1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Tỷ lệ và các yếu tố nguy cơ của sa sút trí tuệ sau đột quị não

6 80 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 6
Dung lượng 413,11 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nội dung bài viết với mục tiêu xác định tỷ lệ và các yếu tố nguy cơ của sa sút trí tuệ sau đột quỵ não. Nghiên cứu tiến hành 102 bệnh nhân được chẩn đoán đột quỵ não 3-12 tháng trước và thỏa tiêu chuẩn chọn bệnh được đưa vào nghiên cứu.

Trang 1

SAU ĐỘT QUỊ NÃO 

Nguyễn Thị Phương Nga*, Phạm Thị Mỹ Dung*, Lê Thị Thúy Uyên*, Trương Thị Trang*, Trương Kim Anh* 

TÓM TẮT 

Mục tiêu: chúng tôi xác định tỷ lệ và các yếu tố nguy cơ của sa sút trí tuệ sau đột quị não. 

Phương pháp nghiên cứu: cắt ngang. 102 bệnh nhân được chẩn đoán đột quị não 3 – 12 tháng trước và 

thỏa tiêu chuẩn chọn bệnh được đưa vào nghiên cứu. 

Kết quả: tỷ lệ sa sút trí tuệ sau đột quị là 35,3%. Không có sự khác biệt về giới tính và tỷ lệ các yếu tố nguy 

cơ mạch máu giữa nhóm có và không có sa sút trí tuệ sau đột quị. Sau khi phân tích đa biến, tuổi ≥ 75, học vấn  dưới đại học, đột quị tái phát, teo não lan tỏa và tổn thương vùng chiến lược có liên quan độc lập với sa sút trí  tuệ sau đột quị. 

Kết luận: Suy giảm nhận thức thường gặp sau đột quị não. Nhiều yếu tố độc lập góp phần vào nguy cơ này 

gồm tuổi ≥ 75, học vấn dưới đại học, đột quị tái phát, teo não lan tỏa và tổn thương vùng chiến lược. 

Từ khóa: yếu tố nguy cơ, sa sút trí tuệ, sau đột quỵ não 

ABSTRACT 

THE PREVALENCE AND CLINICAL DETERMINANTS OF POST‐STROKE DEMENTIA 

Nguyen Thi Phuong Nga, Pham Thi My Dung, Le Thi Thuy Uyen, Truong Thi Trang, 

 Truong Kim Anh* Y Hoc TP. Ho Chi Minh * Vol. 17 ‐ Supplement of No 3‐ 2013: 141 ‐ 146 

Objective:  The  aim  of  this  study  was  to  determine  the  prevalence  of  post‐stroke  dementia  (PSD)  and  its 

possible risk factors 3 – 12 months after stroke.  

Methods: 102 patients were hospitalized with a diagnosis of stroke 3 – 12 months ago and met the inclusion 

criteria  were  included  in  the  study.  All  patients  underwent  a  detailed  neurological  examination  and  clinical  interview to determine the sociodemographic features, vascular risk factors and characteristics of cerebrovascular  disease. Cranial imaging were also conducted. The cognitive status of the patients were evaluated with the Mini  Mental  State  Examination  (MMSE).  Dementia  at  3  –  12  month  after  stroke  was  diagnosed  according  to  the  criteria of the Diagnostic and Statistical Manual of Mental Disorders‐IV (DSM‐IV). 

Results: Of the 102 patients included in the study, 36 (35.3%) were diagnosed with post‐stroke dementia. 

There was no difference by sex and vascular risk factors among those with or without post‐stroke dementia.  After  multivariate adjustment, aged over 70 years (0.013), lower level of education (p = 0.007), recurrent stroke (p =  0.002), brain atrophy (p = 0.007) and strategic infarct (p = 0.03) were significantly associated with post‐stroke  dementia  

Conclusion:  Cognitive  decline  is  common  after  stroke.  Our  data  suggest  that  multiple  factors  including 

host characteristics (aged over 70 years, lower level of education), stroke features (brain atrophy, strategic infarct),  and prior stroke each independently contribute to the risk. 

