Nghiên cứu này được tiến hành nhằm mô tả thời gian xuất hiện, diễn biến và đáp ứng kháng thể ở chuột nhiễm angiostrongylus cantonensis với 2 liều khác nhau (50 ấu trùng/chuột và 100 ấu trùng/chuột).
Trang 1KHẢO SÁT ĐÁP ỨNG KHÁNG THỂ Ở CHUỘT NHIỄM
ANGIOSTRONGYLUS CANTONENSIS BẰNG KỸ THUẬT ELISA
Lê Thị Xuân*, Trần Thị Huệ Vân * , Phạm Thị Lệ Hoa**, Lê Kim Ngọc Giao***, Trần Quang Bính****,
Nguyễn Trần Chính **
TÓM TẮT
Đặt vấn đề: đáp ứng kháng thể ở chuột nhiễm Angiostrongylus cantonensis đã được khảo sát trong phòng
thí nghiệm bằng nhiều kỹ thuật khác nhau, cho thấy đáp ứng kháng thể bị ảnh hưởng bởi kỹ thuật thử nghiệm
và loại kháng nguyên sử dụng Nghiên cứu này được tiến hành nhằm mô tả thời gian xuất hiện, diễn biến và đáp ứng kháng thể ở chuột nhiễm Angiostrongylus cantonensis với 2 liều khác nhau (50 ấu trùng/chuột và 100
ấu trùng/chuột)
Phương pháp: nghiên cứu mô tả thực nghiệm Sau gây nhiễm cho 2 lô chuột, kháng thể được đo lường
bằng thử nghiệm ELISA gián tiếp, đánh giá mỗi tuần sau nhiễm có so sánh với các giai đoạn phát triển của giun trong chuột
Kết quả: kháng thể tìm được trong máu chuột từ tuần thứ 4 sau nhiễm, tăng lên đến đỉnh vào tuần thứ 7
và duy trì đến cuối kỳ thực nghiệm (20 tuần) Kháng thể tăng cao hơn ở lô chuột được gây nhiễm với liều ấu trùng cao hơn
Kết luận: có thể theo dõi diễn biến đáp ứng kháng thể trên chuột bị nhiễm Angiostrongylus cantonensis
bằng kỹ thuật ELISA gián tiếp Đáp ứng kháng thể tỷ lệ thuận với liều gây nhiễm và thời gian nhiễm
Từ khóa: đáp ứng miễn dịch, Angiostrongylus cantonensis, chuột cống, ELISA
ABSTRACT
ANTIBODY RESPONSES IN RATS INFECTED WITH ANGIOSTRONGYLUS CANTONENSIS BY
ELISA TEST
Tran Thi Hue Van, Le Thi Xuan, Pham Thi Le Hoa, Le Kim Ngoc Giao, Tran Quan Binh, Nguyen Tran Chinh * Y Hoc TP Ho Chi Minh * Vol 16 - Supplement of No 1 - 2012: 30 - 36
Background: Antibody responses in Angiostrongylus cantonensis infected rats had been investigated in
laboratory condition by different methods From these studies the values of the immune responses were affected by methods and antigens used in the test This study aimed at described the dynamic evolution of immune response
to two different infected doses
Methods: Experimental study in laboratory condition Two groups of rats were infected by two different
doses (50 larvaes and 100 larvae per rat) Antibody was detected by ELISA every week and was compared with the existence of parasite in different stages in the life cycle of Angiostrongylus cantonensis in rats
Results: Antibody were detected from the 4 th week, reached the peak at 7 th week postinfection and was still detected with stable titer until the end of the study (20 th week).
