GIÁO DỤC MÔI TRƯỜNG TRONG MÔN HỌC CÔNG NGHỆ TRUNG HỌC PHỔ THÔNG Phần thứ nhất: CÁC VẤN ĐỀ CHUNG Khoảng 20 trang Phần thứ hai GIÁO DỤC MÔI TRƯỜNG TRONG MÔN HỌC CÔNG NGHỆ TRUNG HỌC PHỔ TH
Trang 1GIÁO DỤC MÔI TRƯỜNG TRONG MÔN HỌC CÔNG NGHỆ
TRUNG HỌC PHỔ THÔNG Phần thứ nhất: CÁC VẤN ĐỀ CHUNG
Khoảng 20 trang
Phần thứ hai GIÁO DỤC MÔI TRƯỜNG TRONG MÔN HỌC CÔNG NGHỆ
TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
Ngày nay, cùng với dân số và chiến tranh, môi trường được coi là một trongnhững vấn đề bức xúc nhất của toàn thế giới Vấn đề này không chỉ liên quan tới sựthay đổi của tự nhiên mà còn ảnh hưởng đến toàn bộ xã hội cũng như chất lượngsống của loài người
Ban đầu, con người tác động vào môi trường là không đáng kể, nhưng từ thế
kỷ XVIII với nền công nghiệp cơ khí ngày càng hiện đại, với số dân đã gần 1 tỷ vàtốc độ đô thị hoá ngày càng tăng, con người đã khai thác quá mức và sử dụng khônghợp lý các nguồn tài nguyên, dẫn đến mất cân bằng sinh thái, môi trường sống bị ônhiễm nghiêm trọng ở qui mô toàn cầu và đang đe doạ cuộc sống của con người trêntrái đất Chẳng hạn, các hiện tượng:
- Ô nhiễm không khí đã vượt tiêu chuẩn cho phép tại các đô thị và các khu
công nghiệp
- Hiệu ứng nhà kính gia tăng do sự tăng lên của khí CO2 và các khí nhà kínhkhác thải vào khí quyển, làm nhiệt độ trung bình bề mặt trái đất tăng lên Sự thayđổi này gây ra những biến đổi của khí hậu toàn cầu, gây ra lũ lụt, hạn hán và làmmức nước biển dâng lên
- Tầng ôzôn bị phá huỷ, lượng tia tử ngoại từ mặt trời chiếu xuống mặt đấttăng lên, gây nên ung thư da, suy giảm miễn dịch ở người, giảm năng suất sinh họccủa động, thực vật Nguyên nhân chủ yếu làm suy thoái và thủng tầng ôzôn là cáckhí CFC,CH4, NOx thải vào khí quyển
Trang 2- Nguồn nước bị ô nhiễm nghiêm trọng, nước mưa bị axit hoá (mưa axit);nước ngầm bị khai thác quá mức và bị ô nhiễm, nước sông hồ, nước biển bị ô nhiễm
do nước thải công nghiệp, nước thải đô thị và khai thác khoáng sản biển cũng nhưchất thải củagiao thông đường thủy
- Rừng liên tục bị suy giảm về số lượng và chất lượng do khai thác gỗ, củi,lấy đất trồng cây lương thực và cây công nghiệp, xây dựng các công trình, nhà máy
và ô nhiễm môi trường
- Sa mạc hoá đất đai do các nguyên nhân như xói mòn, rửa trôi màu, phènhoá, mặn hoá, hạn hán; ngoài ra do việc sử dụng đất canh tác không vì mục đíchnông nghiệp ngày một tăng
- Số loài thực vật, động vật bị tuyệt diệt đang gia tăng do môi trường sống bịsuy thoái, mất nơi cư trú, khai thác săn bắn quá mức và các nguyên nhân khác
- Rác thải gia tăng các chất thải rắn của con ngời đang gia tăng cả về số lượng
và mức độ độc hại
Vì vậy, việc giáo dục cho học sinh những hiểu biết cơ bản về môi trường,nhất là biện pháp giữ gìn bảo vệ môi trường là một việc làm cần thiết, có ý nghĩa tolớn về mặt xã hội và giáo dục
Với tình thần đó, phần thứ hai này nhằm giúp giáo viên môn Công nghệ ởtrung học phổ thông tích hợp giáo dục môi trường thông qua giảng dạy môn học
I MÔN CÔNG NGHỆ VỚI GIÁO DỤC MÔI TRƯỜNG
1 Môn Công nghệ ở trường phổ thông
a) Tên môn học
Môn Công nghệ là tích hợp của các môn học thủ công và kỹ thuật phổ thông(kỹ thuật phục vụ, kỹ thuật nông nghiệp, kỹ thuật công nghiệp) nhằm phản ánh “tậphợp các phương pháp, quy tắc, kỹ năng được sử dụng để tác động vào đối tượng laođộng thông qua các phương tiện nhằm tạo ra sản phẩm”
Trang 3Để phù hợp với dặc điểm lứa tuổi học sinh và mục tiêu môn học của bậc tiểuhọc, ở các lớp 1, 2, 3 môn học được gọi là thủ công, các lớp 4, 5 được gọi là kỹthuật.