Keywords: risk factors, post‐stroke dementia 

* Bệnh viện Thống Nhất TP Hồ Chí Minh 

Tác giả liên lạc: BS. Nguyễn Thị Phương Nga   ĐT: 0908190633    Email: drngatk70@yahoo.com  

Trang 2

Sa  sút  trí  tuệ  mạch  máu  là  một  thể  của  sa 

sút  trí  tuệ,  bao  gồm  sa  sút  trí  tuệ  sau  đột  quị 

não  (poststroke  dementia).  Sa  sút  trí  tuệ  sau 

ĐQ  não  được  định  nghĩa  là  sa  sút  trí  tuệ  3 

tháng sau ĐQ, không phụ thuộc vào thời gian 

xuất hiện của sa sút trí tuệ[2]. Các thể sa sút trí 

tuệ  khác  nhau  có  các  yếu  tố  nguy  cơ  khác 

nhau.  Mặc  dù  có  một  số  nghiên  cứu  trong  và 

ngoài nước nhưng cho đến nay tỷ lệ và các yếu 

tố  tiên  đoán  SSTT  sau  ĐQ  não  vẫn  còn  chưa 

được  thống  nhất.  Do  đó  chúng  tôi  thực  hiện 

nghiên cứu này nhằm các mục tiêu sau:  

1. Xác định tỷ lệ của sa sút trí tuệ sau ĐQ 

não. 

2. Xác định các yếu tố nguy cơ của sa sút trí 

tuệ sau ĐQ não.  

ĐỐI TƯỢNG ‐ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 

Đối tượng nghiên cứu 

Tiêu chuẩn chọn bệnh 

Các bệnh nhân ĐQ não được chẩn đoán xác 

định trong vòng 3 – 12 tháng trước khi đưa vào 

nghiên cứu. 

Tỉnh táo lúc được đánh giá. 

Tiêu chuẩn loại trừ 

Sa  sút  trí  tuệ  Alzheimer  hoặc  các  nguyên 

nhân khác.  

Trầm cảm hoặc tâm thần phân liệt. 

Không  thể  hợp  tác  nghiên  cứu  (không  thể 

thực hiện các test tâm thần kinh). 

Phương pháp nghiên cứu 

Thiết kế nghiên cứu 

Cắt ngang. 

Mẫu 

Các  bệnh  nhân  ĐQ  não  trong  vòng  3  –  12 

tháng  trước  khi  được  đưa  vào  nghiên  cứu  từ 

tháng 9/2011 – 9/2012. Tổng cộng 102 trường hợp. 

Thu thập dữ liệu 

ĐQ não được chẩn đoán dựa và tiêu chuẩn 

Chức  năng  nhận  thức:  Điểm  MMSE  với  điểm cắt 24 (< 24 điểm: có suy giảm nhận thức, ≥ 

24 điểm: không suy giảm nhận thức). 

SSTT được chẩn đoán bằng tiêu chuẩn DSM  –  IV.  SSTT  sau  ĐQ  (poststroke  dementia)  được  định nghĩa là SSTT 3 tháng sau ĐQ, không phụ  thuộc vào thời gian xuất hiện của SSTT(7). 

Các biến số khác: tuổi, giới, trình độ học vấn,  tình trạng làm việc, tình trạng hôn nhân, số lần  đột quị não, tăng huyết áp, đái tháo đường, rung  nhĩ,  bệnh  tim  TMCB,  hút  thuốc  lá,  đặc  điểm  hình ảnh học cắt lớp điện toán/cộng hưởng từ.  

Xử lý và phân tích dữ liệu 

Dữ liệu được xử lý và phân tích bằng phần  mềm  SPSS  11.5.  Mức  p  có  ý  nghĩa  là  <  0,05.  Khoảng  tin  cậy  95%  được  xem  là  có  ý  nghĩa  thống kê khi không chứa 1. 

KẾT QUẢ  

Mẫu  nghiên  cứu  gồm  102  bệnh  nhân  ĐQ  não  trong  vòng  3  ‐  12  tháng  trước  thời  điểm  được đưa vào nghiên cứu. 

Tỷ lệ sa sút trí tuệ sau đột quị não là 35,3%  (36 trong 102 bệnh nhân). 

Tuổi trung bình là 70,8 ± 9,7 (năm), nhỏ nhất 

là 37 tuổi và cao nhất là 91 tuổi. 

Nam chiếm tỉ lệ 76,5%, nữ 23,5%.  

