1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Khảo sát tình hình nhiễm HPV và các genotype HPV (human papillomavirus) ở phụ nữ Việt Nam trong độ tuổi từ 18-69 bằng kỹ thuật sinh học phân tử

5 99 1

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 5
Dung lượng 385,91 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nghiên cứu được thực hiện với mục tiêu xác định tỉ lệ nhiễm HPV và các loại genotype HPV ở phụ nữ Việt Nam trong độ tuổi từ 18-69 được làm xét nghiệm tại bệnh viện Đại Học Y Dược thành phố Hồ Chí Minh và phòng xét nghiệm Y Khoa Âu Lạc bằng kỹ thuật sinh học phân tử.

Trang 1

KHẢO SÁT TÌNH HÌNH NHIỄM HPV VÀ CÁC GENOTYPE HPV (HUMAN PAPILLOMAVIRUS) Ở PHỤ NỮ VIỆT NAM TRONG ĐỘ TUỔI TỪ 18 – 69

BẰNG KỸ THUẬT SINH HỌC PHÂN TỬ

Lục Thị Vân Bích * , Cao Minh Nga * , Hồ Lê Ân * , Huỳnh Ngọc Phương Thảo *

TÓM TẮT

Mục tiêu nghiên cứu: Xác định tỉ lệ nhiễm HPV và các loại genotype HPV ở phụ nữ Việt Nam trong độ

tuổi từ 18-69 được làm xét nghiệm tại bệnh viện Đại Học Y Dược thành phố Hồ Chí Minh và phòng xét nghiệm

Y Khoa Âu Lạc bằng kỹ thuật sinh học phân tử

Phương pháp nghiên cứu: Thiết kế nghiên cứu mô tả cắt ngang Các số liệu liên quan đến nghiên cứu

được thu thập từ bệnh viện Đại Học Y Dược thành phố Hồ Chí Minh và phòng xét nghiệm Y khoa Âu Lạc

Kết quả: Tỷ lệ nhiễm HPV phát hiện bằng phương pháp PCR là 19,97% (258/1292), trong đó nhiễm các

type nguy cơ cao là 63,57%, nhiễm cả 2 nhóm vừa nguy cơ cao vừa nguy cơ thấp là 20,54% và nhiễm type nguy

cơ thấp là 15,89% Sự phân bố các type theo thứ tự như sau genotype 18, genotype 16 và genotype 58 Nhóm tuổi 20 – 29 có tỷ lệ nhiễm HPV theo nhóm tuổi cao nhất (chiếm 23,42%), sau đó là nhóm tuổi <20 (chiếm 23,08%) Nhóm tuổi 60 – 69 có tỷ lệ nhiễm HPV thấp nhất (chiếm 11,76%)

Kết luận: Tỷ lệ nhiễm HPV trong nghiên cứu khá cao 19,97% và sự phân bố các genotype HPV cũng

tương tự

Từ khóa: Vi rút HPV, ung thư cổ tử cung, type HPV

ABSTRACT

DETERMINATION OF HPV PREVALENCE AND HPV GENOTYPES IN VIETNAMESE WOMEN

AGED FROM 18 – 69 YEARS (WHO WERE) TESTED PCR

Luc Thi Van Bich, Cao Minh Nga, Ho Le An, Huynh Ngoc Phuong Thao

* Y Hoc TP Ho Chi Minh * Vol 15 - Supplement of No 2 - 2011: 190 - 194

Objectives: Determination of HPV prevalence and HPV genotypes in Vietnamese women aged

from 18 – 69 years (who were) tested PCR at University Hospital of Medicine and Pharmacy in Ho Chi Minh City and Au Lac Medicine Laboratory

Methods: Study design is cross-sectional descriptive study The data relating to the study were collected

based on the records of the results of Medicine University Hospital, Ho Chi Minh City and Laboratory Medicine

Au Lac

Results: Prevalence of HPV infection was 19.97% (258/1292) and the high risk HPV positive result was

