Nội dung bài viết với mục tiêu xác định tỷ lệ và các yếu tố nguy cơ của sa sút trí tuệ sau đột quỵ não. Nghiên cứu tiến hành 102 bệnh nhân được chẩn đoán đột quỵ não 3-12 tháng trước và thỏa tiêu chuẩn chọn bệnh được đưa vào nghiên cứu.
Trang 1SAU ĐỘT QUỊ NÃO
Nguyễn Thị Phương Nga*, Phạm Thị Mỹ Dung*, Lê Thị Thúy Uyên*, Trương Thị Trang*, Trương Kim Anh*
TÓM TẮT
Mục tiêu: chúng tôi xác định tỷ lệ và các yếu tố nguy cơ của sa sút trí tuệ sau đột quị não.
Phương pháp nghiên cứu: cắt ngang. 102 bệnh nhân được chẩn đoán đột quị não 3 – 12 tháng trước và
thỏa tiêu chuẩn chọn bệnh được đưa vào nghiên cứu.
Kết quả: tỷ lệ sa sút trí tuệ sau đột quị là 35,3%. Không có sự khác biệt về giới tính và tỷ lệ các yếu tố nguy
cơ mạch máu giữa nhóm có và không có sa sút trí tuệ sau đột quị. Sau khi phân tích đa biến, tuổi ≥ 75, học vấn dưới đại học, đột quị tái phát, teo não lan tỏa và tổn thương vùng chiến lược có liên quan độc lập với sa sút trí tuệ sau đột quị.
Kết luận: Suy giảm nhận thức thường gặp sau đột quị não. Nhiều yếu tố độc lập góp phần vào nguy cơ này
gồm tuổi ≥ 75, học vấn dưới đại học, đột quị tái phát, teo não lan tỏa và tổn thương vùng chiến lược.
Từ khóa: yếu tố nguy cơ, sa sút trí tuệ, sau đột quỵ não
ABSTRACT
THE PREVALENCE AND CLINICAL DETERMINANTS OF POST‐STROKE DEMENTIA
Nguyen Thi Phuong Nga, Pham Thi My Dung, Le Thi Thuy Uyen, Truong Thi Trang,
Truong Kim Anh* Y Hoc TP. Ho Chi Minh * Vol. 17 ‐ Supplement of No 3‐ 2013: 141 ‐ 146
Objective: The aim of this study was to determine the prevalence of post‐stroke dementia (PSD) and its
possible risk factors 3 – 12 months after stroke.
Methods: 102 patients were hospitalized with a diagnosis of stroke 3 – 12 months ago and met the inclusion
criteria were included in the study. All patients underwent a detailed neurological examination and clinical interview to determine the sociodemographic features, vascular risk factors and characteristics of cerebrovascular disease. Cranial imaging were also conducted. The cognitive status of the patients were evaluated with the Mini Mental State Examination (MMSE). Dementia at 3 – 12 month after stroke was diagnosed according to the criteria of the Diagnostic and Statistical Manual of Mental Disorders‐IV (DSM‐IV).
Results: Of the 102 patients included in the study, 36 (35.3%) were diagnosed with post‐stroke dementia.
There was no difference by sex and vascular risk factors among those with or without post‐stroke dementia. After multivariate adjustment, aged over 70 years (0.013), lower level of education (p = 0.007), recurrent stroke (p = 0.002), brain atrophy (p = 0.007) and strategic infarct (p = 0.03) were significantly associated with post‐stroke dementia
Conclusion: Cognitive decline is common after stroke. Our data suggest that multiple factors including
host characteristics (aged over 70 years, lower level of education), stroke features (brain atrophy, strategic infarct), and prior stroke each independently contribute to the risk.
Keywords: risk factors, post‐stroke dementia
* Bệnh viện Thống Nhất TP Hồ Chí Minh
Tác giả liên lạc: BS. Nguyễn Thị Phương Nga ĐT: 0908190633 Email: drngatk70@yahoo.com
Trang 2Sa sút trí tuệ mạch máu là một thể của sa
sút trí tuệ, bao gồm sa sút trí tuệ sau đột quị
não (poststroke dementia). Sa sút trí tuệ sau
ĐQ não được định nghĩa là sa sút trí tuệ 3
tháng sau ĐQ, không phụ thuộc vào thời gian
xuất hiện của sa sút trí tuệ[2]. Các thể sa sút trí
tuệ khác nhau có các yếu tố nguy cơ khác
nhau. Mặc dù có một số nghiên cứu trong và
ngoài nước nhưng cho đến nay tỷ lệ và các yếu
tố tiên đoán SSTT sau ĐQ não vẫn còn chưa
được thống nhất. Do đó chúng tôi thực hiện
nghiên cứu này nhằm các mục tiêu sau:
1. Xác định tỷ lệ của sa sút trí tuệ sau ĐQ
não.