Mẫu nghiên cứu có đặc điểm học vấn cao (≥  đại học 54,9%), phần lớn có vợ/chồng (85,3%), và  không làm việc (87,3%). Thời điểm ĐQ cách thời  điểm đưa vào nghiên cứu trung bình  6,1  tháng  (6,1 ± 4,5). Nhồi máu não chiếm tỉ lệ 84,3%, xuất  huyết não 15,7%. 

Phân tích đơn biến cho thấy tương quan có ý  nghĩa thống kê giữa SSTT sau ĐQ với tuổi ≥ 70  (p  <  0,001),  học  vấn  dưới  đại  học  (p  <  0,001),  sống  cô  đơn  (p  =  0,006),  không  làm  việc  (p  =  0,03),  ĐQ  não  tái  phát  (p  <  0,001),  teo  não  (p  <  0,001), và tổn thương vị trí chiến lược (p = 0,019)  (Bảng 1, 3).  Các  yếu  tố  nguy  cơ  mạch  máu  bao  gồm  tăng  huyết  áp,  rung  nhĩ,  bệnh  tim  TMCB,  hút thuốc lá, đái tháo đường không có liên quan 

có ý nghĩa thống kê với SSTT sau ĐQ (bảng 2).  

Trang 3

toàn bộ các biến định tính có ý  nghĩa  khi  phân 

tích đơn biến cho thấy chỉ các biến tuổi ≥ 70, học 

vấn < đại học, ĐQ não tái phát, teo não lan tỏa 

và tổn thương vị trí chiến lược có liên quan độc 

lập với SSTT sau ĐQ. 

Bảng 1: Các yếu tố kinh tế xã hội ở nhóm bệnh nhân 

có và không có SSTT sau ĐQ não: 

SSTT sau

ĐQ (n = 36)

Không SSTT sau ĐQ (n = 66)

Tổng số (n = 102) P

Tuổi 76.7 (7.6) 67.6 (9.3) 0,001º<

Tuổi ≥ 70 29 (80,6) 29 (43,9) 58 (56,9) 0,001< g

Giới nữ 11 (30,6) 13 (19,7) 24 (23,5) 0,217 g

Học vấn <

đại học 25 (69,4) 21 (31,8) 46 (45,1)

<

0,001 g

Sống cô đơn 10 (27,8) 05 (7,6) 15 (14,7) 0,006 g

Không làm

việc 35 (97,2) 54 (81,8) 89 (87,3) 0,03*

Bảng  được  trình  bày  dưới  dạng  trung  bình 

(độ lệch chuẩn), tần suất (tỷ lệ %) 

* Fisher’s Exact test (hai chiều); g χ2; º t – test 

Bảng 2: Các yếu tố nguy cơ mạch ở nhóm bệnh nhân 

có và không có SSTT sau ĐQ não:   

SSTT sau

ĐQ (n = 36)

Không SSTT sau ĐQ (n = 66)

Tổng số (n = 102) P

Tăng huyết áp 33 (91,7) 55 (83,3) 88 (86,3) 0,368*

Rung nhĩ 02 (5,6) 02 (3,0) 04 (3,9) 0,612*

Bệnh tim TMCB 20 (55,6) 32 (48,5) 52 (51,0) 0,495 g

Hút thuốc lá 05 (13,9) 19 (28,8) 24 (23,5) 0,09 g

Đái tháo đường 13 (36,1) 20 (30,3) 33 (32,4) 0,549 g

Bảng  được  trình  bày  dưới  dạng  trung  bình 

(độ lệch chuẩn), tần suất (tỉ lệ %) 

* Fisher’s Exact test (hai chiều); g χ2 

Bảng 3: Các đặc điểm của đột quị não ở nhóm bệnh 

nhân có và không có SSTT:   

SSTT (n = 36)

Không SSTT (n = 66)

Tổng số (n = 102)

P

Đột quị > 1 lần 17 (47,2) 06 (9,1) 23 (22,5) < 0,001 g

Thể ĐQ não

Nhồi máu não 29 (80,6) 57 (86,4) 86

SSTT (n = 36)

Không SSTT (n = 66)

Tổng số (n = 102)

P

Xuất huyết não 07 (19,4) 09 (13,6) 16 0,441 g

Bên tổn thương

0,218º

Phải 15 (41,7) 24 (36,4) 39 Trái 11 (30,6) 31 (47,0) 42

2 bên 10 (27,8) 11 (16,7) 21 Teo não lan tỏa 14 (38,9) 04 (6,1) 18 (17,6) < 0,001 g

