1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Chỉ định và kỹ thuật mổ lỗ đái lệch thấp bằng phẫu thuật hai thì kinh nghiệm ở 42 bệnh nhân

5 73 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 5
Dung lượng 315,89 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nội dung bài viết đề cấp đến: Phẫu thuật hai thì được chỉ định cho lỗ đái lệch thấp thể nặng. Nghiên cứu nhằm mục tiêu: Chỉ định mổ chữa lỗ đái lệch thấp thể bìu‐đáy chậu bằng phẫu thuật hai thì; trình bày kỹ thuật mổ làm thẳng và chuyển gốc dương vật về vị trí bình thường; trình bày kỹ thuật mổ tạo hình niệu đạo và kết quả.

Trang 1

CHỈ ĐỊNH VÀ KỸ THUẬT MỔ LỖ ĐÁI LỆCH THẤP   BẰNG PHẪU THUẬT HAI THÌ KINH NGHIỆM Ở 42 BỆNH NHÂN 

Trần Ngọc Bích* 

TÓM TẮT 

Mục tiêu: Phẫu thuật hai thì được chỉ định cho lỗ đái lệch thấp thể nặng. Mục tiêu: Chỉ định mổ chữa lỗ đái 

lệch thấp thể bìu‐đáy chậu bằng phẫu thuật hai thì. Trình bày kỹ thuật mổ làm thẳng và chuyển gốc dương vật 

về vị trí bình thường. Trình bày kỹ thuật mổ tạo hình niệu đạo và kết quả. 

Phương pháp nghiên cứu: Các bệnh nhân lỗ đái lệch thấp thể bìu – đáy chậu có gốc dương vật ở thấp hay 

dương vật nhỏ. Phương pháp nghiên cứu hồi cứu cắt ngang mô tả. Thời gian: Từ 06/ 2000 tới 10/ 2012. Mổ thì  một: Làm thẳng và chuyển gốc dương vật về đúng vị trí bình thường. Mổ thì hai: Tạo niệu đạo.  

Kết quả: Trong thời gian từ 06/2000 đến 10/2012, có 42 bệnh nhân được phẫu thuật. Tuổi trung bình thì 

một: 5,4 tuổi. Thể bệnh: lỗ đái lệch thấp thể bìu: 26 bệnh nhân, thể đáy chậu: 16 bệnh nhân. Trong đó: Dương vật  nhỏ là 4 bệnh nhân, gốc dương vật ở vị trí thấp là 14 bệnh nhân, dương vật nhỏ và gốc dương vật ở vị trí thấp là 

24 bệnh nhân. Số bệnh nhân điều trị HCG sau mổ là 27 bệnh nhân, 35 bệnh nhân đã được mổ tạo niệu đạo. Tuổi  trung bình là: 6,1 tuổi. Kết quả: Thành công ở 29 bệnh nhân (82,9%), biến chứng (rò, hẹp niệu đạo) ở 6 bệnh  nhân (17,1 %). Kết quả trên được theo dõi từ 6 tháng đến 8 năm. 

Kết luận: Dị tật lỗ đái lệch thấp chủ yếu được chữa bằng phẫu thuật một thì nhưng nên chỉ định mổ hai thì 

khi lỗ đái lệch thấp thể bìu hay đáy chậu mà gốc dương vật ở vị trí thấp, thân dương vật nhỏ và nên mổ thì một 

khi bệnh nhân từ 6 ‐ 12 tháng tuổi. Thì hai mổ tạo niệu đạo nên sau thì một ít nhất một năm. 

Từ khóa: Lỗ đái lệch thấp. 

ABSTRACT  

INDICATION AND TECHNIQUE OF HYPOSPADIAS CORRECTION  

BY TWO STAGE OPERATION EXPERIENCE ON 42 CASES 

Tran Ngoc Bich * Y Hoc TP. Ho Chi Minh * Vol. 17 ‐ Supplement of No 3 ‐ 2013: 164 ‐ 168 

Objectives:  Two  stage  operation  were  indicated  for  severe  hypopadias  repair.  Objectives:  To  indicate  the 

peno‐scrotal  hypospadias  correction  by  two  stage  operation.  To  present  the  technique  of  transposition  and  straightening of the penis. To present the technique of urethroplasty and the results. 

Methods: Patients suffered perineo‐ scrotal hypopadias which the penis was small and in the low position. 

Methods: Retrospective, cross – sectional descriptive study. Duration of study: From June 2000 to October 2012 

at  pediatric  surgical  department  in  Viet  Duc  Hospital.  The  first  stage:  transposition  and  straightening  of  the 

Results: 42 patients. Average age of the first stage: 5.4 years old. Hypospadias type: perineal hypospadias in 

16 patients, scrotal hypospadias in 26 patients. Among them, the penis was small and in the right position in 4  patients,  the  penis  was  in  the  low  position  in  14  patients,  the  penis  was  small  and  in  the  low  position  in  24  patients. Treatment HCG in 27 patients. Urethroplasty was performed in 34 patients, average age: 6.1 years old.  Results of urethrolasty in 35 patients: success in 29 patients. (82.9%); complications in 6 patients (4 stenosis of  anastomosis and 2 urethral fistula). (17.1%). The following up of results from 6 months to 8 years. 