2. Xác định các yếu tố nguy cơ của sa sút trí
tuệ sau ĐQ não.
ĐỐI TƯỢNG ‐ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Đối tượng nghiên cứu
Tiêu chuẩn chọn bệnh
Các bệnh nhân ĐQ não được chẩn đoán xác
định trong vòng 3 – 12 tháng trước khi đưa vào
nghiên cứu.
Tỉnh táo lúc được đánh giá.
Tiêu chuẩn loại trừ
Sa sút trí tuệ Alzheimer hoặc các nguyên
nhân khác.
Trầm cảm hoặc tâm thần phân liệt.
Không thể hợp tác nghiên cứu (không thể
thực hiện các test tâm thần kinh).
Phương pháp nghiên cứu
Thiết kế nghiên cứu
Cắt ngang.
Mẫu
Các bệnh nhân ĐQ não trong vòng 3 – 12
tháng trước khi được đưa vào nghiên cứu từ
tháng 9/2011 – 9/2012. Tổng cộng 102 trường hợp.
Thu thập dữ liệu
ĐQ não được chẩn đoán dựa và tiêu chuẩn
Chức năng nhận thức: Điểm MMSE với điểm cắt 24 (< 24 điểm: có suy giảm nhận thức, ≥
24 điểm: không suy giảm nhận thức).
SSTT được chẩn đoán bằng tiêu chuẩn DSM – IV. SSTT sau ĐQ (poststroke dementia) được định nghĩa là SSTT 3 tháng sau ĐQ, không phụ thuộc vào thời gian xuất hiện của SSTT(7).
Các biến số khác: tuổi, giới, trình độ học vấn, tình trạng làm việc, tình trạng hôn nhân, số lần đột quị não, tăng huyết áp, đái tháo đường, rung nhĩ, bệnh tim TMCB, hút thuốc lá, đặc điểm hình ảnh học cắt lớp điện toán/cộng hưởng từ.
Xử lý và phân tích dữ liệu
Dữ liệu được xử lý và phân tích bằng phần mềm SPSS 11.5. Mức p có ý nghĩa là < 0,05. Khoảng tin cậy 95% được xem là có ý nghĩa thống kê khi không chứa 1.
KẾT QUẢ
Mẫu nghiên cứu gồm 102 bệnh nhân ĐQ não trong vòng 3 ‐ 12 tháng trước thời điểm được đưa vào nghiên cứu.
Tỷ lệ sa sút trí tuệ sau đột quị não là 35,3% (36 trong 102 bệnh nhân).
Tuổi trung bình là 70,8 ± 9,7 (năm), nhỏ nhất
là 37 tuổi và cao nhất là 91 tuổi.
Nam chiếm tỉ lệ 76,5%, nữ 23,5%.
Mẫu nghiên cứu có đặc điểm học vấn cao (≥ đại học 54,9%), phần lớn có vợ/chồng (85,3%), và không làm việc (87,3%). Thời điểm ĐQ cách thời điểm đưa vào nghiên cứu trung bình 6,1 tháng (6,1 ± 4,5). Nhồi máu não chiếm tỉ lệ 84,3%, xuất huyết não 15,7%.
Phân tích đơn biến cho thấy tương quan có ý nghĩa thống kê giữa SSTT sau ĐQ với tuổi ≥ 70 (p < 0,001), học vấn dưới đại học (p < 0,001), sống cô đơn (p = 0,006), không làm việc (p = 0,03), ĐQ não tái phát (p < 0,001), teo não (p < 0,001), và tổn thương vị trí chiến lược (p = 0,019) (Bảng 1, 3). Các yếu tố nguy cơ mạch máu bao gồm tăng huyết áp, rung nhĩ, bệnh tim TMCB, hút thuốc lá, đái tháo đường không có liên quan
có ý nghĩa thống kê với SSTT sau ĐQ (bảng 2).