b) Mục tiêu chung của môn học
Môn học nhằm giúp học sinh làm quen với thực tiễn về các mối quan hệ giữangười với người, giữa con người với công cụ lao động, với công nghệ sản xuất, dịch
vụ và với môi trường thiên nhiên; qua đó hình thành thói quen và kỹ năng lao động
tự phục vụ, tiến tới tự lập nghiệp khi trưởng thành
Cụ thể là, “học xong môn học Công nghệ, học sinh cần phải đạt được:
- Kiến thức: Hiểu được những kiến thức ban đầu và thông thường về kỹ thuật
và công nghệ của một số lĩnh vực sản xuất phổ biến của đất nước như công – nông –lâm – ngư nghiệp, về kinh tế gia đình và kinh doanh; bước đầu hình thành được tưduy công nghệ, tư duy kinh tế
- Kỹ năng: Hình thành được một số kỹ năng lao động nghề nghiệp đơn giản,
cơ bản, cần thiết thuộc các lĩnh vực nêu trên; hình thành được kỹ năng học tập mônCông nghệ
- Thái độ: Có thói quen làm việc theo kế hoạch, tuân thủ quy trình, thực hiện
an toàn lao động và bảo vệ môi trường; bước đầu hình thành được tác phong côngnghiệp; có thái độ quý trọng lao động, say mê, hứng thú học tập và tìm hiểu về nghềnghiệp”
(Chương trình giáo dục phổ thông môn Công nghệ, Nhà xuất bản Giáo dục,2006)
c) Kế hoạch dạy học môn học
Theo Kế hoạch dạy học, môn Công nghệ được dạy từ lớp 1 đến lớp 12 củatrường phổ thông
Nội dung môn Công nghệ phổ thông phản ánh các loại hình lao động phổ biếnnhư: lao động thủ công, lao động kỹ thuật đơn giản trong các lĩnh vực dịch vụ sinhhoạt, kinh tế gia đình, công nghiệp, nông - lâm - ngư nghiệp
Trang 42 Giáo dục môi trường
a) Môi trường và môi trường học tập
- Môi trường
Có thể có nhiều cách định nghĩa khác nhau về môi trường tùy theo cách tiếpcận:
“Môi trường là một tổ hợp các yếu tố bên ngoài của một hệ thống nào đó.
