1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Kết quả nghiên cứu xác định độ cứng chắc và sức bền của mảnh ghép gân hamstring của người Việt Nam tại vị trí cố định trong đường hầm xương chày bò

7 76 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 7
Dung lượng 443,99 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bài viết nghiên cứu xác định độ cứng chắc và sức bền của 20 mảnh ghép gân bán gân và gân cơ thon của người Việt Nam được cố định bằng vít chèn titan trong đường hầm xương chày bò cái 1,5 - 2 năm tuổi. Mời các bạn cùng tham khảo tài liệu.

Trang 1

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU XÁC ĐỊNH ĐỘ CỨNG CHẮC VÀ

SỨC BỀN CỦA MẢNH GHÉP GÂN HAMSTRING

CỦA NGƯỜI VIỆT NAM TẠI VỊ TRÍ CỐ ĐỊNH TRONG ĐƯỜNG HẦM XƯƠNG CHÀY BÒ Đặng Hoàng Anh* và CS

TÓM TẮT

Nghiên cứu xác định độ cứng chắc và sức bền của 20 mảnh ghép gân bán gân và gân cơ

thon của người Việt Nam được cố định bằng vít chèn titan trong đường hầm xương chày bò cái

1,5 - 2 năm tuổi Kết quả: lực làm đứt hoặc nhổ mảnh ghép tại vị trí cố định trung bình 509 N,

độ cứng chắc trung bình tại vị trí cố định 37,7 N/mm Kết quả này giúp phẫu thuật viên có cơ sở

để hướng dẫn người bệnh tập phục hồi chức năng sau phẫu thuật tái tạo dây chằng chéo trước

(DCCT) với những động tác phù hợp và ít ảnh hưởng đến dây chằng mới

* Từ khóa: Mảnh ghép gân Hamstring; Độ cứng chắc; Sức bền; Đường hầm xương chày bò

OUTCOMES OF THE RESEARCH ON ESTABLISHMENT OF THE

STIFFNESS AND STRENGTH OF THE HAMSTRING TENDON

GRAFT OF THE VIETNAMESE AT FIXED PLACE IN THE

TUNNEL OF THE TIBIA OF BOVINE SUMMARY

Research the stiffness and strength of twenty hamstring tendon grafts of the Vietnamese,

which were fixed by the interference titan screw in tunnel of the tibia of bovine from about 1.5 to

2 years old The results: in fixed place, the graft provides 509 N of strength and 37.7 N/mm of

stiffness This result helps the surgeons to have rehabilitations and guide patients after their

anterior cruciate ligament reconstruction with the movement agreeable and little effect on new graft

* Key words: Hamstring tendon graft; Stiffness; Strength; The tunnel of the tibia of bovine

ĐẶT VẤN ĐỀ

Đứt DCCT là thương tổn thường gặp,

làm cho khớp gối mất vững Hậu quả có

thể gây rách sụn chêm và sụn khớp Để

phục hồi lại độ vững chắc của khớp và

tránh những biến chứng trên, việc phẫu

thuật phục hồi lại dây chằng rất cần thiết

Tuy nhiên, “điểm yếu” của phẫu thuật chính

là vị trí cố định của mảnh ghép trong đường hầm xương

Năm 1996, Brown đã nghiên cứu thực nghiệm so sánh độ vững chắc của cố định bằng vít chèn đối với mảnh ghép gân bánh chè trong đường hầm xương bò cái

* Bệnh viện Quân y 103

Người phản hồi (Corresponding): Đặng Hoàng Anh (danghoanganh103@gmail.com)

Ngày nhận bài: 30/06/2014; Ngày phản biện đánh giá bài báo: 16/09/2014

Ngày bài báo được đăng: 23/09/2014

Trang 2

1,5 - 2 năm tuổi với xương chày tử thi của

người trưởng thành và xương chày tử thi

của người già Tác giả kết luận, đối với

xương chày của bò cái 1,5 - 2 năm tuổi

và xương chày người trưởng thành, lực

làm đứt nhổ gần tương đương nhau và

có thể sử dụng xương bò để nghiên cứu

thực nghiệm

Năm 1999, Magen nghiên cứu thực

nghiệm trên xương chày bò về độ vững

chắc tại vị trí cố định mảnh ghép gân

bánh chè bằng vít chèn có đường kính

bằng đường kính của đường hầm xương

cũng có kết luận tương tự như Brown

Ở Việt Nam, chưa có công trình nào

nghiên cứu về độ vững chắc tại vị trí cố

định mảnh ghép gân bánh chè, cũng như

mảnh ghép gân bán gân và gân cơ thon

chập đôi trong đường hầm xương trên

thực nghiệm

Xuất phát từ thực tế trên, chúng tôi

tiến hành nghiên cứu đề tài này nhằm:

- Xác định lực làm đứt mảnh ghép gân

bán gân và gân cơ thon chập đôi tại vị trí

cố định bằng vít chèn trong đường hầm

xương bò cái

phục hồi chức năng sau phẫu thuật tái tạo

DCCT

ĐỐI TƯỢNG, VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG

PHÁP NGHIÊN CỨU

1 Đối tượng nghiên cứu

- Mảnh ghép gân cơ bán gân và gân

cơ thon được lấy từ 20 xác tươi, tuổi

trung bình 31 (trẻ nhất 20 tuổi, cao nhất

54 tuổi), 17 nam và 3 nữ

- Xương chày bò: sử dụng 20 xương

cẳng chân bò cái 1,5 - 2 năm tuổi, giống

bò vùng Ba Vì, Hà Nội

- Số lượng mẫu nghiên cứu là 40 mẫu

ở 20 tử thi (trong đó thí nghiệm về lực làm đứt hoặc nhổ mảnh ghép: 20 mẫu, thí nghiệm xác định mức độ biến dạng của mảnh ghép: 20 mẫu)

2 Vật liệu

- Mảnh ghép 4 đầu của gân cơ bán gân

và gân cơ thon chập đôi:

Lấy gân cơ bán gân và gân cơ thon từ xác tươi tuổi từ 19 - 55 (chết do tai nạn trong vòng 6 giờ đầu) Đánh rửa bằng xà phòng và sát trùng bằng dung dịch iod (2%) vùng lấy gân Lấy và xử lý gân trong điều kiện vô trùng

Làm sạch phần cơ còn dính trên gân, ngâm rửa gân bằng dung dịch PBS (phosphat buffered saline) Lựa chọn phần gân dày và chắc để khâu chập đôi

2 gân thành mảnh ghép 4 đầu gân dài 10 -

12 cm Dùng chỉ không tiêu (perlon số 3)

để khâu bện 4 đầu gân với nhau Đo cỡ

để xác định mũi khoan và kích thước của đường hầm

Ngâm mảnh ghép trong ống có chứa dung dịch bảo quản (bao gồm 99% DMEM - Dulbelcos Modified Eagle Media và 1% kháng sinh: penixillin, streptomycin và amphotericin B) Đây là môi trường có thể nuôi dưỡng các tế bào trong 1 tháng giống như trong điều kiện của cơ thể sống, không làm thay đổi tính chất lý hoá của chúng Giữ mảnh ghép trong điều kiện lạnh 40C Nếu chưa sử dụng ngay,

cứ 3 ngày thay dung dịch bảo quản 1 lần, cho đến khi lấy ra làm thí nghiệm Dung dịch này được pha chế ở Labô bảo quản