Trang 3toàn bộ các biến định tính có ý nghĩa khi phân
tích đơn biến cho thấy chỉ các biến tuổi ≥ 70, học
vấn < đại học, ĐQ não tái phát, teo não lan tỏa
và tổn thương vị trí chiến lược có liên quan độc
lập với SSTT sau ĐQ.
Bảng 1: Các yếu tố kinh tế xã hội ở nhóm bệnh nhân
có và không có SSTT sau ĐQ não:
SSTT sau
ĐQ (n = 36)
Không SSTT sau ĐQ (n = 66)
Tổng số (n = 102) P
Tuổi 76.7 (7.6) 67.6 (9.3) 0,001º<
Tuổi ≥ 70 29 (80,6) 29 (43,9) 58 (56,9) 0,001< g
Giới nữ 11 (30,6) 13 (19,7) 24 (23,5) 0,217 g
Học vấn <
đại học 25 (69,4) 21 (31,8) 46 (45,1)
<
0,001 g
Sống cô đơn 10 (27,8) 05 (7,6) 15 (14,7) 0,006 g
Không làm
việc 35 (97,2) 54 (81,8) 89 (87,3) 0,03*
Bảng được trình bày dưới dạng trung bình
(độ lệch chuẩn), tần suất (tỷ lệ %)
* Fisher’s Exact test (hai chiều); g χ2; º t – test
Bảng 2: Các yếu tố nguy cơ mạch ở nhóm bệnh nhân
có và không có SSTT sau ĐQ não:
SSTT sau
ĐQ (n = 36)
Không SSTT sau ĐQ (n = 66)
Tổng số (n = 102) P
Tăng huyết áp 33 (91,7) 55 (83,3) 88 (86,3) 0,368*
Rung nhĩ 02 (5,6) 02 (3,0) 04 (3,9) 0,612*
Bệnh tim TMCB 20 (55,6) 32 (48,5) 52 (51,0) 0,495 g
Hút thuốc lá 05 (13,9) 19 (28,8) 24 (23,5) 0,09 g
Đái tháo đường 13 (36,1) 20 (30,3) 33 (32,4) 0,549 g
Bảng được trình bày dưới dạng trung bình
(độ lệch chuẩn), tần suất (tỉ lệ %)
* Fisher’s Exact test (hai chiều); g χ2
Bảng 3: Các đặc điểm của đột quị não ở nhóm bệnh
nhân có và không có SSTT:
SSTT (n = 36)
Không SSTT (n = 66)
Tổng số (n = 102)
P
Đột quị > 1 lần 17 (47,2) 06 (9,1) 23 (22,5) < 0,001 g
Thể ĐQ não
Nhồi máu não 29 (80,6) 57 (86,4) 86
SSTT (n = 36)
Không SSTT (n = 66)
Tổng số (n = 102)
P
Xuất huyết não 07 (19,4) 09 (13,6) 16 0,441 g
Bên tổn thương
0,218º
Phải 15 (41,7) 24 (36,4) 39 Trái 11 (30,6) 31 (47,0) 42
2 bên 10 (27,8) 11 (16,7) 21 Teo não lan tỏa 14 (38,9) 04 (6,1) 18 (17,6) < 0,001 g
Tổn thương vùng một ổ 03 (8,3) 02 (3,0) 05 (4,9) 0,342* Tổn thương vùng
nhiều ổ 04 (11,1) 02 (3.0) 06 (5,9) 0,181* Tổn thương ≥ 1 ổ vị
trí chiến lược 12 (33,3) 09 (13,6) 21 (20,6) 0,019g
Lổ khuyết không ở vùng chiến lược 13 (36,1) 40 (60,6) 53 (52,0) 0,018g
Bảng được trình bày dưới dạng trung bình (độ lệch chuẩn), tần suất (tỉ lệ %)
* Fisher’s Exact test (hai chiều); g χ2; º Oneway Anova
Bảng 4: Các yếu tố nguy cơ của SSTT sau ĐQ qua
hồi qui logistic:
Yếu tố nguy cơ OR hiệu chỉnh * (KTC 95%) p
Tuổi ≥ 70 6,1 1,5 – 25,9 0,013 Học vấn < đại học 0,16 0,0 – 0,6 0,007
Cô đơn 2,1 0,4 – 10,4 0,345 Không làm việc 9,7 0,1 – 658,3 0,290
ĐQ não tái phát 9,5 2,3 – 38,5 0,002 Teo não lan tỏa 8,9 1,8 – 43,2 0,007 Tổn thương vị trí
chiến lược 5,1 1,2 – 22,5 0,03
* hiệu chỉnh tuổi ≥ 70, học vấn < đại học, tình trạng cô đơn, không làm việc, ĐQ não tái phát, teo não lan tỏa và tổn thương vị trí chiến lược.