Conclusion: The antibody responses to A cantonensis could be monitored in rats model by indirect ELISA
Bộ môn Ký sinh trùng, khoa Y, Đại học Y Dược Tp.Hồ Chí Minh
Bộ môn Nhiễm, khoa Y, Đại học Y Dược Tp.Hồ Chí Minh
Bộ môn Vi sinh , khoa Y, Đại học Y Dược Tp.Hồ Chí Minh
Khoa Bệnh Nhiệt Đới, Bệnh viện Chợ Rẫy Tp.Hồ Chí Minh
Trang 2test The antibody increased with time after infection during the first seven weeks The higher infected dose, the higher immunologic response
Key words: immunologic response, Angiostrongylus cantonensis, rat, ELISA
MỞ ĐẦU
Angiostrongylus cantonensis (A cantonensis),
giun ký sinh ở phổi chuột, là tác nhân phổ biến
nhất gây bệnh viêm màng não tăng bạch cầu
toan tính (BCTT) hoặc viêm não-màng não tăng
BCTT ở người trên thế giới Chuột cống, ký chủ
vĩnh viễn của A cantonensis, bị nhiễm khi ăn ốc
chứa ấu trùng giai đoạn 3 (AT3) Khi vào đến dạ
dày-ruột, AT3 đi vào mạch máu, theo máu lên
não Ở não, ấu trùng lột xác 2 lần trở thành ấu
trùng giai đoạn 5 Sau đó, giun non theo máu trở
về tim và định cư trong động mạch phổi Giun
trưởng thành, đẻ trứng và ấu trùng 1 nở trong
phổi chuột và di chuyển lên khí quản, xuống ruột
và được thải ra ngoài theo phân và nhiễm trở lại
ốc
Người là ký chủ tình cờ, ăn phải AT3 trong ốc
sống hoặc trong rau bị nhiễm Ở người, chu trình
phát triển của giun cũng tương tự như ở chuột,
tuy nhiên thường ấu trùng bị giữ lại ở hệ thần
kinh và không thể trở về tim, phổi để trưởng
thành Vì vậy, bệnh do A cantonensis ở người
biểu hiện ở giai đoạn cấp tính bằng hội chứng
viêm não - màng não, kèm theo tăng bạch toan
tính trong dịch não tủy và máu, thường nhẹ đến
trung bình, hiếm khi nặng và có tính tự giới hạn,
sau giai đoạn viêm màng não cấp, bệnh tự lui
Chẩn đoán xác định là tìm được giun non
hoặc ấu trùng trong dịch não tủy của bệnh nhân
Mặc dù có nhiều ca nhiễm, nhưng chỉ một số rất
ít tìm được giun trong dịch não tủy Vì vậy, chẩn
đoán chủ yếu là dựa trên triệu chứng lâm sàng và
tiền sử ăn uống cũng như các kết quả xét nghiệm
Khó khăn trong việc chẩn đoán xác định là
một lý do để các kỹ thuật miễn dịch có một vai
trò quan trọng để xác định trường hợp nhiễm
bệnh Hiệu giá kháng thể tăng có thể là bằng
chứng của một bệnh nhiễm mới và cũng là một
bệnh đang có Thử nghiệm huyết thanh phát
hiện kháng thể bây giờ đã được chấp nhận rộng
rãi là một công cụ chẩn đoán thích hợp nhất
Bệnh do A cantonensis có tính cách cấp tính,
không kéo dài, vì vậy, biết được thời điểm kháng thể xuất hiện trong máu/dịch não tủy của bệnh nhân sau khi bị nhiễm có thể giúp chúng ta lấy bệnh phẩm làm xét nghiệm đúng lúc và theo dõi diễn tiến của bệnh
Trong khi chờ đợi tiến hành khảo sát biến
động kháng thể ở người bị nhiễm A cantonensis,
chúng tôi thực hiện nghiên cứu dùng mô hình thực nghiệm để tìm hiểu biến động kháng thể ở
chuột bị nhiễm A cantonensis trong phòng thí
nghiệm