Tổn thương vùng một ổ 03 (8,3) 02 (3,0) 05 (4,9) 0,342* Tổn thương vùng

nhiều ổ 04 (11,1) 02 (3.0) 06 (5,9) 0,181* Tổn thương ≥ 1 ổ vị

trí chiến lược 12 (33,3) 09 (13,6) 21 (20,6) 0,019g

Lổ khuyết không ở vùng chiến lược 13 (36,1) 40 (60,6) 53 (52,0) 0,018g

Bảng  được  trình  bày  dưới  dạng  trung  bình  (độ lệch chuẩn), tần suất (tỉ lệ %) 

* Fisher’s Exact test (hai chiều); g χ2; º Oneway Anova 

Bảng 4: Các yếu tố nguy cơ của SSTT sau ĐQ qua 

hồi qui logistic: 

Yếu tố nguy cơ OR hiệu chỉnh * (KTC 95%) p

Tuổi ≥ 70 6,1 1,5 – 25,9 0,013 Học vấn < đại học 0,16 0,0 – 0,6 0,007

Cô đơn 2,1 0,4 – 10,4 0,345 Không làm việc 9,7 0,1 – 658,3 0,290

ĐQ não tái phát 9,5 2,3 – 38,5 0,002 Teo não lan tỏa 8,9 1,8 – 43,2 0,007 Tổn thương vị trí

chiến lược 5,1 1,2 – 22,5 0,03

* hiệu chỉnh tuổi ≥ 70, học vấn < đại học, tình trạng cô đơn,  không làm việc, ĐQ não tái phát, teo não lan tỏa và tổn  thương vị trí chiến lược. 

BÀN LUẬN 

Tỷ lệ sa sút trí tuệ sau ĐQ  

Tỷ lệ SSTT tại thời điểm 3 ‐ 12 tháng sau ĐQ  trong  nghiên  cứu  của  chúng  tôi  là  35,3%.  Sự  khác  biệt  giữa  các  nghiên  cứu  về  tiêu  chuẩn  chẩn đoán (DSM‐IIIR, DSM‐IV, ICD‐10, NINDS‐ AIREN,  ADDTC),  cách  chọn  mẫu  (từ  dân  số  cộng đồng hay bệnh viện), các thang điểm đánh  giá tình trạng nhận thức, và thời điểm đánh giá  tình trạng nhận thức sau ĐQ làm cho tỷ lệ SSTT  sau  ĐQ  của  các  nghiên  cứu  không  hoàn  toàn  giống nhau (Bảng 5).  

Trang 4

Nghiên cứu Chúng

tôi L.Ng N Tín Ng Mỹ Hạnh Pohjasvaara T Tamam B Inzitari D Censori B

Tiêu chuẩn chẩn đoán DSM-IV DSM-IV DSM-IV DSM-III DSM-IV ICD-10 NINDS-AIREN Thang điểm MMSE

IADL

MMSE MMSE

IADL

WAIS-R MMSE MMSE MMSE

Pendlebury S. T. và cs (2009) nhận thấy tỷ lệ 

SSTT  sau  ĐQ  của  nghiên  cứu  từ  dữ  liệu  bệnh 

viện cao hơn tỷ lệ từ dữ liệu cộng đồng [5]. Theo 

Rasquin  S.  M.  và  cs  (2005)  tỷ  lệ  SSTT  sau  ĐQ 

tương đối thống nhất giữa các nghiên cứu ngoại 

trừ  các  nghiên  cứu  dùng  tiêu  chuẩn  ICD‐10  và 

ADDTC(8). 

Tỷ  lệ  của  chúng  tôi  ở  giới  hạn  trên  của 

khoảng tỷ lệ bệnh theo báo cáo từ y văn (5,9% ‐ 

32%)(3). Tỷ lệ này tương đương tỷ lệ của các tác 

giả  Lê  Nguyễn  Nhựt  Tín  (40,4%),  Nguyễn  Mỹ 

Hạnh  (27%),  Pohjasvaara  T.  (31,8%),  Tamam  B. 