BÀN LUẬN
Tỷ lệ sa sút trí tuệ sau ĐQ
Tỷ lệ SSTT tại thời điểm 3 ‐ 12 tháng sau ĐQ trong nghiên cứu của chúng tôi là 35,3%. Sự khác biệt giữa các nghiên cứu về tiêu chuẩn chẩn đoán (DSM‐IIIR, DSM‐IV, ICD‐10, NINDS‐ AIREN, ADDTC), cách chọn mẫu (từ dân số cộng đồng hay bệnh viện), các thang điểm đánh giá tình trạng nhận thức, và thời điểm đánh giá tình trạng nhận thức sau ĐQ làm cho tỷ lệ SSTT sau ĐQ của các nghiên cứu không hoàn toàn giống nhau (Bảng 5).
Trang 4Nghiên cứu Chúng
tôi L.Ng N Tín Ng Mỹ Hạnh Pohjasvaara T Tamam B Inzitari D Censori B
Tiêu chuẩn chẩn đoán DSM-IV DSM-IV DSM-IV DSM-III DSM-IV ICD-10 NINDS-AIREN Thang điểm MMSE
IADL
MMSE MMSE
IADL
WAIS-R MMSE MMSE MMSE
Pendlebury S. T. và cs (2009) nhận thấy tỷ lệ
SSTT sau ĐQ của nghiên cứu từ dữ liệu bệnh
viện cao hơn tỷ lệ từ dữ liệu cộng đồng [5]. Theo
Rasquin S. M. và cs (2005) tỷ lệ SSTT sau ĐQ
tương đối thống nhất giữa các nghiên cứu ngoại
trừ các nghiên cứu dùng tiêu chuẩn ICD‐10 và
ADDTC(8).
Tỷ lệ của chúng tôi ở giới hạn trên của
khoảng tỷ lệ bệnh theo báo cáo từ y văn (5,9% ‐
32%)(3). Tỷ lệ này tương đương tỷ lệ của các tác
giả Lê Nguyễn Nhựt Tín (40,4%), Nguyễn Mỹ
Hạnh (27%), Pohjasvaara T. (31,8%), Tamam B.
(30,2%) vốn có tiêu chuẩn chẩn đoán và các
thang điểm đánh giá nhận thức giống hoặc
tương đương nhau(6,7,10,12). Tỷ lệ SSTT sau ĐQ của
chúng tôi cao hơn của tác giả Khedr E. M. và cs
(35,3% so với 21%); điều này có thể do mẫu của
Khedr E. M chỉ gồm bệnh nhân ĐQ lần đầu và
điểm cắt xác định suy giảm nhận thức theo
thang điểm MMSE thấp hơn của chúng tôi (21
so với 24)(2).
Các yếu tố nguy cơ của SSTT sau ĐQ não
Các nghiên cứu cho đến nay cũng như y văn
đều cho thấy tuổi là yếu tố nguy cơ quan trọng
của SSTT sau ĐQ não cũng như bệnh
Alzheimer(,2,4,6,7,8,9,10,11). Trong nghiên cứu của
chúng tôi, tuổi trung bình của nhóm SSTT sau
ĐQ cao hơn có có ý nghĩa thống kê so với nhóm
không có SSTT sau ĐQ (76,7 so với 67,6 với p =
0,001); và ≥ 70 tuổi có liên quan độc lập với SSTT
sau ĐQ khi phân tích đa biến (p = 0,013). Tuổi là
yếu tố nguy cơ quan trọng nhất của bệnh
Alzheimer cũng như của đột quị não(12). Các yếu
tố nguy cơ của bệnh mạch máu não thường gặp
ở các bệnh nhân Alzheimer, và nhiều bệnh nhân
được chẩn đoán SSTT sau ĐQ có suy giảm nhận
học của bệnh mạch máu não và bệnh học kiểu Alzheimer có thể cùng biểu hiện trên một tỉ lệ nhất định các bệnh nhân SSTT sau ĐQ. Hay nói cách khác bệnh nhân lớn tuổi hơn bị ĐQ não thì
có nguy cơ SSTT cao hơn.