Chúng tác động lên hệ thống này và xác định xu hướng và tình trạng tồn tại của nó.Môi trường có thể coi là một tập hợp, trong đó hệ thống đang xem xét là một tập
hợp con Môi trường của một hệ thống đang xem xét cần phải có tính tương tác với
hệ thống đó
Nói chung, môi trường của một khách thể bao gồm các vật chất, điều kiệnhoàn cảnh, các đối tượng khác hay các điều kiện nào đó mà chúng bao quanh kháchthể này hay các hoạt động của khách thể diễn ra trong chúng” (Bách khoa toàn thư
mở Wikipedia)
“Môi trường là toàn bộ các hệ thống tự nhiên và các hệ thống do con ngườitạo ra ở xung quanh mình, trong đó con người sinh sống và bằng lao động, đã khaithác những tài nguyên tự nhiên hoặc nhân tạo cho phép thỏa mãn những nhu cầu củacon người”
Như vậy, một cách khái quát, môi trường bao gồm: các yếu tố/ môi trường tựnhiên và các yếu tố/môi trường xã hội
- Môi trường học tập
Môi trường học tập là toàn bộ không gian vật chất và tinh thần cùng với cácthành tố của nó bao quanh quá trình học tập (cả bên trong và bên ngoài nhà trường),làm nền tảng và tạo nên trường hoạt động cho quá trình ấy
Môi trường học tập của mỗi cá nhân cũng bao gồm môi trường tự nhiên vàmôi trường xã hội (người dạy, người học khác, cơ sở vật chất, chương trình họctập…; chúng mang yếu tố xã hội)
Trang 5Cần chú ý rằng: Một đối tượng chỉ có tính chủ thể tương đối Cùng một đốitượng, có thể là chủ thể trong trường hợp này, nhưng lại có thể là một thành phầncủa môi trường trong trường hợp khác; hoặc có thể là chủ thể trong môi trường nàynhưng đồng thời lại là thành phần của môi trường khác Có nghĩa là: đối tượng ấy làchủ thể hay khách thể khi xem xét môi trường thì còn tùy thuộc vào vị trí (hệ quychiếu) của người nghiên cứu Nếu một người nghiên cứu về quan hệ giữa chính họvới môi trường xung quanh, thì khi đó, người nghiên cứu chính là “đối tượng” liênkết với môi trường nói ở trên Còn nếu người nghiên cứu đó nghiên cứu về quan hệgiữa môi trường với những người khác thì khi đó, người đó lại ở vị trí khách thể đốivới môi trường
b) Giáo dục môi trường
Quan niệm thứ nhất: Giáo dục môi trường là một quá trình thông qua các hoạt
động giáo dục chính quy và không chính quy nhằm giúp con người có được sự hiểubiết, kỹ năng và giá trị; tạo điều kiện cho họ tham gia vào phát triển một xã hội bềnvững về sinh thái
Mục đích của giáo dục môi trường là nhằm vận dụng những kiến thức và kỹnăng vào giữ gìn, bảo tồn, sử dụng môi trường theo cách thức bền vững cho cả thế
hệ hiện tại và tương lai Nó cũng bao hàm cả việc học tập cách sử dụng những côngnghệ mới nhằm tăng sản lượng và tránh những thảm họa môi trường, xóa nghèo đói,tận dụng các cơ hội và đưa ra những quyết định khôn khéo trong sử dụng tàinguyên Hơn nữa, nó bao hàm cả việc đạt được những kỹ năng, có những động lực
và cam kết hành động, dù với cá nhân hay tập thể, để giải quyết những vấn đề môitrường hiện tại và phòng ngừa những vấn đề mới nảy sinh
Quan niệm thứ hai: “Giáo dục môi trường là tiến trình giáo dục có mục đích
để thức tỉnh dân cư thế giới nhận thức và quan tâm đến môi trường và các vấn đề cóliên quan; có sự hiểu biết, kỹ năng, quan điểm, động cơ thúc đẩy và cam kết thựchiện một cách riêng lẻ và tập thể nhằm hướng tới những giải pháp cho khó khănthực tại và ngăn ngừa những vấn đề mới”
Trang 6Các quan niệm thông thường về giáo dục môi trường đều có những đặc điểmsau:
- Giáo dục môi trường nhằm hiểu biết mối quan hệ giữa môi trường tự nhiên,môI trường xã hội và vai trò của con người trong đó
