tiết mồ hôi quá mức ở lòng bàn tay kéo dài là do bệnh “không thực sự gây nguy hiểm” cho Bn nên không ít trường cố gắng chịu đựng Bên cạnh đó việc điều trị bệnh trong nhiều năm qua chưa mang lại hiệu quả đáng kể Đã có nhiều Bn trải qua nhiều phương pháp điều trị, thậm chí “Đông Tây y kết hợp”, song cũng không có hiệu quả (bảng 3), hoặc kết quả còn hạn chế(8,11)
Một đặc điểm khác đối với nhóm Bn có chứng tăng tiết mồ hôi tay là các Bn rất quan tâm đến
Trang 7những thông tin về điều trị bệnh Mặc dù chưa có các
nghiên cứu trước đây sắp xếp qua khai thác các lý do
khiến bệnh nhân tới khám chuyên khoa và đề nghị
phẫu thuật nội soi lồng ngực, nhưng theo bảng 2, có
tới 50% các trường hợp nhận được thông tin “điều trị
bệnh” qua đọc báo và các tạp chí y khoa; 36% Bn
được những người đã từng bị bệnh và qua điều trị có
hiệu quả giới thiệu; 34% Bn nhờ đi khám tổng quát
rồi các Bác sĩ chuyển khám và điều trị chuyên khoa;
Ngoài ra còn một số trường hợp khác Chúng tôi có
gặp một nam Bn 25 tuổi, Bn cho biết bị bệnh từ nhỏ,
nhưng những năm gần đây càng ngày Bn càng cảm
thấy “khó chịu” hơn, có thể nói cảm giác như tình
trạng bệnh có tăng lên Khi Bn quen thân với “bạn
gái” lúc đầu mọi việc đều tốt đẹp, nhưng sau đó mỗi
khi tiếp xúc “bạn gái” phát hiện tay Bn luôn ướt và rất
lo ngại Rất may cô “bạn gái” đã tới tham vấn “Bác sĩ
của mình” , nhờ đó họ đã cùng nhau tới khám và xin
điều trị chuyên khoa với một lòng tin chắc chắn là
bệnh sẽ thuyên giảm và “không có sứt mẻ gì trong
quan hệ” lứa đôi Cũng còn rất nhiều hoàn cảnh khác
nhau, ví dụ trường hợp một nữ nhân viên thư ký có
chứng tăng tiết mồ hôi tay “luôn làm ướt các bản hợp
đồng ký kết” đã được thủ trưởng giới thiệu và cấp
kinh phí điều trị bệnh đúng chuyên khoa Trong
nhóm các bệnh nhân này chúng tôi không gặp các
trường hợp mổ triệt hạch giao cảm cũ hay phẫu thuật
nội soi lồng ngực tái phát
Tăng tiết mồ hôi quá mức ở lòng bàn tay là một
biểu hiện tương đối rõ của cường giao cảm Một số ít
các nghiên cứu có cho thấy bệnh liên quan đến tính
chất gia đình(4,8) Tuy nhiên với một số mẫu nghiên
cứu nhỏ thì việc khảo sát tính di truyền còn có những
khó khăn nhất định, hơn nữa cần nghiên cứu độc lập
vấn đề này với các tiêu chuẩn chọn bệnh chặt chẽ,
phân chia nhóm Bn theo từng thế hệ và các mối
quan hệ khác nhau Nghiên cứu của chúng tôi gặp
29,6% các trường hợp trong gia đình có từ 2 người
mắc bệnh trở lên Đặc biệt có trường hợp cả gia đình
(Bố Mẹ và hai con, một trai, một gái) đều mắc bệnh,
hoặc trong 3 thế hệ (Oâng Bà, Bố mẹ, và BN) đều có
người mắc bệnh
Như chúng ta đã biết phẫu thuật nội soi nói chung và phẫu thuật nội soi lồng ngực nói riêng mới được cập nhật và phát triển ở Việt Nam(2,5) Chính vì vậy kỹ thuật điều trị chứng tăng tiết mồ hôi quá mức