63.57 %, 20.54% in both high-risk and low-risk HPV type and 15.9% in low risk types The most common HPV types in women were genotypes 18, 16 and 58 Highest HPV prevalence by age group was found in the 20 – 29 year age group (23.42%), followed by women younger than 20 years (23.08%) The lowest prevalence was found

in the 60 – 69 year age group

Conclusion: Prevalence of HPV infection detected by PCR was 19.97% and the most common HPV

genotypes in HCM city are similar to other regions in the world

Key words:

* Trường Đại Học Y Khoa Phạm Ngọc Thạch

Trang 2

ĐẶT VẤN ĐỀ

Ung thư cổ tử cung là bệnh lý phổ biến,

đứng hàng thứ 2 sau ung thư vú trong số các

ung thư ở phụ nữ trên thế giới và là nguyên

nhân gây tử vong đứng hàng thứ 5 ở giới nữ

Theo số liệu thống kê của Cơ Quan Nghiên Cứu

Quốc tế Về Ung Thư, trực thuộc Tổ Chức Y Tế

Thế Giới (WHO)(3), hàng năm có 500,000 ca mới

mắc và 270,000 ca tử vong trên toàn cầu, đặc biệt

phân nửa số trường hợp mắc ung thư cổ tử

cung xuất hiện ở Châu Á

Tại Việt Nam, ung thư cổ tử cung là loại ung

thư sinh dục thường gặp nhất và chiếm tỉ lệ

53,5% các loại ung thư ở nữ giới Đây là bệnh lý

ác tính có tỷ lệ mắc đứng hàng đầu ở phụ nữ

miền Nam và hàng thứ tư ở phụ nữ miền Bắc

Trong thập niên 70, HPV được mô tả như là

một trong những tác nhân gây biến đổi tế bào cổ

tử cung (dị sản cổ tử cung), tiền đề của ung thư

cổ tử cung(3) Khoảng trên 90% trường hợp ung

thư cổ tử cung được phát hiện có liên quan đến

nhiễm HPV

Human Papillomavirus có khoảng 120 type

Người ta phân biệt các type nguy cơ cao thường

gây ung thư và các type nguy cơ thấp ít khi làm

tiến triển đến ung thư Như vậy, việc tìm hiểu

về tình trạng nhiễm các genotype HPV ở phụ nữ

là vấn đề rất đáng quan tâm Tuy nhiên, để xác

định được tình trạng nhiễm HPV thì việc thực

hiện và triển khai kỹ thuật để chẩn đoán nhiễm

HPV đóng vai trò rất quan trọng và chính yếu

Với mong muốn góp phần vào việc tìm hiểu

sự phân bố tình hình nhiễm HPV nhằm hỗ trợ

cho việc tiên lượng khả năng diễn tiến bệnh

cũng như trong phòng ngừa ung thư cổ tử cung,

chúng tôi thực hiện đề tài “Khảo sát tình hình

nhiễm HPV và các genotype HPV ở phụ nữ Việt

Nam trong độ tuổi từ 18 đến 69 bằng kỹ thuật

sinh học phân tử”

Mục tiêu

- Xác định tỉ lệ nhiễm HPV – DNA bằng kỹ

thuật PCR

- Xác định tỉ lệ genotype HPV bằng kỹ thuật Reverse Dot Blot

- Tìm hiểu mối liên hệ nhiễm HPV theo lứa

tuổi

PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU Thiết kế nghiên cứu

Nghiên cứu mô tả cắt ngang

Đối tượng nghiên cứu

Phụ nữ Việt Nam trong độ tuổi từ 18 – 69

Tiêu chuẩn chọn mẫu

Tất cả các mẫu bệnh phẩm của bệnh nhân đến bệnh viện Đại Học Y Dược thành phố Hồ Chí Minh và phòng xét nghiệm Y Khoa Âu Lạc làm xét nghiệm PCR để chẩn đoán và định genotype HPV trong thời gian từ 1/1/2009 đến 1/7/2009