Đáp ứng kháng thể ở chuột đối với nhiễm
Angiostrongylus cantonensis (A cantonensis) có thể
được chứng minh ở chuột bị nhiễm tự nhiên hay
ở chuột được gây nhiễm thực nghiệm(14) Từ trước
đến nay đã có nhiều kỹ thuật để phát hiện kháng
thể ở chuột bị nhiễm A cantonensis: khuyếch tán
trong thạch (AGD), miễn dịch đối lưu (CIEP), ngưng kết hồng cầu gián tiếp (IHA) và miễn dịch hấp phụ men (ELISA) Cross và Chen dùng kỹ thuật ELISA để phát hiện kháng thể dùng và
nhận thấy tất cả các ca nhiễm A cantonensis được
xác nhận và nghi ngờ đều có giá trị OD cao hơn những ca chứng(2, 3)
Công trình nghiên cứu này mô tả động học
của kháng thể trong máu của chuột bị nhiễm A cantonensis bằng kỹ thuật ELISA gián tiếp
VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP Thiết kế
Mô tả thực nghiệm, hàng loạt ca
Dụng cụ và hoá chất
Pepsin bột (Merck), Acid hydrocloric (Merck), Ether, dung dịch NaCl 0,85%
Bình nến, bồn ủ, ống thông dạ dày, kim tiêm 1ml, dụng cụ Baermann (giá đỡ, rây lưới, gạc, phễu được nối với ống cao su, kẹp, bình Becher)
Trang 3Vật liệu
Ốc Biomphalaria glabrata được nuôi dưỡng
trong phòng thí nghiệm
Ấu trùng giai đoạn 3 (AT3) A cantonensis
được thu hồi từ ốc bằng kỹ thuật tiêu mô trong
1% HCl-pepsin và kỹ thuật Baermann
- Chuột cống trắng Wistar, từ 6-8 tuần tuổi,
được xét nghiệm phân tìm ký sinh trùng ruột
Những chuột có kết quả phân âm tính sẽ được
đưa vào thí nghiệm 90 chuột được chia làm 2
nhóm:
-Lô 1: chuột 45 con, 3 chuột làm chứng âm,
42 chuột được gây nhiễm với 50AT3/chuột
-Lô 2; : chuột 45 con, 3 chuột làm chứng âm,
42 chuột được gây nhiễm với 100AT3/chuột
Huyết thanh
Chứng âm: máu lấy từ 3 chuột khỏe mạnh,
xét nghiệm phân không phát hiện KST đường
ruột Xét nghiệm máu không phát hiện nhiễm
KST trong máu
Chứng dương: máu lấy từ 3 chuột được gây
nhiễm với 100AT/con vào tuần thứ 20 sau nhiễm
Mẫu nghiên cứu: máu của chuột được gây
nhiễm với liều 50 AT/chuột và 100 AT/chuột, thu
thập định kỳ mỗi tuần từ tuần thứ 1 cho đến tuần
thứ 20 sau nhiễm
Máu lấy từ chuột khỏe mạnh và chuột bị
nhiễm A.cantonensis được ly tâm, tách huyết
thanh, cất ở -70ºC đến khi dùng
Phương pháp
Gây nhiễm chuột
Gây mê chuột bằng ether Dùng ống tiêm 1
ml gắn với ống thông dạ dày bơm ấu trùng vào
dạ dày chuột Theo dõi sức khỏe của chuột trong
suốt thời gian từ lúc gây nhiễm đến cuối kỳ thực
nghiệm
Chuột bị giết hàng tuần ở các thời điểm tuần
thứ 1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9 ,10, 12, 16 và 20 sau khi
gây nhiễm Dùng ống tiêm để rút máu từ tim
Não, phổi và tim được lấy ra quan sát tìm giun
Giun được định danh dựa vào hình thái học bằng
kính hiển vi quang học
Đáp ứng miễn dịch của chuột sau khi được
gây nhiễm A cantonensis sẽ được khảo sát bằng
kỹ thuật ELISA gián tiếp, phát hiện kháng thể trong máu chuột
Thử nghiệm ELISA gián tiếp