- Giáo dục môi trường là quá trình học hỏi liên tục, phát triển theo kinhnghiệm của con người trong quá trình trải nghiệm cuộc sống
- Mục tiêu cuối cùng đạt đươc qua học hỏi, trải nghiệm là thay đổi hành vicủa con người
- Mọi nỗ lực của giáo dục môi trường cần tập trung vào việc nâng cao chấtlượng cuộc sống và thân thiện với môi trường
c) Giáo dục môi trường ở trường phổ thông
Là một bộ phận của giáo dục môi trường, giáo dục môi trường ở trường phổthông bao gồm cả giáo dục môi trường nói chung và giáo dục môi trường học tập
3 Môn Công nghệ với giáo dục môi trường
Các khái niệm trên cho thấy giữa môn/giáo dục Công nghệ và giáo dục môitrường có sự “giao thoa” nhau về mục tiêu, về nội dung cũng như cách thực hiện;trong đó, suy cho cùng mục tiêu của giáo dục môi trường là mục tiêu bao trùm nhất
Công nghệ chính là phương thức để con người tác động vào môi trường (tựnhiên và xã hội) nhằm thỏa mãn nhu cầu của mình
Nhiều tài liệu, thông tin về giáo dục môi trường có thể tìm được trên trangweb thông tin giáo dục bảo vệ môi trường của Bộ Giáo dục và Đào tạo:
http://www.epe.edu.vn; ví dụ:
- Giáo dục môi trường là gì? (với nhiều định nghĩa, quan niệm khác nhau);
- Các tiêu chuẩn về môi trường, như các tiêu chuẩn về: nước, không khí, đất,quản lý chất thải rắn, tiếng ồn và rung, về an toàn phóng xạ
- Báo cáo hiện trạng về môi trường 2006;
Giáo trình “Giáo dục môi trường” của TS Nguyễn Hoàng Trí, Khoa Sinh Đại học Sư phạm Hà Nội
Trang 7II CHƯƠNG TRÌNH TÍCH HỢP GIÁO DỤC MÔI TRƯỜNG CẤP THPT
1 Khái quát về sự ô nhiễm môi trường do sản xuất
Ô nhiễm môi trường là sự thay đổi thành phần và tính chất của môi trường,gây nên hậu quả xấu cho đời sống của con người và sinh vật Nguyên nhân gây ra ônhiễm môi trường là do các quá trình tự nhiên hoặc do các hoạt động của con người
Ô nhiễm nước có nguồn gốc tự nhiên là mưa, tuyết tan, gió bão, lũ lụt Cácyếu tố này đưa vào môi trường nước chất thải bẩn, các sinh vật và vi sinh vật có hại,
kể cả xác chết của chúng
Nguồn gốc nhân tạo làm ô nhiễm nước là do quá trình thải các chất độc hạidưới dạng lỏng là chủ yếu như các chất thải sinh hoạt, công nghiệp, nông nghiệp,giao thông vào môi trường nước
Ô nhiễm không khí có nguồn gốc tự nhiên như hoạt động của núi lửa, phun ranham thạch nóng, khói bụi giàu sunfua, mêtan và những loại khí khác hoặc cháyrừng, đồng cỏ do sấm chớp, cọ sát giữa thảm thực vật khô với nhau như tre, nứa,lau, sậy, cỏ… hay bão lũ do gió, bão Do các quá trình phân huỷ, thối rữa xác động,thực vật tự nhiên cũng phát thải vào không khí các khí độc hại như Sunfua, nitrít,…
Nguồn gốc nhân tạo làm ô nhiễm không khí rất đa dạng nhưng chủ yếu làhoạt động công nghiệp, đốt cháy nhiên liệu hoá thạch và hoạt động của các phươngtiện giao thông vận tải
Ô nhiễm đất là do lũ lụt gây xói mòn, do các chất gây ô nhiễm không khí lắngđọng lại trên mặt đất, do hoạt động của con người như trong hoạt động nông nghiệp(đốt, phá rừng trồng cây lương thực, cây công nghiệp, sử dụng phân bón hoá học,thuốc trừ sâu, thuốc diệt cỏ…) Khai thác rừng một cách bừa bãi để lấy gỗ, tronghoạt động công nghiệp (khai khoáng, chất thải của các nhà máy, xí nghiệp…) trongsinh hoạt (chất thải rắn, nước thải …)
Ô nhiễm nhiệt có nguyên nhân chủ yếu là do con người đốt cháy nhiên liệu(than, củi, xăng, dầu, khí…) trong sản xuất công nghiệp, giao thông vận tải và sinh
Trang 8hoạt Ô nhiễm nhiệt làm thay đổi khí hậu trong vùng nhất là các đô thị và khu côngnghiệp, nhiệt độ không khí trung bình ở các khu vực này thường cao hơn vùng rừngnúi và nông thôn từ 13oc.