Bệnh nhân là nữ, quốc tịch Việt Nam, trong

độ tuổi từ 18 – 69, không phân biệt nơi cư trú và nghề nghiệp

Tiêu chuẩn loại trừ

Không thỏa tiêu chuẩn chọn mẫu, các trường hợp kết quả ghi không rõ ràng

KẾT QUẢ Đặc điểm nhóm phụ nữ tham gia nghiên cứu

Do trong quá trình thu thập mẫu, chúng tôi không thống kê được nơi cư trú và nghề nghiệp của nhóm phụ nữ trong nghiên cứu nên số liệu

về nơi ở và nghề nghiệp không được ghi nhận

Bảng 1 Phân bố nhóm nghiên cứu theo nhóm tuổi

Trang 3

Tỷ lệ nhiễm HPV

Trong tổng số 1292 bệnh phẩm, số bệnh

phẩm có HPV-DNA (+) là 258 trường hợp

(19,97%)

Tỷ lệ genotype HPV

Bảng 2 Phân bố tỉ lệ nhiễm các genotype HPV

(427 lượt/258 trường hợp)

Nhận xét:Có tất cả 15 type HPV nguy cơ cao

trong đó chiếm đa số là type 18 và 16 (chiếm

27,87% và 21,08%), kế đó là các type 58, 11 và 81

(chiếm 10,07%, 9,84% và 8,2%)

Có tất cả 8 type HPV nguy cơ thấp, trong

đó chiếm đa số là type 11 và 81 (chiếm 9,84%

và 8,2%)

Liên quan giữa nhóm tuổi và HPV

Bảng 3 Liên quan giữa nhóm tuổi và HPV

Nhóm

Số

Tổng số

BN theo nhóm tuổi

Nhận xét: nhóm tuổi 20 – 29 có tỷ lệ nhiễm HPV theo nhóm tuổi cao nhất (chiếm 24%), sau

đó là nhóm tuổi 40 – 49 (chiếm 20,32%), nhóm tuổi <20 có tỷ lệ nhiễm HPV thấp nhất (chiếm 7,69%)

BÀN LUẬN Phân bố tỷ lệ nhiễm HPV

Trong số các bệnh phẩm được làm xét nghiệm, tỷ lệ nhiễm HPV phát hiện bằng kỹ thuật PCR là 19,97% ( 258/1292 trường hợp) Tỷ

lệ này là cao hơn hẳn so với nghiên cứu của các tác giả nước ngoài: Anna R Giuliano(4), Paolo Giorgi Rossi(11), M Dai(2), JN I Vet(13) và cao hơn

so với nghiên cứu của các tác giả trong nước: Vũ Thị Nhung(12), Trần Thị Lợi(12) và Phạm Thị Hoàng Anh(10)

Tỷ lệ genotype HPV

Theo kết quả có được từ kỹ thuật Reverse Dot Blot, 1 mẫu bệnh phẩm có thể nhiễm 1 hay đồng nhiễm nhiều loại genotype cho 1 lần xét nghiệm định type Do đó trong 258 mẫu bệnh phẩm có HPV (+), chúng tôi có 427 lượt HPV/258 trường hợp Trong các type HPV nguy cơ cao, genotype HPV 18 chiếm tỷ lệ cao nhất (27,87% - 119/427), kế đến là HPV 16 (21,08% - 90/427) và HPV 58 (10,07% - 43/427) Trong các type nguy

cơ thấp: genotype HPV 11 chiếm tỷ lệ cao nhất (9,84% - 42/427), kế đến là HPV 81 (8,2% - 35/427)

và HPV 6 (4,68% - 20/427)

Những kết quả mà nghiên cứu của chúng tôi ghi nhận có sự khác biệt so với nghiên cứu của các tác giả khác: Anna R.Giuliano cho kết