ở lòng bàn tay cũng chỉ là giai đoạn đầu Tuy nhiên phẫu thuật nôïi soi lồng ngực đã phát huy tác dụng cả trong chẩn đoán và điều trị bệnh (2,4,6,8) Bên cạnh đó phẫu thuật nội soi nói chung cũng còn có những hạn chế nhất định, như những khó khăn trong gây mê hồi sức(1), cần phải có những trang bị phù hợp và tập huấn kỹ càng khi thực hiện các thủ thuật chuyên khoa, và hiện hay chi phí để phẫu thuật nội soi còn khá cao so với mức thu nhập chung của người dân Theo bảng 4, có 24.4% các Bn có những hiểu biết sơ bộ về nội soi (nhờ tìm hiểu qua các phương tiện thông tin đại chứng, sách báo chuyên môn, các chuyên gia y tế ) Tuy vậy cũng còn 40,8% Bệnh nhân sợ mổ Ngoài ra chúng tôi gặp 30,4% các Bn đã đến khám chuyên khoa điều trị tăng tiết mồ hôi tay bằng phẫu thuật nội soi chưa nhập viện phẫu thuật ngay, mặc dù 62% tổng số các các Bệnh nhân đi khám chuyên khoa ngay khi có được các thông tin về khám và điều trị bệnh Những đánh giá đơn lẻ này chưa nói được gì, nhiều nhưng có lẽ sự mới mẻ của phẫu thuật nội soi lồng ngực, những giới hạn trong điều trị tăng tiết mồ hôi kèm theo ở nách, lưng, chân sự tăng tiết mồ hôi bù trừ, và chi phí điều trị đã có liên quan nhất định
Những ảnh hưởng của chứng tăng tiết mồ hôi tay đến lao động, sinh hoạt, giao tiếp và tâm lý của bệnh nhân
Mặc dù có nhiều nghiên cứu về chứng tăng tiết mồ hôi tay(1,5,6,7), nhưng các nghiên cứu này không đi sâu đánh giá những hậu quả của bệnh liên quan đến lao động và cuộc sống của người bệnh
Trong nghiên cứu của chúng tôi, có 98,8% các
Bn thừa nhận chứng tăng tiết mồ hôi tay có ảnh hưởng thường xuyên và đáng kể đến công việc làm và học tập Đặc biệt đa số đối tượng nghiên cứu đang ở độ tuổi, những như cầu về việc làm và cơ hội học tập là những vấn đề rất đáng quan tâm Có lẽ chính vì vậy mà có tới 62% các trường hợp mắc bệnh quyết định đi
Trang 8khám chuyên khoa ngay sau khi có được thông tin liên
quan đến điều trị bệnh bằng phẫu thuật nội soi lồng
ngực (bảng 4) Thực tế bên cạnh việc tìm cách điều trị
bệnh, đa số các Bn “tự thích nghi” bằng cách sử dụng
các loại giấy thấm, khăn thấm và thận trọng khi tiếp
xúc với các đồ vật khi lao động
Với cuộc sống hàng ngày, 87,6% các Bệnh nhân
gặp những cản trở ở nhiều lĩnh vực khác nhau Đặc
biệt đối với phụ nữ, từ những công việc sinh hoạt
bình thường trong gia đình đến những công việc
riêng như trang điểm khi cần thiết đều bị ảnh
hưởng(3,7,9)
Những giao tiếp trong nghề nghiệp và sinh hoạt,
những ảnh hưởng căng thẳng về mặt tâm lý gặp
trong tất cả các trường hợp (bảng 5) Tuy nhiên mức
độ ảnh hưởng có khác nhau tùy theo tính chất của
công việc làm (phải thường xuyên tiếp xúc với đối tác,
khách hàng hay những công việc độc lập ít tiếp xúc
với những người khác)(9), hoặc tùy theo điều kiện
sống sinh hoạt của từng đối tượng Bn Nhưng về mặt
tâm lý đều có thay đổi với chính bản thân Bn và đối
với những người chung quanh Trong số 77 Bn có
chứng tăng tiết mồ hôi tay đã có gia đình, chúng tôi
ghi nhận 10 trường hợp (chiếm 13%) có ít nhiều ảnh
hưởng trong “quan hệ vợ chồng” Nghiên cứu này
chưa tìm hiểu được những ảnh hưởng tâm lý cụ thể
của từng lĩnh vực như tâm lý xã hội, tâm lý nghề
nghiệp, những thay đổi về tâm lý ở nam và nữ(3,7,9)
Những biểu hiện của ảnh hưởng từ
chứng tăng tiết mồ hôi tay:
Nhìn chung những biểu hiện trên từng lĩnh vực
(lao động, sinh hoạt, giao tiếp và tâm lý) do hậu quả