Ô nhiễm tiếng ồn, ngoài yếu tố tự nhiên gây ra như sấm sét, còn chủ yếu docon người gây ra như bom, đạn trong chiến tranh; nổ mìn trong khai thác mỏ, khaithác đá, …; sử dụng động cơ nổ và các phương tiện giao thông vận tải (máy bay, tầuthuỷ, tầu hoả, ô tô, xe máy); trong sản xuất (rèn, dập, tán…); trong sinh hoạt (phátthanh, truyền hình, ca nhạc…)
Như vậy trong các ô nhiễm chính nêu trên đều có tác nhân của con người, trong
đó hoạt động công nghiệp đóng vai trò chủ yếu Sau đây xin giới thiệu những nétchính liên quan tới vấn đề môi trường của những ngành công nghiệp cụ thể
a) Ô nhiễm do ngành điện
Trước tiên là nhà máy nhiệt điện: Các nhà máy nhiệt điện thường sử dụng nhiênliệu là than, dầu, khí đốt các loại… Các khí độc hại, bụi và hơi nóng thải ra qua ốngkhói và các băng tải là nguồn gây ô nhiễm nặng cho môi trường
Các xí nghiệp sản xuất ắc qui, sử dụng chì và axít Các hoá chất trong sơn cáchđiện, v.v… đều rất độc hại
b) Ô nhiễm do ngành vật liệu xây dựng
Các nhà máy xi măng, gạch ngói, vôi, thuỷ tinh, sành sứ, bột đá,… đều ảnhhưởng tới môi trường Chất thải của nhà máy xi măng làm ô nhiễm môi trường rấtnghiêm trọng, đặc biệt là bụi và các khí độc hại Các nhà máy thuỷ tinh, sành sứ…thải ra một lượng lớn khí SO2, HF Các xí nghiệp gạch ngói, lò nung vôi thải ranhiều bụi, các khí SO2, CO, CO2 và NOx (NO, N2O, NO2), đặc biệt là các lò nungvôi, gạch thủ công
c) Ô nhiễm do ngành hoá chất và phân bón
Ngành sản xuất hoá chất và phân bón thải vào khí quyển rất nhiều loại chất độchại ở dạng khí và dạng rắn Các chất thải của phần lớn các nhà máy hoá chất cónhiệt độ chênh lệch với không khí xung quanh thường nhỏ nên các chất độc hại khó
Trang 9bay cao, khó bay xa, thường tập trung ở khu vực gần nguồn thải Mặt khác thiết bịsản xuất thường không kin hoặc bị rò rỉ qua thiết bị, qua đường ống làm tăng nồng
độ chất độc trong không khí ở bên trong cũng như bên ngoài nhà máy hoá chất Chấtthải còn xả vào nguồn nước
Việc xả các khí H2S, SO2, NOx, … là nguyên nhân gây ra hiện tượng mưa axít,làm chua đất, ảnh hưởng xấu đến sự phát triển của thảm thực vật Do vậy không khí,nước, đất bị ô nhiệm rất nặng
d) Ô nhiễm do ngành chế biến thực phẩm
Chất thải của các nhà máy chế biến thực phẩm làm ô nhiễm không khí, chủ yếu ởkhâu đốt lò, nồi hơi, thải ra nhiều bụi, khí độc (CO, CO2, SO2, NOx) và tạo ra nhiềuloại mùi hôi thối Các chất thải chứa đường, tinh bột, protêin được xả vào nước gây
ô nhiễm nước, tiếp tục thối rữa, phân huỷ trong môi trường này
e) Ô nhiễm do các ngành công nhiệp nhẹ
Các nhà máy dệt, nhà máy giấy, nhà máy thuốc lá, nhà máy xà phòng, nhà máythuộc da, chế biến cao su.v.v… đều thải ra không khí và nguồn nước làm ô nhiễmkhông khí, ô nhiễm nước, ô nhiễm đất