Trang 4

quả: HPV 16 là type phổ biến nhất ở cả 2 quốc

gia Tiếp theo là HPV type 58, 45 là các type

phổ biến nhất ở Mexico, và HPV type 18, 31 là

các type phổ biến nhất ở Hoa Kỳ, nghiên cứu

của Paulo Giorgio Rossi(11) cho thấy HPV type

16, 31 và 51 là các type phổ biến nhất, nghiên

cứu của M Dai(2) cho thấy HPV type 16, 58, 52 là

3 type phổ biến, nghiên cứu của JN I Vet(13) xác

định được các type 52, 16, 18 là các type phổ

biến nhất, tại Việt Nam, nghiên cứu của Vũ Thị

Nhung(12) thì các type 18, 58, 16 là các type

thường gặp nhất

Qua đó, ta có thể thấy sự phân bố các type

là khác nhau tùy thuộc vào dân tộc và vùng

địa lý Tuy có khác nhau về sự phân bố các

type giữa các vùng địa lý khác nhau nhưng

nhìn chung type 16 luôn giữ vai trò quan

trọng, luôn xuất hiện trong 3 type hay gặp

nhất trong các nghiên cứu

Tham khảo thêm các nghiên cứu khác của

các tác giả thực hiện tại Việt Nam: nghiên cứu

của Trần Thị Lợi(12) thực hiện trên 1550 phụ nữ

tại thành phố Hồ Chí Minh cho kết quả: các

type HPV có tỷ lệ cao nhất các type 16, 18, 58

Nghiên cứu của Phạm Thị Hoàng Anh(10) thực

hiện trên 922 phụ nữ ở thành phố Hồ Chí

Minh và 994 phụ nữ ở Hà Nội năm 2003 đã

cho kết quả: các type HPV có tỷ lệ cao nhất là

các type 16, 58, 18 Nghiên cứu của Lê Trung

Thọ(7) thực hiện trên 1500 phụ nữ sống tại

Quận Hoàng Mai và Đông Anh – Hà Nội từ

tháng 4/2007 đến hết tháng 6/2008 cho kết

quả: các type HPV có tỷ lệ cao nhất là các type

18, 58, 16

Các type 16, 18 và 58 luôn là 3 type hay gặp

nhất tại Việt Nam qua 5 nghiên cứu ở 5 thời

điểm khác nhau cho thấy liệu type 16, 18, 58 có

phải là đặc trưng của sự phân bố các type HPV

ở Việt Nam nói riêng và Đông Nam Á nói

chung hay không

Mối liên hệ giữa nhiễm HPV và lứa tuổi

Tuổi trung bình của đối tượng trong mẫu

nghiên cứu là 35,44 tuổi Đa số tập trung ở

nhóm tuổi từ 30 – 39 (chiếm 41,64%), nhóm tuổi

từ 60 – 69 chiếm tỷ lệ thấp nhất (chiếm 1,32%)

Do sự phân bố không đồng đều giữa các nhóm tuổi trong mẫu nghiên cứu, cụ thể là thu nhận vào 60,22% người từ 30 – 49 tuổi Do đó chúng tôi phải phân tích riêng trong từng nhóm tuổi cụ

thể để đưa ra kết luận xác hợp

Trong 258 trường hợp có kết quả HPV (+): nhóm tuổi 20 – 29 có tỷ lệ nhiễm HPV theo nhóm tuổi cao nhất (chiếm 24%), sau đó là nhóm tuổi 40 - 49, nhóm tuổi 50 – 59 và nhóm tuổi 30 – 39 (chiếm tỷ lệ lần lượt là 20,32%; 20,31% và 17,66%), nhóm tuổi <20 có tỷ lệ nhiễm

HPV thấp nhất (chiếm 7,69%) Kết quả này của

chúng tôi có sự khác biệt với các nghiên cứu khác của các tác giả trong và ngoài nước về đỉnh tuổi nhiễm HPV theo nhóm tuổi Cụ thể là nghiên cứu của Anna R.Giuliano: nhóm tuổi 15 – 25 chiếm tỷ lệ cao nhất (22,7%), kế đến là các nhóm tuổi 26 – 35, nhóm tuổi 36 – 45 và nhóm tuổi 46 – 55 (chiếm tỷ lệ lần lượt là 13,2%; 10,7%

và 7,9%) Nghiên cứu của JN I Vet(13): nhóm tuổi

35 – 44 chiếm tỷ lệ cao nhất (15,2%), kế đến là các nhóm tuổi <25 và nhóm tuổi 25 – 34 (chiếm

tỷ lệ 11,4% và 11%) Nghiên cứu của Vũ Thị

Nhung(12): tỷ lệ nhiễm HPV tập trung cao nhất trong nhóm tuổi <20 (20%), kế đến là nhóm tuổi 20 – 29, nhóm tuổi 30 – 39 và nhóm tuổi