từ chứng tăng tiết mồ hôi tay rất đa đạng Nhiều
nghiên cứu trước đây ít mô tả về vấn đề này và cũng
chưa thống nhất cách phân loại mức độ hay các biểu
hiện của bệnh Tuy nhiên những ghi nhận về các
biểu hiện gây ảnh hưởng từ bệnh và đặc biệt là
những hậu quả đáng kể đã nói lên mức độ đáng quan
tâm, hướng tới việc điều trị bệnh sớm, hiệu quả cho
người bệnh(3,7,9)
Với công việc làm và học tập, chứng tăng tiết mồ
hội tay có thể làm cho người bệnh gặp nhiều thách thức trong công việc, khó có cơ hội theo đổi những công việc mà mình yêu thích hoặc phải thuyên chuyển công việc, mất việc làm
Trong cuộc sống hàng ngày, người bệnh gặp nhiều cản trở khi phải cầm nắm các vật dụng, dễ gặp các trực trặc do bàn tay (hoặc kết hợp cả lưng, chân) ẩm ướt gây ra Phụ nữ gặp nhiều khó khăn trong công việc nội trợ
Bn có những biểu hiện nhút nhát, dễ bị tổn thương và dụt dè trong giao tiếp, đương nhiên mất đi tính chủ động, mạnh bạo của tuổi thanh thiếu niên Bệnh kéo dài và ảnh hưởng nhiều trên diện rộng đã gây ra những sáo trôn tâm lý một cách đáng kể
Bn có thể có cảm bế tắc trong cuộc sống, thiếu tự tin, thiếu chủ động kể cả trong điều trị bệnh
Chúng tôi có thể dẫn chứng ý kiến của một vài Bn than phiền về những ảnh hưởng của loại bệnh lý này: Thư viết từ QN, ngày 14/5/2000 “Cháu tên là Đ.D.A., sinh năm 1973, hiện đang sống và làm việc tại thành phố B.Đ Cháu bị bệnh ra mồ hôi tay chân đã lâu, điều trị nhiều thuốc Động Tây vẫn không bớt Căn bệnh quái ác này theo đuổi cháu suốt bao năm nay, đã ảnh hưởng rất nhiều đến việc học tập, công tác, cũng như sinh hoạt hàng ngày của cháu ” Hải Dương ngày10/5/2000: “Tên cháu là V.K 28 tuổi, ở tỉnh H.D mắc bệnh ra mồ hôi chân tay đã 13 năm nay Hiện nay bệnh tình khá nặng Tay cháu lúc nào cũng ra mồ hôi nhiều không thể làm được việc gì cả (trừ lúc đi ngủ thì không ra mồ hôi) Khi tay cháu
bị ra mồ hôithì người luôn có cảm giác hồi hộp, tay cháu nóng như lửa đốt, khó chịu và thường bị rùng mình, sởn gai ốc (nổi da gà) khi cầm phải vật lạnh như cốc chén thủy tinh ”
Như vậy các biểu hiện về tác hại từ chứng tăng tiết mồ hôi tay là rất phong phú, nhưng đều ảnh hưởng đáng kể đến cuộc sống tâm lý người bệnh
KẾT LUẬN
Qua nghiên cứu 250 Bn có chứng tăng tiết mồ hôi quá mức ở lòng bàn tay, trong thời gian một năm tại Bv Bình Dân TP.Hồ chí Minh, Mặc dù số liệu còn
Trang 9hạn chế nhưng chúng tôi có thể đưa ra một số kết
luận sau:
Đặc điểm chung của các Bn có chứng
tăng tiết mồ hôi tay :
Số lượng Bn nam và nữ ngang nhau
Độ tuổi trung bình là 24-25tuổi, chủ yếu Bn đang
ở độ tuổi lao động
Gần 2/3 trường hợp bị bệnh từ nhỏ và không xác
định được cụ thể thời gian mắc bệnh Với số Bn còn
lại, thời gian mắc bệnh trung bình 10,87 năm
29,6% các Bn trong gia đình có từ 2 người bị
bệnh trở lên
Các Bn đi khám chuyên khoa và đề nghị được
phẫu thuật nội soi lồng ngực cắt thần kinh giao cảm,
phần lớn là nhờ các thông tin có từ báo và tạp chí y
khoa, hay bản thân những người bị bệnh đã điều trị
giới thiệu, hoặc Bn tới khám tổng quát rồi được giới
thiệu khám chuyên khoa