g) Ô nhiễm do ngành luyện kim
Chất thải của nhà máy luyện kim thường là:
- Rất nhiều bụi kim loại, đất đá có kích thước từ 10 đến 100m sinh ra trongquá trình tuyển quặng, nghiền đập, sàng lọc quặng,…
- Bụi nhỏ và khói thoát ra từ lò cao, lò mác tanh, lò luyện thép, băng chuyền vàkhâu làm sạch khuôn đúc
- Các khí CO, CO2, SO2, NOx, … sinh ra trong quá trình đốt cháy nhiên liệu
- Bụi và khí CO được sinh ra trong quá trình luyện gang
- Khí và bụi sinh ra trong quá trình luyện đồng, kẽm và các lim loại màu khácrất độc hại như oxýt đồng, thuỷ ngân, chì, v.v…
- Khí thải có nhiệt độ cao, từ 300400oC, có khí tới 800oC do ống khói cao,nhiệt độ của khí thải cao nên chất ô nhiễm bay xa, vùng bị ô nhiễm rộng
Trang 10Ngoài ra, vùng công nghiệp luyện kim còn sử dụng các sân bãi chứa quặng,chứa nguyên liệu, đường vận chuyển … Tất cả các yếu tố đó làm ô nhiễm khôngkhí, đất, nước, nhiệt v.v…
h) Ô nhiễm do các nhà máy cơ khí
Ở các nhà máy, xí nghiệp cơ khí thì nơi gây ra ô nhiễm nhiều nhất là xưởng đúc
và xưởng sơn, đặc biệt là các nhà máy sản xuất ô tô, máy kéo Sự ô nhiễm củaxưởng đúc tương tự như nhà máy luyện kim, còn xưởng sơn thì giống như nhà máyhoá chất
Bụi và khí thải ra từ các xưởng chính, từ xưởng rèn, đúc, xưởng nhiệt luyện,xưởng hàn,…; nhiệt toả ra từ xưởng đúc, xưởng rèn đập; tiếng ồn từ búa máy,… đếulàm môi trường bị ô nhiễm
i) Ô nhiễm do ngành giao thông vận tải
Đây là một nguồn gây ô nhiễm lớn cho không khí Hoạt động cuả giao thôngvận tải đã thải ra gần 2/3 lượng khí CO, hơn 4/100 lượng bụi, 1/37 lượng SOx, 3/5lượng CmHn và 2/5 lượng NOx do con người tạo ra Ngoài ra các phương tiện giaothông vận tải còn làm ô nhiễm môi trường nước (tạo mưa axít, rò rỉ dầu, tràn dầuhoặc đắm tàu chở dầu,…) Dầu, mỡ chất thải cuả sơn, mạ… cùng làm cho đất bị ônhiễm
Cũng cần phải nói thêm một vài vấn đề sau đây: Một năm con người sử dụngtới 35000 km3 nước thì riêng cho hoạt động công nghiệp đã là 8050 km3 (23%).Bình thường con người mỗi ngày cần 250 lít nước dùng cho sinh hoạt nhưng để làm
ra 1 lít bia phải cần khoảng 15 lít nước, 1 tấn giấy cần 250m3 nước, 1 tấn đạm cần600m3 nước, 1 tấn nhựa tổng hợp cần 2000 m3 nước, v.v…
Riêng 5 ngành công nghiệp: chế biến thực phẩm, hoá chất, dầu mỏ và than,giấy, luyện kim đã tiêu thụ gần 90% tổng lượng nước dùng cho công nghiệp
Nước thải ra từ các nhà máy, xí nghiệp rất đa dạng và phức tạp, phụ thuộc vàongành sản xuất, công nghệ, nguyên vật liệu, chất lượng sản phẩm
Trang 11Ngoài các cặn bẩn lơ lửng, trong nước thải có nhiều tạp chất hoá học: Các chấthữu cơ (axít, este, phenol, dầu, mỡ,…); Các chất độc (Xianua, Arsen, thuỷ ngân; cácmuối đồng, chì,…); Các chất gây nên mùi; các loại muối khoáng và một số chấtđồng vị phóng xạ.