(30,2%)  vốn  có  tiêu  chuẩn  chẩn  đoán  và  các 

thang  điểm  đánh  giá  nhận  thức  giống  hoặc 

tương đương nhau(6,7,10,12). Tỷ lệ SSTT sau ĐQ của 

chúng tôi cao hơn của tác giả Khedr E. M. và cs 

(35,3% so với 21%); điều này có thể do mẫu của 

Khedr E. M chỉ gồm bệnh nhân ĐQ lần đầu và 

điểm  cắt  xác  định  suy  giảm  nhận  thức  theo 

thang  điểm  MMSE  thấp  hơn  của  chúng  tôi  (21 

so với 24)(2).  

Các yếu tố nguy cơ của SSTT sau ĐQ não 

Các nghiên cứu cho đến nay cũng như y văn 

đều cho thấy tuổi là yếu tố nguy cơ quan trọng 

của  SSTT  sau  ĐQ  não  cũng  như  bệnh 

Alzheimer(,2,4,6,7,8,9,10,11).  Trong  nghiên  cứu  của 

chúng  tôi,  tuổi  trung  bình  của  nhóm  SSTT  sau 

ĐQ cao hơn có có ý nghĩa thống kê so với nhóm 

không có SSTT sau ĐQ (76,7 so với 67,6 với p = 

0,001); và ≥ 70 tuổi có liên quan độc lập với SSTT 

sau ĐQ khi phân tích đa biến (p = 0,013). Tuổi là 

yếu  tố  nguy  cơ  quan  trọng  nhất  của  bệnh 

Alzheimer cũng như của đột quị não(12). Các yếu 

tố nguy cơ của bệnh mạch máu não thường gặp 

ở các bệnh nhân Alzheimer, và nhiều bệnh nhân 

được chẩn đoán SSTT sau ĐQ có suy giảm nhận 

học  của  bệnh  mạch  máu  não  và  bệnh  học  kiểu  Alzheimer  có  thể  cùng  biểu  hiện  trên  một  tỉ  lệ  nhất định các bệnh nhân SSTT sau ĐQ. Hay nói  cách khác bệnh nhân lớn tuổi hơn bị ĐQ não thì 

có nguy cơ SSTT cao hơn.   

Trình độ học vấn được ghi nhận có liên quan  với bệnh Alzheimer(3,12). Chúng tôi nhận thấy tỷ 

lệ bệnh nhân có học vấn dưới đại học ở nhóm có 

và không có SSTT sau ĐQ có sự khác biệt  có  ý  nghĩa  thống  kê  (69,4%  so  với  31,8%,  p  <  0,001); 

và  đây  là  tương  quan  độc  lập  khi  phân  tích  đa  biến (p = 0,007). Các nghiên cứu khác cũng nhận  thấy  học  vấn  thấp  hơn  có  liên  quan  SSTT  sau 

ĐQ(2,4,6,7,8). Dường như các bệnh nhân có trình độ  học vấn cao hơn được trang bị nhiều kiến thức  hơn  nên  có  thể  bù  đắp  cho  sự  suy  giảm  nhận  thức.  

Chúng tôi nhận thấy giới tính không có liên  quan có ý nghĩa thống kê với SSTT sau ĐQ (p =  0,217). Kết quả này phù hợp với y văn và nhận  định của Phan Mỹ Hạnh (2006), Khedr E. M và 

cs  (2009),  Pohjasvaara  T  và  cs  (1998),  Tamam  B 

và  cs  (2008)(2,6,7,10).  Trong  nghiên  cứu  của  chúng  tôi,  sống  cô  đơn  (độc  thân  hoặc  góa  bụa)  và  không  làm  việc  (thất  nghiệp  hoặc  hưu)  có  liên  quan  với  SSTT  sau  ĐQ  khi  phân  tích  đơn  biến  nhưng  không  có  tương  quan  độc  lập  khi  phân  tích  đa  biến  (p  lần  lượt  là  0,345  và  0,290).  Cho  đến nay, các nghiên cứu trên bệnh nhân đột quị  não  cho  kết  quả  không  thống  nhất(1,7,10).  Hơn  nữa, sống cô đơn và không làm việc có thể là hệ  quả  của  tuổi  tác  cao  vốn  có  liên  quan  đã  được  chứng minh với SSTT sau ĐQ.  