Phẫu thuật nội soi nói chung và phẫu thuật nội
soi lồng ngực nói riêng còn mới lạ với đa số người
bệnh Chỉ có 24,4% Bn có những hiểu biết sơ bộ về
phẫu thuật nội soi
62% các Bn sau khi biết được thông tin “chứng
tăng tiết mồ hôi tay được điều trị hiệu quả bằng phẫu
thuật nội soi lồng ngực cắt thần kinh giao cảm“ đã
quyết định đi khám và điều trị ngay
Tuy nhiên có thể có nhiều lý do mà 30,4% Bn đã tới
khám bệnh nhưng chưa nhập viện phẫu thuật ngay
Những ảnh hưởng và biểu hiện của
chứng tăng tiết mồ hôi tay, khảo sát
cho thấy
Tăng tiết mồ hôi quá mức ở lòng bàn tay đã ảnh
hưởng đến hầu hết các Bn về mặt lao động; cuộc sống
sinh hoạt; giao tiếp và tâm lý (98,8%-89,6%-100%)
Những biểu hiện do tác hại của bệnh mang lại rất
đa dạng :
Tùy theo tính chất công việc mà mức độ và biểu
hiện ảnh hưởng cụ thể có khác nhau Nhìn chung
bệnh đã làm tổn hại đến chất lượng, sự bền vững và
khó tiếp cận công việc
Bệnh có ảnh hưởng đến sinh hoạt hàng ngày, với các biểu hiện tương ứng với hoạt động của từng Bn
Bn gặp những cản trở trong giao tiếp và sa sút về mặt tâm lý Bn dễ trở nên nhút nhát, dễ bị tổn thương, hạn chế trong giao tiếp và quan hệ, có cảm giác bế tắc trong cuộc sống, phải chấp nhận những việc làm không vừa ý Trong điều trị bệnh dễ giao động, ít tin tưởng vào chuyên môn
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 Nguyễn Văn Chừng, Nguyễn Văn Chính (2002), “Tình hình gây mê hồi sức trong mổ nội soi và biện pháp cải tiến để nâng cao hiệu quả”, Y Học TP.HCM, Phụ bản của Tập 6, Số 2, Tr 463-472
2 JOSEPH B S et al (1997), “Thoracoscopy” in Sabiston-
Textbook of Surgery, David C Sabiston, Jr., W.B Sounders company, pp 1806-1812
3 JEFFREY L BOONE & JOHN F CHRISTENSEN
(1997), “Stress and disease”, Behavioral Medicine in
Primary Care –A Practical Guide, Appleton & Lange, Stamford Connecticut, pp 256-276
4 Hồ Nam (1999), Điều trị chứng tăng tiết mồ hôi tay
bằng phẫu thuật cắt thần kinh giao cảm ngực qua ngả nội soi, Luận án thạc sĩ Y Học, Đại học Y Dược TP.Hồ
Chí Minh
5 Nguyễn Thiện Khánh, Nguyễn Hoài Nam, Nguyễn Đức Trí, Nguyễn Anh Dũng, Trần Như Hưng Việt, Nguyễn Thế Hiệp (2001), “Bước đầu thực hiện phẫu thuật nội soi lồng ngực tại BV Nhân Dân Gia Định”, Y Học TP.HCM, PB số 4, Tập 5, Tr 8-10
6 LIN C.C, WU H.H (1999), “Thoracoscopic T2-Sympathetic Block by Clamping in Treatment of Hyperhidrosis Palmaris – Results of 831 Cases”, 8 th
International Meeting of Laparoendoscopic Surgeons, SLS Annual meeting, Endo Expo ’99, New York City, December 1999
7 Nguyễn Sinh Phúc (1998), “Stress và vấn đề vệ sinh
tâm lý”, Tâm lý học, Nhà XB Y Học Hà Nội, Tr 365 -
418
8 Văn Tần Và Cs (1999), “Kết quả nghiên cứu cải tiến phẫu thuật nội sao lồng ngực để điều trị chứng tăng tiết mồ hôi tay”, Hội nghị Ngoại khoa Việt Nam lần thứ X, Tập 2, Tr 191-194
9 Nguyễn Văn Truyền Và Cs (1998), “Tâm lý bệnh nhân”, Tâm lý học, nhà XB giáo dục – ĐHY Dược TP.HCM, Tr 156-181
10 Nguyễn Thường Xuân (1998), “Tiêm huyết thanh nóng
vào hạch giao cảm ngực trên trong điều trị bệnh chảy
nhiều mồ hôi”, Hội thảo chuyên đề Ngoại thần kinh.