Trình độ học vấn được ghi nhận có liên quan với bệnh Alzheimer(3,12). Chúng tôi nhận thấy tỷ
lệ bệnh nhân có học vấn dưới đại học ở nhóm có
và không có SSTT sau ĐQ có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (69,4% so với 31,8%, p < 0,001);
và đây là tương quan độc lập khi phân tích đa biến (p = 0,007). Các nghiên cứu khác cũng nhận thấy học vấn thấp hơn có liên quan SSTT sau
ĐQ(2,4,6,7,8). Dường như các bệnh nhân có trình độ học vấn cao hơn được trang bị nhiều kiến thức hơn nên có thể bù đắp cho sự suy giảm nhận thức.
Chúng tôi nhận thấy giới tính không có liên quan có ý nghĩa thống kê với SSTT sau ĐQ (p = 0,217). Kết quả này phù hợp với y văn và nhận định của Phan Mỹ Hạnh (2006), Khedr E. M và
cs (2009), Pohjasvaara T và cs (1998), Tamam B
và cs (2008)(2,6,7,10). Trong nghiên cứu của chúng tôi, sống cô đơn (độc thân hoặc góa bụa) và không làm việc (thất nghiệp hoặc hưu) có liên quan với SSTT sau ĐQ khi phân tích đơn biến nhưng không có tương quan độc lập khi phân tích đa biến (p lần lượt là 0,345 và 0,290). Cho đến nay, các nghiên cứu trên bệnh nhân đột quị não cho kết quả không thống nhất(1,7,10). Hơn nữa, sống cô đơn và không làm việc có thể là hệ quả của tuổi tác cao vốn có liên quan đã được chứng minh với SSTT sau ĐQ.
Dữ liệu từ y văn về tương quan giữa các yếu
tố nguy cơ mạch máu với SSTT sau ĐQ không thống nhất(,2,4,6,7,9,11). Chúng tôi không thấy liên quan có ý nghĩa thống kê giữa tăng huyết áp,
Trang 5bệnh tim TMCB, đái tháo đường, hút thuốc lá,
rung nhĩ với SSTT sau ĐQ. Liên quan giữa các
yếu tố nguy cơ mạch máu với SSTT sau ĐQ chỉ
được phân tích đơn biến trong hầu hết các
nghiên cứu cho kết quả dương tính(2,4,6,10).
Pohjasvaara T (1998), Barba R. (2002), Sachdev P.
S (2006), Tamam B. (2008) không chứng minh
được liên quan giữa SSTT sau ĐQ với các yếu tố
nguy cơ mạch máu(,7,9). Như vậy, các yếu tố nguy
cơ mạch máu là yếu tố nguy cơ của ĐQ hơn là
của SSTT sau ĐQ và tác động lên nhận thức nếu
có là thông qua cơ chế gây tổn thương mô não
do ĐQ.
Chúng tôi nhận thấy tỷ lệ ĐQ não tái phát
(ĐQ > 1 lần) trong nhóm có SSTT sau ĐQ là
47,2% so với trong nhóm không SSTT sau ĐQ là
9,1% (p < 0,001). ĐQ não tái phát có tương quan
độc lập với SSTT sau ĐQ khi phân tích đa biến
(p = 0,002). Một phân tích gộp của Pendlebury S.
T (2009) cho tỷ lệ SSTT sau ĐQ não lần đầu là
23,0%, SSTT sau ĐQ não tái phát là 41,3%(5).
Kokmen E. và cs (1996) cho rằng ĐQ não lần thứ
hai là yếu tố tiên đoán độc lập của SSTT sau
ĐQ(10). Các kết quả trên gợi ý rằng sự tích lũy các
tổn thương do bệnh lý mạch máu não có thể gây
suy giảm nhận thức không hồi phục.
Chúng tôi nhận thấy tỷ lệ nhồi máu não và
xuất huyết não trong nhóm SSTT sau ĐQ và
không SSTT sau ĐQ không có sự khác biệt có ý
nghĩa thống kê (p = 0,441). Lê Nguyễn Nhựt Tín
(2008), Barba R và cs (2002), Tamam B. và cs
(2008) cũng kết luận SSTT sau ĐQ dường như
không phụ thuộc vào thể ĐQ nhồi máu não hay
xuất huyết não(4,10).