Kháng nguyên pha trong đệm Carbonate-bicarbonate 0,05M, pH 9,6, nhỏ 100 µl vào các giếng, ủ ở 37ºC trong 1 giờ và để qua đêm ở 4ºC Rửa phiến nhựa với dung dịch rửa ( PBS-Tween 20) 3 lần Khóa giếng với 150 µl BSA 1%, ủ ở 37ºC trong 1 giờ Rửa 3 lần với dung dịch rửa Cho 100
µl huyết thanh chứng âm và dương và mẫu thử
đã pha loãng vào giếng và ủ ở 37ºC trong 1 giờ Rửa 5 lần với dung dịch rửa Cho vào mỗi giếng
100 µl cộng hợp ( KPL), ủ ở 37ºC trong 1 giờ Rửa
5 lần với dung dịch rửa Cho 100 µl cơ chất TMB (Sigma) vào mỗi giếng, để ở nhiệt độ phòng từ 15 -20 phút Ngưng phản ứng bằng H2SO4 2M Đọc kết quả bằng máy đọc Multiskan ở bước sóng 450
nm
Mỗi mẫu được thực hiện 3 lần và lấy giá trị
trung bình
KẾT QUẢ Thời điểm giun có mặt tại các cơ quan
Kết quả được trình bày trong bảng 1
Bảng 1: Thời điểm phát hiện giun ở chuột bị nhiễm
A cantonensis
Thời điểm (tuần)
Cơ quan quan sát tìm giun
chuột
Trang 4Thời
điểm
(tuần)
Cơ quan quan sát tìm giun
chuột
Kết quả thử nghiệm ELISA với huyết thanh
chuột
Kết quả thử nghiệm ELISA được trình bày
trong bảng 2 Các giá trị được thể hiện bằng đơn
vị mật độ quang (OD), đánh giá theo tỷ lệ Voller
và cs (1979) được tính từ các giá trị OD đo được
từ các mẫu huyết thanh chuột khỏe mạnh và
chuột bị nhiễm giun
Bảng 2: Diễn biến kháng thể kháng A cantonensis
trong huyết thanh chuột bị nhiễm
Mẫu/Chứng
âm
Mẫu/Chứng
âm
So sánh biến động kháng thể theo thời gian
(tuần) của 2 lô chuột từ tuần 1 đến tuần 20 sau nhiễm được trình bày trong biểu đồ 1
0
0.2
0.4
0.6
0.8
1
1.2
50 ch
100 ch
Biểu đồ 1: Biến động kháng thể (OD) theo thời gian nhiễm (tuần) của 2 lô chuột
BÀN LUẬN
Về thời điểm giun xuất hiện ở não và
tim-phổi
Theo chu trình phát triển của A cantonensis
được đề cập trong y văn và kết quả khảo sát của
những tác giả khác thì sau nhiễm giun, ấu trùng
xuất hiện rất sớm ở não nhưng di chuyển khỏi
não sau 4 tuần để sinh trưởng ở động mạch phổi,
tim, phổi và được thải ra môi trường ngoài theo phân sau 6 tuần(12, 15) Tác giả Bhopale và cs còn nhận thấy số lượng giun ở não tăng cao nhất ở tuẩn thứ 3 (ngày 21) ở tất cả các liều nhiễm 15AT, 100AT, 500AT, 2000AT, 5000AT, 10000AT(1) Kết quả nghiên cứu của chúng tôi phù hợp với những đề cập nói trên Ngoài ra, qua khảo sát chúng tôi nhận định là thời điểm xuất hiện và các giai đoạn phát triển của giun ở các cơ quan
Trang 5như trên không khác nhau với liều gây nhiễm
cao hay thấp Ấu trùng giai đoạn 3 đã xuất hiện
ở não chuột ngay tuần đầu sau khi xâm nhập
vào chuột Chúng tiếp tục tập trung lên não cao
nhất vào tuần thứ 3 và phát triển thành giun non
ở não vào tuần thứ 4 Cũng vào tuần thứ 4, một
số giun bắt đầu trở về tim phổi vào khoảng ngày
28-31, đến tuần thứ 5, không còn thấy giun ở
não Từ tuần thứ 4, giun trở về ký sinh tại động
mạch phổi, trưởng thành và đẻ trứng Trứng bắt
đầu xuất hiện trong phân chuột từ tuần thứ 6 sau
nhiễm (bảng 1)
Về thời điểm xuất hiện kháng thể