Các váng dầu mỡ và sản phẩm dầu từ nước thải thành phố, từ nhà máy xínghiệp, từ phế thải của tàu bè xả xuống sông hồ là nguyên nhân cản trở quá trìnhhoà tan ôxy trong nước
Nước chứa các hoá chất độc, thiếu hụt ôxy, làm các loài thuỷ sinh như cá, tôm,động vật nguyên sinh… không sống được, ảnh hưởng đến hệ sinh thái và sức khoẻcon người
Các nguyên tố dinh dưỡng như nitơ, kali, photpho, và một số muối canxi,magiê, silic,… trong nước thải khi vào nguồn nước sẽ được phù du thực vật, các loạitảo lam hấp thụ, tạo nên sinh khối trong quá trình quang hợp Sự phát triển đột ngộtcủa tảo lam và một số tảo khác trong nguồn nước giầu chất đinh dưỡng làm chonước có mầu xanh và có mùi hôi Xác phù du, thực vật sẽ làm tăng lượng chất hữu
cơ có trong nguồn nước, tạo nên sự nhiễm bẩn thứ hai của nước nguồn
Các vi khuẩn gây bệnh có trong nước thải giàu chất hữu cơ, khi vào nguồnnước, một số có thể bị chết nhưng một số lại thích nghị với điều kiện mới, phát triểnlên, là nguyên nhân gây ra bệnh dịch cho người và cho động vật
Các nguồn ô nhiễm từ lục địa theo sông ngòi mang ra biển như dầu và sảnphẩm dầu, nước thải, phân bón nông nghiệp, thuốc trừ sâu, chất thải công nghiệp,chất thải phóng xạ và các chất ô nhiễm khác
Nước biển là một kho hoá chất tiềm tàng Đáy biển và đại dương có nhiều loạikhoáng sản quan trọng như dầu khí, các sa khoáng như thiếc, vàng, than, quặng sắt,quặng đồng, quặng photphorit, v.v… Hiện nay, một số loài khoáng sản trên đangđược khai thác ở nhiều vùng biển Trong đó, việc khai thác dầu khí trên biển có ảnhhưởng lớn nhất đến môi trường biển Hiện tượng rò rỉ dầu từ giàn khoan, cácphương tiện vận chuyển dầu khí và sự cố tràn dầu có chiều hướng gia tăng Màng
Trang 12dầu loang trên mặt nước ngăn cản quá trình hoà tan oxy từ không khí Cặn dầu lắngxuống dáy làm ô nhiễm trầm tích đáy biển Nhiều chất thải độc hại do con ngườithải ra biển một cách có ý thức và vô ý thức Loại hoá chất bền vững như DDT có ởkhắp các đại dương và tới 2/3 là do con người làm ra Một lượng lớn các chất thảiphóng xạ do một số nước bí mật đổ ra biển Việc nhấn chìm các loại đạn dược, bommìn, nhiên liệu tên lửa, thuốc nổ và dụng cụ chiến tranh.
Vận tải trên biển là một trong các nguyên nhân quan trọng gây ô nhiễm biển
Rò rỉ dầu, sự cố tràn dầu của các tàu, thuyền chiếm tới 50% nguồn ô nhiễm dầu trênbiển Các tai nạn đắm tàu thuyển đem theo phương tiện, hàng hoá cùng hoá chất độchại vào biển
Ô nhiễm không khí cũng tác động mạnh đến ô nhiễm biển Lượng CO2 caotrong không khí cũng sẽ làm tăng lượng CO2 hoà tan trong nước biển Nhiệt độ củakhí quyển Trái đất tăng lên do hiệu ứng nhà kính làm mực nước biển dâng cao vàmôi trường sinh thái biển thay đổi
Ngoài nguồn ô nhiễm nhân tạo kể trên, biển còn bị ô nhiễm do các quá trình tựnhiên như núi lửa phun trào, bão lụt, v.v…
Các hoạt động công nghiệp đã xả vào đất một lượng lớn các chất thải qua cácống khói, bãi rác, cống thoát nước,… Các chất thải này làm thay đổi thành phần củađất, độ pH, quá trình nitơrat hoá,… và hệ sinh vật trong đất sẽ bị ảnh hưởng