Y văn nhận thấy tổn thương bán cầu trái
(thường là bán cầu ưu thế) có thể gây SSTT do
ảnh hưởng các chức năng ngôn ngữ, trí nhớ và
nhận thức chung, vốn là những biểu hiện thiết
yếu của SSTT(1,4,6,7). Chúng tôi phân tích post‐hoc
so sánh tỷ lệ tổn thương bên trái, bên phải và hai
bên nhận thấy không có sự khác biệt có ý nghĩa
thống kê giữa hai nhóm có và không có SSTT
sau ĐQ (p = 0,218). Các tác giả Rasquin S. M. C
và cs (2004), Sachdev P. S và cs (2006), Tamam B
và cs (2008) cho kết quả tương tự(9,10,11). Trong nghiên cứu của chúng tôi, tỷ lệ teo não lan tỏa trong nhóm có và không có SSTT sau
ĐQ lần lượt là 38,9% và 6,1% (p < 0,001). Teo não lan tỏa có liên quan độc lập với SSTT sau ĐQ khi phân tích đa biến (p = 0,007). Các nghiên cứu của Hénon H. (2002), Vinters H. V. và cs (2006), Rasquin S. M. C và cs (2004), Sachdev P. S và cs (2006) cho kết quả không thống nhất(1,8,10). Điều này có thể do các nghiên cứu khác nhau về cách đánh giá (định tính hay định lượng), phương tiện đánh giá với độ nhạy khác nhau (CT hay MRI) và mẫu nghiên cứu(8,9). Ngoài ra, teo não toàn bộ không đặc trưng riêng cho quá trình thoái hóa kiểu Alzheimer hoặc bệnh lý mạch máu não mà có thể là do sự kết hợp của cả hai quá trình vốn thường gặp trên bệnh nhân SSTT sau ĐQ.
Nhồi máu vùng (đường kính > 15 mm) do bệnh lý mạch máu lớn, nhồi máu lổ khuyết (đường kính < 15 mm) tương ứng với bệnh lý mạch máu nhỏ. Vị trí “chiến lược” là những vùng ở vỏ não hay dưới vỏ có chức năng quan trọng bao gồm đồi thị, chất trắng thùy trán, hạch nền, hồi góc, vùng phân bố động mạch não trước, não giữa, não sau. Những vùng chiến lược này có thể tổn thương do nhồi máu vùng hay lổ khuyết. Chúng tôi so sánh tổn thương vùng và lổ khuyết ở vị trí chiến lược giữa 2 nhóm có và không có SSTT sau ĐQ và nhận thấy có tương quan có ý nghĩa thống kê khi phân tích đơn biến (p = 0,019) và đa biến (p = 0,03). Nguyễn Mỹ Hạnh (2006) nhận thấy tỷ lệ tổn thương vùng chiến lược 2 nhóm bệnh nhân
có và không có SSTT sau ĐQ lần lượt là 54% và 16,2%(6). Y văn ghi nhận rằng nhồi máu ở những vùng nhất định như đồi thị, bao trong, nhân nền
có vai trò quan trọng gây SSTT sau ĐQ(11). Nguyên nhân là do những vùng chiến lược về chức năng này cũng là những vùng đảm trách chức năng nhận thức của não.
Tổn thương vùng một ổ và nhiều ổ không ở
vị trí chiến lược về chức năng không có liên
Trang 6quan có ý nghĩa thống kê với SSTT sau ĐQ (p
lần lượt là 0,342 và 0,181). Các tác giả Rasquin S.
M. C và cs (2004), Hénon H. và cs (2002) cũng có
cùng nhận định(1,8). Chúng tôi nhận thấy nhồi
máu lổ khuyết không ở vị trí chiến lược không là
yếu tố nguy cơ của SSTT sau ĐQ (p = 0,018). Kết
quả này phù hợp với một số quan điểm cho
rằng lổ khuyết ở những vùng nhất định như
chất xám trung tâm (đồi thị, hạch nền), là vị trí
“chiến lược” mà chúng tôi đã đề cập, có thể có
vai trò quan trọng hơn các lổ khuyết ở vị trí khác
trong việc gây SSTT(11).