Ở chuột gây nhiễm với liều 50 AT/chuột, OD
đo được ở tuần thứ 1, 2 sau nhiễm chưa có khác
biệt so với OD đo được trước khi chuột được gây
nhiễm cho thấy chưa có đáp ứng kháng thể trong
3 tuần đầu Từ tuần thứ 4, kháng thể bắt đầu tăng
dần, cao đáng kể từ tuần thứ 5, đạt đỉnh vào tuần
thứ 7 và duy trì cho đến cuối kỳ thí nghiệm, tuần
thứ 20 Kết quả này cũng phù hợp với nhận định
của Chen và cs khi gây nhiễm liều 100AT gây
được đáp ứng kháng thể phát hiện bằng kỹ thuật
ELISA từ tuần thứ 3 sau nhiễm(2) Kamiya và
Tanaka cũng nhận thấy rằng sự xuất hiện của
kháng thể phát hiện được trùng hợp với sự xuất
hiện của AT trong phân(7)
Trong nghiên cứu, ở lô chuột được gây
nhiễm với liều 100AT/chuột, kết quả OD đo được
cũng tương tự như ở lô chuột gây nhiễm với liều
50 AT/chuột về thời điểm xuất hiện cũng như
biến động của kháng thể trong huyết thanh
chuột
Yếu tố ảnh hưởng đến đáp ứng kháng thể ở
chuột bị gây nhiễm A cantonensis
Liều gây nhiễm
Bhopale và cs gây nhiễm cho các lô chuột với
liều ấu trùng khác nhau từ 15 AT/chuột, 100
AT/chuột, 500 AT/chuột, 2000 AT/chuột, 5000
AT/chuột và 10000 AT/chuột(1) Khi dùng kỹ
thuật miễn dịch điện di đối lưu (CIEP) để phát
hiện kháng thể, tác giả nhận thấy kháng thể xuất
hiện vào ngày 21 sau nhiễm ở tất cả các lô chuột,
trừ lô chuột được gây nhiễm với liều 15 AT/chuột Yoshimura và cs dùng kỹ thuật ngưng kết hồng cầu thụ động (IHA) đã phát hiện
được kháng thể ở chuột nhiễm A cantonensis với
liều trung bình 77 AT/chuột , IHA dương tính ở mức thấp từ tuần thứ 5 và tiếp tục tăng sau đó(13)
Yong WK và Dobson cũng dùng kỹ thuật IHA
để phát hiện kháng thể ở 3 lô chuột bị nhiễm A cantonensis với các liều khác nhau (thấp 10-30
AT, trung bình 40-50 AT và cao 100-150 AT) cũng phát hiện được kháng thể IHA vào ngày thứ 12 sau nhiễm, sau đó tăng nhanh đến đỉnh vào tuần thứ 5 và duy trì ít nhất đến 4 tuần sau Nhóm tác giả này cũng chứng minh có tương quan giữa hiệu giá kháng thể và liều gây nhiễm
từ tuần thứ 14(11) Khi so sánh các giá trị của OD ở 2 lô chuột trong nghiên cứu này, chúng tôi nhận thấy các giá trị OD khác nhau khi đo cùng thời điểm Ở lô gây nhiễm với liều 100AT/chuột, trị số OD cao hơn trị số của OD trong lô chuột bị nhiễm 50AT/chuột (bảng 2) rất rõ rệt Giá trị OD gấp 2
so với chứng ghi nhận được ở tuần thứ 4 ở lô gây nhiễm với liều thấp, nhưng đã đạt hiệu giá OD gấp 2 lần từ tuần thứ 3 với liều gây nhiễm 100AT/chuột Kanbara và cs cũng có nhận xét tương tự khi gây nhiễm cho 2 lô chuột với liều 150AT/chuột và 50AT/chuột và tác giả cũng đã kết luận kháng thể xuất hiện sớm hơn trong lô chuột được gây nhiễm với liều cao (150/chuột) (ngày 20 sau nhiễm) so với trong lô chuột nhiễm liều thấp (ngày 30 sau nhiễm)(9) Vì vậy, có thể nhận định rằng đáp ứng miễn dịch thể dịch đối
với nhiễm A cantonensis ở chuột tỷ lệ thuận với số
lượng AT gây nhiễm
Thời gian nhiễm ký sinh trùng