40 – 49 (chiếm tỷ lệ lần lượt là 14,59%; 12,53%

và 11,66%)

Tuy có sự khác nhau về đỉnh tuổi nhiễm HPV nhưng nhìn chung nhiễm HPV tập trung chủ yếu trong độ tuổi sinh sản và hoạt động tình dục Điều này chứng minh có sự lây nhiễm cao qua quan hệ tình dục(10)

KẾT LUẬN

Qua tiến hành nghiên cứu mô tả cắt ngang

để phát hiện nhiễm HPV và định genotype HPV

ở phụ nữ trong độ tuổi từ 18 – 69, kết quả được ghi nhận như sau:

- Tỷ lệ nhiễm HPV phát hiện bằng phương pháp PCR là 19,97%

- Có tất cả 23 type HPV được phát hiện Trong đó nhóm nguy cơ cao chiếm đa số là type

Trang 5

18, 16 và 58, nhóm nguy cơ thấp chiếm đa số là

type 11 và 81

- Nhóm tuổi 20 – 29 có tỷ lệ nhiễm HPV theo

nhóm tuổi cao nhất (chiếm 24%), sau đó là

nhóm tuổi 40 – 49 (chiếm 20,32%) Nhóm tuổi

<20 có tỷ lệ nhiễm HPV thấp nhất (chiếm 7,69%)

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Human Papillomavirus in Cervical Cancer: a worldwide

perspective Journal of The National Cancer Institute”, Vol 87,

11: 796 – 802

Province, People's Republic of China: a population-based study

British Journal of Cancer”, 95: 96 – 101

Cancer incidence, mortality and prevalence worldwide” IARC

Infection at the United State – Mexico Border: Implications for

Cervical Cancer Prevention and Control Cancer Epidemiology,

Biomarkers & Prevention”, Vol 10: 1129 – 1136

of human cancer Biochimica et Biophysica acta” 1228, 55–78

6 Kjaer SK & coll (2002): “Type specific persistence of high risk

human papillomavirus (HPV) as indicator of high grade cervical

squamous intraepithelial lesions in young women: population

based prospective follow up study” BMJ 325: 572

HPV ở cộng đồng phụ nữ Hà Nội – Tìm hiểu một số yếu tố liên

quan Y Học thành phố Hồ Chí Minh, tập 13”, 1: 185 – 189

papillomavirus testing to cervical cancer screening Yonsei Medical Journal” 43(6): 763 – 768

PCR-Based System for Simultaneous Quantification of Human Papillomavirus Types Associated with High Risk of Cervical Cancer Journal of Clinical Microbiology, Vol 41” 7: 3221 – 3228

Salvatore Vaccarella, Jennifer S Smith, Nguyen Thi Thuy, Nguyen Hoai Nga, Nguyen Ba Duc, Rhoda Ashley, Peter J F Snijders, Chris J L M Meijer, Nubia Muñoz, D Max Parkin, Silvia Franceschi (2003): “Human papillomavirus infection among women in South and North Vietnam International Journal of Cancer”, Vol 104, Issue 2, 213 – 220

types in cervical samples from the Italian general population: a population based study BMC Infectious Diseases”, 10: 214

Papillomavirus và các yếu tố liên quan của phụ nữ từ 18 đến 69 tuổi tại thành phố Hồ Chí Minh Y Học thành phố Hồ Chí Minh, tập 14”, 1: 311 – 320

Indonesia: a population-based study in three regions Indonesia British Journal of Cancer” 99: 214 – 218

HPV (Human Papillomavirus) ở phụ nữ thành phố Hồ Chí Minh bằng kỹ thuật sinh học phân tử Y Học thành phố Hồ Chí Minh, phụ bản chuyên đề ung bướu, tập 10”, số 4: 402 –

407

necessary cause of invasive cervical cancer worldwide Journal or Pathology” 189: 12 – 19

Ngày đăng: 22/01/2020, 03:42

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w