Nghiên cứu của chúng tôi và Rasquin S. M
(2005) không cho thấy tổn thương chất trắng có
liên quan có ý nghĩa thống kê với SSTT sau
ĐQ(8). Dấu hiệu này thường gặp ở người có chức
năng nhận thức bình thường cũng như ở những
bệnh nhân Alzheimer(11).
Nghiên cứu của chúng tôi có một số hạn chế.
Thứ nhất, đây là một nghiên cứu cắt ngang và
các bệnh nhân được đánh giá sau ĐQ nên không
thể loại trừ hoàn toàn các bệnh nhân có suy
giảm nhận thức nhẹ kiểu bệnh học Alzheimer
trước ĐQ vào trong mẫu nghiên cứu. Thứ hai,
do bệnh viện Thống Nhất chủ yếu điều trị cán
bộ trung cao cấp nên mẫu nghiên cứu có đặc
điểm là tuổi cao và trình độ học vấn cao nên
không hoàn toàn đại diện cho cộng đồng. Thứ
ba, không phải tất cả bệnh nhân của chúng tôi
đều được làm MRI, do đó khả năng phát hiện
các thông số hình ảnh học giảm.
KẾT LUẬN
Chúng tôi nhận thấy SSTT sau ĐQ là một
biến chứng thường gặp của ĐQ não.
1. Tỷ lệ SSTT sau ĐQ tại thời điểm 3 – 12
tháng sau ĐQ não là 35,3%.
2. Các yếu tố nguy cơ của SSTT sau ĐQ gồm: tuổi, trình độ học vấn thấp hơn, ĐQ tái phát, teo não lan tỏa và tổn thương vùng chiến lược trên hình ảnh học.
3. Việc điều trị dự phòng ĐQ tái phát có ý nghĩa quan trọng làm giảm gánh nặng của sa sút trí tuệ sau ĐQ cho gia đình và xã hội.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 Hénon H (2002). Neuroimaging predictors of dementia in stroke patients. Clin Exp Hypertens.;24(7‐8):677‐86.
2 Khedr E. M., Hamed S. A., et al (2009). Cognitive impairment after cerebrovascular stroke: relationship to vascular risk
factors. Neuropsychiatric Disease and Treatment;5: 103–116.
3 Lê Minh. Sa sút trí tuệ (2004). Thần kinh học lâm sàng. Trang
524‐543.
4 Lê Nguyễn Nhựt Tín, Vũ Anh Nhị (2008). Tần suất và yếu tố nguy cơ của sa sút trí tuệ sau đột quị: khảo sát tiền cứu 218
bệnh nhân tại khoa Thần kinh bệnh viện Chợ Rẫy. Y học TP.
Hồ Chí Minh; 12(1): 336‐311.
5 Pendlebury S. T. (2009). Stroke‐related dementia: Rates, risk factors and implications for future research. Maturitas.
Volume 64, Issue 3 , Pages 165–17.
6 Phan Mỹ Hạnh, Phan Công Tân (2006). Sa sút trí tuệ sau nhồi máu não: tần suất và yếu tố nguy cơ. Thankinhhoc.com.
7 Pohjasvaara T., Erkinjuntti T., et al (1998). Clinical
Determinants of Poststroke Dementia. Stroke;29;75‐81.
8 Rasquin S. M. C., Verhey F. R. J., et al (2004). Demographic and CT scan features related to cognitive impairment in the
first year after stroke. J Neurol Neurosurg Psychiatry;75:1562–
1567.
9 Sachdev P. S., Brodaty H., et al (2006). Clinical Determinants
of Dementia and Mild Cognitive Impairment following
Ischaemic Stroke: The Sydney Stroke Study. Dement Geriatr
Cogn Disord;21:275–283.
10 Tamam B., Taşdemir N., et al (2008). The Prevalence of Dementia Three Months after Stroke and its Risk Factors.
Turkish Journal of Psychiatry; 19(1):1‐9.
11 Vinters H. V. and Selnes O. A. (2006). Vascular cognitive
impairment. Nature clinical practice Neurology. Vol 2 No 10:
538‐548.
12 Vũ Anh Nhị (2007). Sa sút trí tuệ. Sổ tay lâm sàng thần kinh sau
đại học. Trang 41‐57.
Ngày nhận bài báo 01‐7‐2013 Ngày phản biện nhận xét bài báo: 10‐7‐2013 Ngày bài báo được đăng: 01‐8‐2013