Dữ liệu từ y văn về tương quan giữa các yếu 

tố  nguy  cơ  mạch  máu  với  SSTT  sau  ĐQ  không  thống  nhất(,2,4,6,7,9,11).  Chúng  tôi  không  thấy  liên  quan  có  ý  nghĩa  thống  kê  giữa  tăng  huyết  áp, 

Trang 5

bệnh  tim  TMCB,  đái  tháo  đường,  hút  thuốc  lá, 

rung  nhĩ  với  SSTT  sau  ĐQ.  Liên  quan  giữa  các 

yếu tố nguy cơ mạch máu với SSTT sau ĐQ chỉ 

được  phân  tích  đơn  biến  trong  hầu  hết  các 

nghiên  cứu  cho  kết  quả  dương  tính(2,4,6,10). 

Pohjasvaara T (1998), Barba R. (2002), Sachdev P. 

S  (2006),  Tamam  B.  (2008)  không  chứng  minh 

được liên quan giữa SSTT sau ĐQ với các yếu tố 

nguy cơ mạch máu(,7,9). Như vậy, các yếu tố nguy 

cơ mạch máu là yếu tố nguy cơ của ĐQ hơn là 

của SSTT sau ĐQ và tác động lên nhận thức nếu 

có là thông qua cơ chế gây tổn thương mô não 

do ĐQ. 

Chúng  tôi  nhận  thấy  tỷ  lệ  ĐQ  não  tái  phát 

(ĐQ  >  1  lần)  trong  nhóm  có  SSTT  sau  ĐQ  là 

47,2% so với trong nhóm không SSTT sau ĐQ là 

9,1% (p < 0,001). ĐQ não tái phát có tương quan 

độc lập với SSTT sau ĐQ khi phân tích đa biến 

(p = 0,002). Một phân tích gộp của Pendlebury S. 

T  (2009)  cho  tỷ  lệ  SSTT  sau  ĐQ  não  lần  đầu  là 

23,0%,  SSTT  sau  ĐQ  não  tái  phát  là  41,3%(5). 

Kokmen E. và cs (1996) cho rằng ĐQ não lần thứ 

hai  là  yếu  tố  tiên  đoán  độc  lập  của  SSTT  sau 

ĐQ(10). Các kết quả trên gợi ý rằng sự tích lũy các 

tổn thương do bệnh lý mạch máu não có thể gây 

suy giảm nhận thức không hồi phục.  

Chúng tôi nhận thấy tỷ lệ nhồi máu não và 

xuất  huyết  não  trong  nhóm  SSTT  sau  ĐQ  và 

không SSTT sau ĐQ không có sự khác biệt có ý 

nghĩa thống kê (p = 0,441). Lê Nguyễn Nhựt Tín 

(2008),  Barba  R  và  cs  (2002),  Tamam  B.  và  cs 

(2008)  cũng  kết  luận  SSTT  sau  ĐQ  dường  như 

không phụ thuộc vào thể ĐQ nhồi máu não hay 

xuất huyết não(4,10).  

Y  văn  nhận  thấy  tổn  thương  bán  cầu  trái 

(thường là bán cầu ưu thế) có thể gây SSTT  do 

ảnh hưởng các chức năng ngôn ngữ, trí nhớ và 

nhận  thức  chung,  vốn  là  những  biểu  hiện  thiết 

yếu của SSTT(1,4,6,7). Chúng tôi phân tích post‐hoc 

so sánh tỷ lệ tổn thương bên trái, bên phải và hai 

bên nhận thấy không có sự khác biệt có ý nghĩa 

thống  kê  giữa  hai  nhóm  có  và  không  có  SSTT 

sau ĐQ (p = 0,218). Các tác giả Rasquin S. M. C 

và cs (2004), Sachdev P. S và cs (2006), Tamam B 

và cs (2008) cho kết quả tương tự(9,10,11).   Trong  nghiên  cứu  của  chúng  tôi,  tỷ  lệ  teo  não lan tỏa trong nhóm có và không có SSTT sau 

ĐQ lần lượt là 38,9% và 6,1% (p < 0,001). Teo não  lan tỏa có liên quan độc lập với SSTT sau ĐQ khi  phân tích đa biến (p = 0,007). Các nghiên cứu của  Hénon  H.  (2002),  Vinters  H.  V.  và  cs  (2006),  Rasquin S. M. C và cs (2004), Sachdev P. S và cs  (2006)  cho  kết  quả  không  thống  nhất(1,8,10).  Điều  này có thể do các nghiên cứu khác nhau về cách  đánh  giá  (định  tính  hay  định  lượng),  phương  tiện  đánh  giá  với  độ  nhạy  khác  nhau  (CT  hay  MRI)  và  mẫu  nghiên  cứu(8,9).  Ngoài  ra,  teo  não  toàn  bộ  không  đặc  trưng  riêng  cho  quá  trình  thoái  hóa  kiểu  Alzheimer  hoặc  bệnh  lý  mạch  máu não mà có thể là do sự kết hợp của cả hai  quá trình vốn thường gặp trên bệnh nhân SSTT  sau ĐQ.  