Mô, Viện Bỏng Lê Hữu Trác

- Xương chày tươi của bò cái

- Vít chèn bằng titan các cỡ 7, 8 và

9 mm, dài 25 mm

- Máy MTS Alliance RF/300

Trang 3

3 Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu thực nghiệm theo phương

pháp mô tả, tiến hành tại phòng thí

nghiệm của Bộ môn Cơ học vật liệu và

Kết cấu, Khoa Cơ khí, Trường Đại học

Bách khoa Hà Nội

- Mục tiêu: xác định lực làm đứt hoặc

nhổ mảnh ghép gân cơ bán gân và gân

cơ thon chập đôi của người Việt Nam tại

vị trí cố định bằng vít chèn trong đường

hầm xương bò cái

Các thí nghiệm được tiến hành riêng

rẽ, lần lượt

- Các bước tiến hành: cố định xương

chày bò và đầu tự do của mảnh ghép vào

máy MTS Alliance RF/300 Lực kéo tăng

dần (bắt đầu từ 0 N) theo phương thẳng

đứng Máy tính sẽ tự động ghi lại đồ thị

biểu diễn mối tương quan giữa lực kéo và

chiều dài của mảnh ghép

Có 4 nhóm, mỗi nhóm thực hiện lần

lượt 5 thí nghiệm riêng rẽ, kết quả được

tính trung bình cộng

+ Nhóm 1: tốc độ của lực kéo 10

mm/phút

+ Nhóm 2: tốc độ của lực kéo 50

mm/phút

+ Nhóm 3: tốc độ của lực kéo 100

mm/phút

+ Nhóm 4: tốc độ của lực kéo 150

mm/phút

* Thiết kế mẫu:

Sử dụng đầu trên của xương chày bò

và khoan cố định bằng một bộ nẹp vít

xương đùi 8 lỗ (mục đích để cố định chắc

chắn phần xương này vào máy MTS)

Dọn sạch phần sụn chêm và bao khớp

bám xung quanh mâm chày Khoan đường

hầm xương bằng các mũi khoan 7 mm,

8 mm, 9 mm tương ứng với mỗi đường kính của mảnh ghép gân cơ bán gân và gân cơ thon chập đôi Hướng của đường hầm chếch 500 so với bề mặt mâm chày Luồn và cố định mảnh ghép bằng vít titan chèn trong đường hầm xương từ ngoài vào trong, đường kính bằng đường kính của đường hầm xương, chiều dài 25 mm Vít chèn được bắt ở cạnh của mảnh ghép

và thành xương của đường hầm, mũ của vít nằm ngang bề mặt xương cứng của miệng đường hầm xương Độ dài của mảnh ghép thực nghiệm nằm ngoài đường hầm xương luôn hằng định là 6 cm và đoạn nằm trong đường hầm khoảng 4 cm Những chi tiết kỹ thuật này được thực hiện như khi phẫu thuật trên người

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

1 Đặc điểm mẫu nghiên cứu

* Đường kính của mảnh ghép thực nghiệm:

Bảng 1:

§-êng KÝnh (mm)

6,5 - 7,0 7,1 - 8,0 8,1 - 8,5 Tæng sè

Đường kính trung bình của mảnh ghép thực nghiệm 7,1 mm (lớn nhất 8,5 mm, nhỏ nhất 6,5 mm) Trong đó, 19 mảnh ghép có đường kính < 8,0 mm

* Đường kính của vít chèn:

Chúng tôi sử dụng 10 vít chèn đường kính 7 mm, 9 vít chèn đường kính 8 mm

và 1 vít chèn đường kính 9 mm Chiều dài của vít chèn 25 mm

Trang 4

2 Độ bền của mảnh ghép tại vị trí

cố định

* Kết quả của nhóm 1 (tốc độ lực kéo

10 mm/phút):

Đồ thị 1: Mối tương quan giữa lực kéo và

độ giãn của mảnh ghép (trục tung tương

ứng lực kéo, trục hoành tương ứng độ

giãn của mảnh ghép)

Mảnh ghép bắt đầu giãn khi lực đạt

trung bình 40 N và lực trung bình làm đứt

mảnh ghép tại vị trí cố định ở đường hầm

xương 255 N, độ cứng chắc trung bình

của cố định 34,5 N/mm

* Kết quả của nhóm 2 (tốc độ lực kéo

50 mm/phút):

Đồ thị 2: Mối tương quan giữa lực kéo và

độ giãn của mảnh ghép

Mảnh ghép bắt đầu giãn khi lực kéo

trung bình 50 N và lực trung bình làm đứt

mảnh ghép tại vị trí cố định ở đường hầm

xương 466 N, độ cứng chắc trung bình của cố định 32,1 N/mm

* Kết quả của nhóm 3 (tốc độ lực kéo

100 mm/phút):

Đồ thị 3: Mối tương quan giữa lực kéo và

độ giãn của mảnh ghép

Mảnh ghép bắt đầu giãn khi lực trung bình đạt 70 N và lực trung bình làm đứt mảnh ghép tại vị trí cố định ở đường hầm xương là 625 N, độ cứng chắc trung bình của cố định 26,7 N/mm