* Bệnh viện HN Việt‐Đức 

Tác giả liên lạc: PGS.TS Trần Ngọc Bích   ĐT: 0912047958   Email: tranbichvd@gmail.com 

Trang 2

two stage operation in the case of perineo ‐ scrotal hypospadias which the penis is small and in the low position.  The  first  stage  should  be  performed  at  age  of  6  to  12  months.  The  second  stage,  urethroplasty  should  be  done  about one year later. 

Keys words: Hypospadias. 

ĐẶT VẤN ĐỀ 

Trước  năm  1980,  dị  tật  lỗ  đái  lệch  thấp 

(LĐLT)  được  mổ  bằng  các  phương  pháp  nhiều 

thì,  từ  2  đến  4  thì  mổ.  Mỗi  thì  mổ  hay  mỗi  lần 

mổ cách nhau từ sáu tháng tới một năm. Từ năm 

1980  trở  lại  đây,  phần  lớn  các  thể  bệnh  lỗ  đái 

lệch  thấp  đều  được  mổ  chữa  bằng  phẫu  thuật 

một  thì:  làm  dương  vật  thẳng  trục  và  tạo  hình 

niệu đạo ngay(1). Từ năm 1984 tới nay, chúng tôi 

đã  bắt  đầu  mổ  bằng  phương  pháp  một  thì  cho 

tất cả các thể bệnh LĐLT(5,6,8,10) Tuy nhiên chúng 

tôi cũng đã tiến hành phẫu thuật hai thì cho một 

số bệnh nhân bị LĐLT thể bìu và thể đáy chậu: 

Thì một làm thằng và đưa gốc dương vật về vị 

trí  bình  thường,  thì  hai  khoảng  sau  hơn  một 

năm mới tạo hình niệu đạo. Chúng tôi thực hiện 

nghiên  cứu  này  để  nêu  lên  chỉ  định  mổ  hai  thì 

và kỹ thuật mổ của chúng tôi. 

Mục tiêu nghiên cứu 

Chỉ  định  mổ  chữa  lỗ  đái  lệch  thấp  bằng 

phẫu thuật hai thì. Trình bày kỹ thuật mổ làm 

thẳng  và  chuyển  gốc  dương  vật  về  vị  trí  bình 

thường.  Trình  bày  kỹ  thuật  mổ  tạo  hình  niệu 

đạo và kết quả. 

ĐỐI TƯỢNG ‐ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 

Đối tượng nghiên cứu 

Các  bệnh  nhân  LĐLT  thể  bìu  và  thể  đáy 

chậu được mổ bằng phẫu thuật hai thì tại khoa 

Phẫu  thuật  Nhi  bệnh  viện  Việt  Đức,  do  một 

phẫu thuật viên mổ chính (BS Trần Ngọc Bích). 

Phương pháp nghiên cứu 

Hồi cứu, cắt ngang mô tả. 

Thời gian nghiên cứu 

Từ tháng 6 năm 2000 tới tháng 10 năm 2012. 

Nội dung nghiên cứu 

Chỉ  định  mổ  hai  thì:  Lỗ  đái  thấp  thể  bìu  ½  sau và thể đáy chậu, gốc dương vật ở vị trí thấp  hay dương vật nhỏ. 

Kỹ thuật mổ thì một:  

Nếu  dương  vật  nhỏ,  cong  gục  vào  bìu  nhưng gốc dương vật vẫn ở vị trí bình thường:  Cắt  hết  tổ  chức  xơ  ở  mặt  dưới  dương  vật,  bảo  tồn bao qui đầu  

Nếu  dương  vật  có  gốc  dương  vật  ở  vị  trí  thấp hơn bình thường: Cắt hết tổ chức xơ ở mặt  dưới dương vật, chuyển gốc dương vật về vị trí  bình thường, bảo tồn bao qui đầu nhưng chuyển 

đủ da từ bìu lên che phủ thân dương vật.  

Tất  cả  các  bệnh  nhân  được  đặt  ống  thông  qua niệu đạo vào bàng quang và lưu ống 7 ngày. 

Ra viện sau mổ 7 ngày. 

Tất cả các bệnh nhân có thân dương vật nhỏ  thì sau mổ trên 6 tháng sẽ điều trị thêm HCG để  làm dương vật to và dài hơn. 

Chỉ định mổ thì hai: Sau thì một khoảng hơn 

1 năm.  

Kỹ thuật mổ: Có 2 cách tạo hình niệu đạo.  Tạo niệu đạo 2 ống: Tạo niệu đạo dương vật  bằng  vạt  niêm  mạc  bao  qui  đầu  tự  do  hay  vạt  hình đảo và tạo niệu đạo bìu bằng vạt da ở giữa  bìu. Hai ống niệu đạo dương vật và bìu mới tạo  nối với nhau tại gốc dương vật.  