Nhồi  máu  vùng  (đường  kính  >  15  mm)  do  bệnh  lý  mạch  máu  lớn,  nhồi  máu  lổ  khuyết  (đường  kính  <  15  mm)  tương  ứng  với  bệnh  lý  mạch  máu  nhỏ.  Vị  trí  “chiến  lược”  là  những  vùng ở vỏ não hay dưới vỏ có chức năng quan  trọng bao gồm đồi thị, chất trắng thùy trán, hạch  nền,  hồi  góc,  vùng  phân  bố  động  mạch  não  trước,  não  giữa,  não  sau.  Những  vùng  chiến  lược  này  có  thể  tổn  thương  do  nhồi  máu  vùng  hay  lổ  khuyết.  Chúng  tôi  so  sánh  tổn  thương  vùng  và  lổ  khuyết  ở  vị  trí  chiến  lược  giữa  2  nhóm  có  và  không  có  SSTT  sau  ĐQ  và  nhận  thấy  có  tương  quan  có  ý  nghĩa  thống  kê  khi  phân  tích  đơn  biến  (p  =  0,019)  và  đa  biến  (p  =  0,03).  Nguyễn  Mỹ  Hạnh  (2006)  nhận  thấy  tỷ  lệ  tổn thương vùng chiến lược 2 nhóm bệnh nhân 

có và không có SSTT sau ĐQ lần lượt là 54% và  16,2%(6). Y văn ghi nhận rằng nhồi máu ở những  vùng nhất định như đồi thị, bao trong, nhân nền 

có  vai  trò  quan  trọng  gây  SSTT  sau  ĐQ(11).  Nguyên  nhân  là  do  những  vùng  chiến  lược  về  chức  năng  này  cũng  là  những  vùng  đảm  trách  chức năng nhận thức của não.  

Tổn thương vùng một ổ và nhiều ổ không ở 

vị  trí  chiến  lược  về  chức  năng  không  có  liên 

Trang 6

quan  có  ý  nghĩa  thống  kê  với  SSTT  sau  ĐQ  (p 

lần lượt là 0,342 và 0,181). Các tác giả Rasquin S. 

M. C và cs (2004), Hénon H. và cs (2002) cũng có 

cùng  nhận  định(1,8).  Chúng  tôi  nhận  thấy  nhồi 

máu lổ khuyết không ở vị trí chiến lược không là 

yếu tố nguy cơ của SSTT sau ĐQ (p = 0,018). Kết 

quả  này  phù  hợp  với  một  số  quan  điểm  cho 

rằng  lổ  khuyết  ở  những  vùng  nhất  định  như 

chất xám trung tâm (đồi thị, hạch nền), là vị trí 

“chiến lược” mà chúng tôi đã đề cập, có thể có 

vai trò quan trọng hơn các lổ khuyết ở vị trí khác 

trong việc gây SSTT(11).  

Nghiên  cứu  của  chúng  tôi  và Rasquin  S.  M 

(2005) không cho thấy tổn thương chất trắng có 

liên  quan  có  ý  nghĩa  thống  kê  với  SSTT  sau 

ĐQ(8). Dấu hiệu này thường gặp ở người có chức 

năng nhận thức bình thường cũng như ở những 

bệnh nhân Alzheimer(11). 

Nghiên cứu của chúng tôi có một số hạn chế. 

Thứ  nhất,  đây  là  một  nghiên  cứu  cắt  ngang  và 

các bệnh nhân được đánh giá sau ĐQ nên không 

thể  loại  trừ  hoàn  toàn  các  bệnh  nhân  có  suy 

giảm  nhận  thức  nhẹ  kiểu  bệnh  học  Alzheimer 

trước  ĐQ  vào  trong  mẫu  nghiên  cứu.  Thứ  hai, 

do  bệnh  viện  Thống  Nhất  chủ  yếu  điều  trị  cán 

bộ  trung  cao  cấp  nên  mẫu  nghiên  cứu  có  đặc 

điểm  là  tuổi  cao  và  trình  độ  học  vấn  cao  nên 

không  hoàn  toàn  đại  diện  cho  cộng  đồng.  Thứ 

ba,  không  phải  tất  cả  bệnh  nhân  của  chúng  tôi 

đều  được  làm  MRI,  do  đó  khả  năng  phát  hiện 

các thông số hình ảnh học giảm. 