Quá trình khai thác khoáng sản làm ô nhiễm và suy thoát môi trường đất lànghiêm trọng nhất Khi khai thác mỏ, một lượng rất lớn phế thải, quặng, … từ lòngđất đưa lên mặt đất Mặc khác, thảm thực vật ở các vùng khai thác mở bị huỷ diệtlàm đất bị xói mòn Một lượng lớn chất thải, xỉ quặng theo khói và bụi bay vàokhông khí, sau đó lắng đọng rơi xuống có thể làm nhiễm bẩn đất với mức độ rộnglớn hơn
Chất thải rắn các khâu sản xuất và trong quá trình sử dụng sản phẩm của hoạtđộng công nghiệp thường được tập trung hoặc vận chuyển ra khỏi nhà máy, bằngcách này hay cách khác được quay trở lại môi trường đất và làm ô nhiễm đất
Trang 13Theo đặc tính lý hoá, các chất thải rắn công nhiệp có thể chia làm các nhómsau:
- Chất thải vô cơ: chất thải từ nhà máy, xí nghiệp mạ điện, thuỷ tinh, giấy, cặn
Một số sự cố của các nhà máy hoá chất lớn như nhà máy hoá chất ở Ấn Độ,Đức, ; đặc biệt sự cố ở các nhà máy điện hạt nhân như ở Checnôbưn năm 1987 đãlàm ô nhiễm không khí, đất, nước,…
Các hoạt động xây dựng nhà máy, bến bãi, đường xá,… sẽ phá huỷ thảm thựcvật và cảnh quan khu vực, làm thay đổi địa hình, cản trở dòng chảy, tạo điều kiệnxói mòn đất,…
Trên đây mới chỉ là những vấn đề chung về ô nhiễm môi trường do sản xuấtcông nghiệp gây nên
Trong chương trình môn Công nghệ phổ thông có nhiều nội dung liên quan đếnmôi trường và giáo dục môi trường; do đó có khả năng tích hợp giáo dục môi trườngthông qua dạy học bộ môn
Dưới đây là phần tóm tắt chương trình tích hợp giáo dục môi trường trong phầncông nghiệp ở cấp trung học phổ thông
(Bảng tổng hợp)
Trang 14III PHƯƠNG PHÁP TÍCH HỢP GDMT TRONG MÔN CÔNG NGHỆ
1 Phương pháp tích hợp GDMT
a) Quan niệm
- Tích hợp ở đây được hiểu là sự kết hợp, lồng ghép các mục tiêu khác nhau
thông qua một hoạt động nào đó
- Phương pháp tích hợp giáo dục môi trường
Ở đây nói đến phương pháp tích hợp giáo dục môi trường là nói đến cáchthức, con đường để đạt được các mục tiêu giáo dục môi trường thông qua mônhọc/hoạt động giáo dục cụ thể Chẳng hạn:
- Thông qua các bài dạy lý thuyết, thực hành của môn học;
- Thông qua tham quan thực tế;
- Thông qua ngoại khóa các nội dung có liên quan
………
2 Cơ sở của tích hợp GDMT trong dạy học môn Công nghệ
a) Quy luật về tính hệ thống, toàn vẹn của giáo dục
Giáo dục là một bộ phận (hệ thống con) của xã hội (hệ thống trên) trong mốiquan hệ với môi trường (tự nhiên và xã hội)
b) Các quy luật/tính quy luật về mối quan hệ giữa đối tượng và môi trường
Quy luật 1 Chủ thể phải tự biến đổi để thích ứng với môi trường.
Câu dân gian thường nói “ở bầu thì tròn, ở ống thì dài” hay “đi với bụt, mặc
áo cà sa; đi với ma, mặc áo giấy” phần nào nói lên quy luật này
Quy luật 2 Chủ thể có tác động đến môi trường, biến đổi môi trường phù hợp
với mình Trình độ tiến hóa của chủ thể càng cao thì tác động của chủ thể đến môitrường càng hiệu quả
Câu thơ “Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ” của cụ Nguyễn Du cũng xuấtphát từ quy luật ấy
Hai quy luật này nói lên mối quan hệ biện chứng giữa đối tượng và môitrường với tư cách là một hệ thống