* Kết quả của nhóm 4 (tốc độ lực kéo

là 150 mm/phút):

Đồ thị 4: Mối tương quan giữa lực kéo và

độ giãn của mảnh ghép

Mảnh ghép bắt đầu giãn khi lực trung bình 140 N và lực trung bình làm đứt mảnh ghép tại vị trí cố định ở đường hầm xương 690 N, độ cứng chắc trung bình của cố định 79,3 N/mm

Đé gi·n (mm) Lùc kÐo (N)

Trang 5

* Kết quả chung:

Trên các đồ thị 1, 2, 3 và 4: trục tung

của đồ thị là giá trị của lực kéo tăng dần,

đơn vị tính N, cứ 10 N tương ứng với 1 kg

Trục hoành là biểu diễn biến dạng của

mảnh ghép, đơn vị tính mm Điểm B là lực tác động, điểm M là môđun đàn hồi, đoạn BM được gọi là khoảng tuyến tính Những điểm này được máy tính tính toán

và tự ghi lại

Bảng 2: Lực làm đứt (nhổ) và độ giãn của mảnh ghép

Trong nghiên cứu thực nghiệm này, lực kéo trung bình làm mảnh ghép bắt đầu giãn

là 75 N (thấp nhất 40 N, cao nhất 150 N), lực làm đứt hoặc nhổ mảnh ghép gân cơ bán gân và gân cơ thon chập đôi tại vị trí cố định trung bình 509 N (thấp nhất 235 N, cao nhất 705 N), độ cứng chắc trung bình của cố định 37,7 N/mm

BÀN LUẬN

Kết quả nghiên cứu thực nghiệm của

Steiner [6] cho thấy, DCCT tự nhiên chỉ

chịu được lực khoảng 800 N, nghiên cứu

của Noyes [4] là 1.725 N, của Woo là

2.160 N Tuy nhiên, trong các hoạt động

hàng ngày, DCCT chỉ chịu lực tác động

khoảng 400 - 500 N [4, 5]

Kết quả nghiên cứu thực nghiệm cố

định mảnh ghép gân bánh chè trong

đường hầm xương bò bằng vít chèn có

đường kính bằng đường kính của đường

hầm của Magen, Beynnon [2] và Steiner

[6] cho thấy, lực làm đứt hoặc nhổ mảnh

ghép từ 400 - 600 N Điều này chứng tỏ

cố định mảnh ghép gân bánh chè bằng vít

chèn trong đường hầm xương có độ

vững chắc cao, người bệnh được tập

phục hồi chức năng sớm sau phẫu thuật

mà không ảnh hưởng đến mảnh ghép

Trong nghiên cứu thực nghiệm này,

mảnh ghép gân cơ bán gân và gân cơ

thon chập đôi đường kính trung bình 7,1

mm được cố định bằng vít chèn có

đường kính bằng đường kính của đường

hầm xương, lực làm đứt hoặc nhổ mảnh

ghép tại vị trí cố định trung bình 509 N, độ

cứng chắc trung bình của cố định 37,7 N/mm Mức độ vững chắc của kỹ thuật cố định mảnh ghép gân cơ bán gân và gân

cơ thon chập đôi của người Việt Nam tương đương kết quả nghiên cứu thực nghiệm của Magen và Beynon đối với mảnh ghép gân bánh chè Mảnh ghép được cố định vững chắc hơn kỹ thuật cố định bằng khâu, néo buộc mảnh ghép (gân cơ chân ngỗng hoặc gân bánh chè) vào vít ngoài đường hầm trong nghiên cứu của Steiner [6] Với kết quả này, mảnh ghép được cố định chắc chắn có thể chịu được lực tác động tương đương lực tác động lên DCCT trong các hoạt động bình thường

Qua nghiên cứu thực nghiệm, chúng tôi rút ra quy luật tác động của lực tại vị trí cố định mảnh ghép trong đường hầm xương chày bò như sau:

+ Lực tác động nhỏ nhưng từ từ, kéo dài thì mức độ chịu lực tại vị trí cố định sẽ kém + Lực tác động lớn, nhanh và thời gian ngắn thì mức độ chịu lực tại vị trí cố định cao hơn