KẾT LUẬN 

Chúng  tôi  nhận  thấy  SSTT  sau  ĐQ  là  một 

biến chứng thường gặp của ĐQ não.  

1.  Tỷ  lệ  SSTT  sau  ĐQ  tại  thời  điểm  3  –  12 

tháng sau ĐQ não là 35,3%.  

2. Các yếu tố nguy cơ của SSTT sau ĐQ gồm:  tuổi, trình độ học vấn thấp hơn, ĐQ tái phát, teo  não lan tỏa và tổn thương vùng chiến lược trên  hình ảnh học. 

3.  Việc  điều  trị  dự  phòng  ĐQ  tái  phát  có  ý  nghĩa quan trọng làm giảm gánh nặng của sa sút  trí tuệ sau ĐQ cho gia đình và xã hội. 

TÀI LIỆU THAM KHẢO  

1 Hénon  H   (2002).  Neuroimaging  predictors  of  dementia  in  stroke patients. Clin Exp Hypertens.;24(7‐8):677‐86. 

2 Khedr E. M., Hamed S. A., et al (2009). Cognitive impairment  after  cerebrovascular  stroke:  relationship  to  vascular  risk 

factors. Neuropsychiatric Disease and Treatment;5: 103–116. 

3 Lê  Minh.  Sa  sút  trí  tuệ  (2004).  Thần kinh học lâm sàng.  Trang 

524‐543. 

4 Lê Nguyễn Nhựt Tín, Vũ Anh Nhị (2008). Tần suất và yếu tố  nguy cơ của sa sút trí tuệ sau đột quị: khảo sát tiền cứu 218 

bệnh nhân tại khoa Thần kinh bệnh viện Chợ Rẫy. Y học TP. 

Hồ Chí Minh; 12(1): 336‐311. 

5 Pendlebury   S.  T.  (2009).  Stroke‐related  dementia:  Rates,  risk  factors  and  implications  for  future  research.  Maturitas

Volume 64, Issue 3 , Pages 165–17. 

6 Phan Mỹ Hạnh, Phan Công Tân (2006). Sa sút trí tuệ sau nhồi  máu não: tần suất và yếu tố nguy cơ. Thankinhhoc.com. 

7 Pohjasvaara  T.,  Erkinjuntti  T.,  et  al  (1998).  Clinical 

Determinants of Poststroke Dementia. Stroke;29;75‐81. 

8 Rasquin  S.  M.  C.,  Verhey  F.  R.  J.,  et  al  (2004).  Demographic  and  CT  scan  features  related  to  cognitive  impairment  in  the 

first  year  after  stroke.  J  Neurol  Neurosurg  Psychiatry;75:1562–

1567. 

9 Sachdev P. S., Brodaty H., et al (2006). Clinical Determinants 

of  Dementia  and  Mild  Cognitive  Impairment  following 

Ischaemic  Stroke:  The  Sydney  Stroke  Study.  Dement  Geriatr 

Cogn Disord;21:275–283. 

10 Tamam  B.,  Taşdemir  N.,  et  al  (2008).  The  Prevalence  of  Dementia  Three  Months  after  Stroke  and  its  Risk  Factors. 

Turkish Journal of Psychiatry; 19(1):1‐9. 

11 Vinters  H.  V.  and  Selnes  O.  A.  (2006).  Vascular  cognitive 

impairment.  Nature  clinical  practice  Neurology.  Vol  2  No  10: 

538‐548. 

12 Vũ Anh Nhị (2007). Sa sút trí tuệ. Sổ tay lâm sàng thần kinh sau 

đại học. Trang 41‐57. 

 

Ngày nhận bài báo      01‐7‐2013  Ngày phản biện nhận xét bài báo:  10‐7‐2013  Ngày bài báo được đăng:  01‐8‐2013 

 

Ngày đăng: 22/01/2020, 03:22

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w