Thời điểm kháng thể được phát hiện trong
máu chuột mhiễm A cantonensis có thể sớm hay
muộn tùy thuộc vào kỹ thuật thử nghiệm và kháng nguyên được làm từ ấu trùng hay giun trưởng thành Kỹ thuật kết tủa có thể phát hiện được kháng thể 1 tuần sau nhiễm, kỹ thuật ngưng kết hồng cầu chỉ phát hiện được kháng thể 5 tuần sau nhiễm(2, 4, 6, 7, 13, 14)
Trang 6Chen dùng kỹ thuật ELISA với nhiều loại
kháng nguyên làm từ các giai đoạn phát triển
khác nhau của giun, đã phát hiện kháng thể ở
chuột từ tuần thứ 3 tới tuần thứ 26 sau khi nhiễm
và kết luận là kháng nguyên làm từ giun trưởng
thành tốt hơn kháng nguyên khác(2)
Với kỹ thuật ngưng kết hồng cầu gián tiếp
(IHA) và kháng nguyên làm từ giun trưởng
thành, Yong và Dobson phát hiện kháng thể đầu
tiên vào ngày 35 khi giun non di chuyển về phổi
và cho rằng kết quả này có thể do dùng kháng
nguyên làm từ giun trưởng thành(11)
Dharmkrong và cs ghi nhận được kết quả
tương tự nhưng sớm hơn vào ngày thứ 14 khi họ
dùng kháng nguyên làm từ ấu trùng(4)
Theo Yong và Dobson, kháng nguyên làm từ
giun trưởng thành chỉ phát hiện được kháng thể
khi giun tới phổi(11) Kháng thể kháng AT biến
mất khi phản ứng kháng thể chống kháng
nguyên giun trưởng thành được phát hiện Đáp
ứng miễn dịch có tính đặc hiệu giai đoạn phát
triển Vấn đề được đặt ra có chăng sự khác biệt về
cấu tạo giữa kháng nguyên làm từ ấu trùng và
kháng nguyên làm từ giun trưởng thành
Dhamkrong-At và Sirisinha chứng minh các
polypeptide có trong lượng phân tử 80 000, 39
500 và 22 000 có mặt trong nhiều giai đoạn phát
triển của giun và có tính kháng nguyên(5)
Năm 2005, Li và cs đã dùng kỹ thuật điện di
và dấu thấm miễn dịch (SDS-PAGE và
Immunoblot) để phân tích kháng nguyên làm từ
các giai đoạn phát triển khác nhau của
A.cantonenesis Tác gỉa đã kết luận các băng
protein đều giống nhau ở các giai đoạn phát
triển khác nhau(11)
Kết quả của chúng tôi và các tác giả trên đều
cho thấy đáp ứng kháng thể ở chuột bị nhiễm A
cantonensis tỷ lệ thuận với thời gian gây nhiễm
Tuần thứ 1 đến tuần thứ 3 sau nhiễm là thời
gian chúng tôi chỉ mới tìm thấy ấu trùng ở não,
giá trị OD đo được chưa có sự thay đổi có ý
nghĩa khi so với chứng âm, đồng nghĩa với
kháng thể chưa xuất hiện trong máu Tuy vậy,
cũng có thể OD chưa cao do kháng thể đã bắt
đầu có nhưng ở mức thấp dưới khả năng phát hiện của phản ứng ELISA bởi vì các kỹ thuật khác như kỹ thuật kết tủa đã có thể tìm thấy kháng thể
1 tuần sau gây nhiễm Mặt khác, giun ở não giai đoạn này chỉ là ấu trùng nên chưa có tính sinh kháng nguyên mạnh, vì vậy chưa gây được đáp ứng miễn dịch đáng kể
Từ tuần thứ 4 trở đi cũng là lúc giun đã trưởng thành và di chuyển từ não xuống đến ruột Chúng tôi cũng ghi nhận được giá trị lúc đó
OD và tỷ lệ Voller tăng ngày càng cao hơn, chứng tỏ kháng thể đã hiện diện đủ mạnh và ngày càng nhiều để có thể phát hiện được Điều này còn có thể do giun trưởng thành có tính kháng nguyên mạnh hơn và ổn định trong thời lâu dài