Trang 6

Điều này đặc biệt có ý nghĩa trong lâm

sàng khi hướng dẫn cho người bệnh tập

phục hồi chức năng ngay sau phẫu thuật

Người bệnh không được tập những động

tác làm dây chằng mới phải chịu lực kéo

dài, cho dù lực đó không lớn Ví dụ, trong

khi tập nâng chân lên khỏi mặt giường,

người bệnh vẫn phải giữ nẹp và không

được giữ trong thời gian quá dài, thông

thường chúng tôi hướng dẫn người bệnh

giữ khoảng 10 giây Đồng thời, trong quá

trình tập luyện cần tránh những động tác

thô bạo và đột ngột Vì vậy, người bệnh

phải luôn được giữ nẹp trong suốt 6 - 8

tuần sau phẫu thuật, đặc biệt trong khi

ngủ Nẹp chỉ được tháo ra khi tập vận

động gấp duỗi thụ động và chủ động

khớp gối, có người hỗ trợ

Theo bảng 1, ở các hoạt động sinh

hoạt bình thường hàng ngày, DCCT chỉ

chịu những lực khoảng 400 - 500 N

Phương pháp cố định của chúng tôi, lực

làm nhổ hoặc đứt mảnh ghép là 509 N

Người bệnh được tập luyện phục hồi

chức năng sớm cả những động tác chủ

động và thụ động mà không hoặc ít ảnh

hưởng đến mảnh ghép Tuy nhiên, ngay

sau phẫu thuật, người bệnh vẫn phải

tránh tập những động tác khiến mảnh

ghép phải chịu lực gần với lực làm đứt

mảnh ghép trên, vì vào thời điểm này,

sức cơ của các cơ quanh khớp gối không

còn mạnh như bình thường, do đó khả

năng phối hợp của các yếu tố để làm

vững khớp gối giảm đi, DCCT phải chịu

những lực tăng lên vượt quá lực tác động

bình thường như trong nghiên cứu của

Paulos [5] Người bệnh chỉ được tập đi có

nạng và nẹp hỗ trợ trong khi tập phục hồi

sức mạnh của các cơ quanh khớp gối

KẾT LUẬN

Nghiên cứu thực nghiệm về độ vững chắc tại vị trí cố định mảnh ghép gân bán gân và gân cơ thon chập đôi của người Việt Nam trong đường hầm xương bò cái với lực làm đứt hoặc nhổ mảnh ghép tại vị trí cố định 509 N có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, nhằm mục đích hướng dẫn người bệnh luyện tập phục hồi chức năng khớp sau phẫu thuật tái tạo DCCT với những động tác phù hợp và đạt hiệu quả cao nhất

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Nguyễn Văn Huệ, Đinh Văn Hân Hợp

tác nghiên cứu áp dụng công nghệ nuôi cấy nguyên bào sợi trong điều trị vết thương bỏng

Đề tài cấp Nhà nước, nghiệm thu năm 2006

2 Beynnon BD The effect of screw insertion

torque on tendon fixed with spiked washers

Am J Sport Med 1998, 26, pp.536-559

3 Freshney RI Protocol of human biopsy

Culture of Animal Cells 2003, pp.157-158

4 Noyes FR, Butler DL, Grood ES et al

Biomechanical analysis of human ligament grafts used in knee ligament repair and reconstruction J Bone Joint Surg 1984, 66A, pp.334-352

5 Paulos E et al Anterior cruciate graft

tensioning Technique in Knee Surgery 2003,

2, pp.125-136

6 Steiner ME, Hecker AT, Brown CH, Hayes

WC Anterior cruciate ligament graft fixation

Comparison of hamstring and patellar tendon grafts Am J Sports Med 1994, 22, pp.240-246

7 Howell SM Evaluation, classification et

traitement de la lésion du ligament croisé antérieur Maitrise Orthopedique 2001, 109

8 N’guyen L La ligamentoplastie du LCA

sous athroscopie par transplant autologue quatre faisceaux (droit interne, demi-tendineux) Mémoire présenté en vue de l’obtention du diplome inter universitaire d’arthroscopie Universite

de Paris VII 2002.

Ngày đăng: 22/01/2020, 03:45

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w