Trở lại với trường hợp nhiễm A cantonensis ở
người, theo y văn thế giới, giun chỉ đến được não
và không trở về phổi nên không trưởng thành được Đáp ứng miễn dịch dịch thể ở người như thế nào, có giống như ở chuột? Đây là một câu hỏi còn để ngõ, cần có những nghiên cứu để làm
rõ diễn biến động học kháng thể kháng A cantonensis ở người
KẾT LUẬN
Kỹ thuật ELISA có thể phát hiện được kháng
thể chống Angiostrongylus cantonensis trong huyết
thanh chuột từ tuần thứ 4 sau nhiễm Hiệu giá kháng thể tính bằng đơn vị OD hay tỷ lệ Voller tăng đến đỉnh vào tuần thứ 7 sau gây nhiễm và tồn tại với hiệu giá cao cho đến hết thời gian nghiên cứu (tuần thứ 20)
Liều gây nhiễm và thời gian sau gây nhiễm
có ảnh hưởng đến đáp ứng kháng thể ở chuột bị
nhiễm A cantonensis
TÀI LIỆU THAM KHẢO
KD (1985) Studies on suspected clinical and experimemtal angiostrongyliasis; serological responses J of Hygiene Epidemiology, Micrology and Immunology, 29, No 3, p 283-288
for the detection of antobodies to Angiostrongylus cantonensis,
Transaction of the Royal Society of Tropical Medicine and Hygiene, 80:395-405
Trang 73 Cross JH (1978) Clinical manifestations and laboratory diagnosis of
eosinophilic meningitis syndome associated with angiostrongyliasis,
Southeast Asian J Trop Med Pub Hlth, 9:161-170
humoral nd cell-mediated immune responses to somatic and
metabolic antigens in rats infected with Angiostrongylus
cantonensis, Southeast Asian J Trop Med Pub Hlth, 9: 330-337
different developmental stages of Angiostrongylus cantonensis,
Southeast Asian J Trop Med Pub Hlth, 14: 154-162
Angiostrongylus cantonensis, Southeast Asian J Trop Med Pub Hlth,
1: 570-571
infected with Angiostrongylus cantonensis, Jap J Exp Med, 39:
593-599
Kamiya M (1972) Change of indirect haemaglutination reactions
in serum after transfer of adult Angiostrongylus cantonensis to
abdominal cavity of rats, Southeast Asian J Trop Med Pub Hlth,
4: 1119-123
Sugiyama M and Isoda M (1988) Local antibody production and
immune complex formation in rats experimentally infected with
Angiostrongylus cantonensis, Am Jtrop Med Hyg, 39 (4): 353-360
developmental stages, Zhongguo Ji Sheng Chong Xue Yu Ji Sheng Chong Bing Za Zhi, 23 (1): 36-9
cantonensis larvae in immune rats, Southeast Asian J Trop Med
Pub Hlth, 13 (2): 244-248
infected with A cantonensis and the passive transfer of protectve
immunity with immune serum, Z Parasitenkunde, 67: 329-336
lymphoid cell responsiveness and antobody production in rats, The American J of Tropical and Hygiene, 25 (1): 99-107
resistance and immune responses of eigth strains of inbred rats
to infection with Angiostrongylus cantonensis, Jap J vet Sci, 41:
245-259
ptoduction in rabbits and rats infected with Angiostrongylus cantonensis, Jap J vet Sci, 38: 34- 40