Tạo  niệu  đạo  một  ống:  Bằng  một  vạt  da  ‐  niêm mạc bao qui đầu tự do hay vạt da dày tự 

do tạo toàn bộ niệu đạo thiếu. 

Về chỉ định:  

Vạt da ‐ niêm mạc bao qui đầu thường được  chỉ định khi lỗ đái thấp ở trên ½ bìu phía trên.  Vạt da dày tự do chỉ định cho lỗ đái thấp ở  đáy  chậu  và  ½  sau  bìu.  Kỹ  thuật  này  được  chỉ 

Trang 3

tạo  một  ống  niệu  đạo  và  da  bìu  có  sẹo  dày,  có 

nang lông và tuyến bã. 

Ống dẫn lưu nước tiểu đặt qua niệu đạo vào 

bàng quang, để lưu ống 8‐10 ngày 

Kháng sinh được sử dụng trong 10 ngày sau 

mổ, chúng tôi thường dùng 2 loại kháng sinh kết 

hợp là Amikacine và Augmentin. 

KẾT QUẢ  

42 bệnh nhân được mổ theo phương pháp 2 

thì trong tổng số 1202 bệnh nhân bị LĐLT được 

mổ trong 12 năm.  

Tuổi trung bình mổ thì một là 5,4 tuổi. 

Thể bệnh: Lỗ đái lệch thấp thể bìu: 26 bệnh 

nhân, thể đáy chậu: 16 bệnh nhân. Trong số  42 

bệnh  nhân  này:  dương  vật  nhỏ,  ở  vị  trí  bình 

thường là 4 bệnh nhân. Dương vật ở vị trí thấp 

hơn  bình  thường  là  14  bệnh  nhân.  Dương  vật 

nhỏ,  ở  vị  trí  thấp  hơn  bình  thường  là  24  bệnh 

nhân. 

Kỹ  thuật  mổ  thì  một  đã  thực  hiện:  Cắt  tổ 

chức  xơ  ở  mặt  dưới  dương  vật  để  làm  thẳng 

dương  vật:  4  bệnh  nhân.  Cắt  hết  tổ  chức  xơ  ở 

mặt dưới  dương  vật,  chuyển  gốc  dương  vật  về 

vị trí bình thường: 38 bệnh nhân. 

Kết  quả:  Theo  dõi  dưới  1  năm  là  3  bệnh 

nhân,  từ  1  đến  2  năm  là  35  bệnh  nhân,  trên  2 

năm là 4 bệnh nhân. 

Kết quả tốt đạt: 41 bệnh nhân (97,6 %), trung 

bình  đạt  1  bệnh  nhân  (2,4%),  không  có  kết  quả 

xấu. 

Số  bệnh  nhân  được  điều  trị  HCG:  27  bệnh 

nhân. 

Mổ  thì  hai:  35  bệnh  nhân  đã  được  mổ  tạo 

niệu đạo. Trong số 35 bệnh nhân trên, có 3 bệnh 

nhân  bị  lưỡng  giới  thật  và  1  bệnh  nhân  nam 

lưỡng giới giả được mổ tạo nam. 

Tuổi trung bình là: 6,1 tuổi.  

Thể bệnh: Lỗ đái lệch thấp thể bìu ở ½ sau: 

22 bệnh nhân, thể đáy chậu: 13 bệnh nhân. 

Kỹ thuật tạo niệu đạo và kết quả:  

Tạo niệu đạo bằng một vạt da dày tự do ở 7  bệnh nhân: Thành công 6, biến chứng 1 (rò niệu  đạo). 

Tạo niệu đạo bằng vạt niêm mạc bao qui đầu  hình  đảo  kết  hợp  vạt  da  bìu  ở  14  bệnh  nhân:  thành công 11, biến chứng 3 (hẹp miệng nối niệu  đạo ở 3 bệnh nhân). 

Tạo niệu đạo bằng vạt niêm mạc bao qui đầu 

tự do kết hợp vạt da bìu ở 10 bệnh nhân: thành  công 8, biến chứng 2 (hẹp miệng nối niệu đạo 1  bệnh nhân và rò niệu đạo 1 bệnh nhân). 

Tạo  niệu  đạo  bằng  một  vạt  niêm  mạc  bao  qui đầu tự do thành công cho 4 bệnh nhân. 

Tỷ  lệ  thành  công  chung  là  28  bệnh  nhân  (82,9%),  biến  chứng  là  6  bệnh  nhân  (17,1%)  (rò  niệu đạo 2 bệnh nhân, hẹp niệu đạo ở miệng nối 

4 bệnh nhân). 

Kết quả trên được theo dõi từ 6 tháng đến 8  năm. 

BÀN LUẬN 

Về chỉ định mổ hai thì 

Phương  pháp  mổ  hai  thì  chữa  dị  tật  LĐLT  được thực hiện chủ yếu từ trước năm 1980 cho  LĐLT  thể  dương  vật,  thể  bìu,  thể  đáy  chậu.  Ở  thể  bìu  ‐  đáy  chậu,  còn  có  nhiều  phương  pháp 

mổ ba thì hoặc hơn  nữa.  Lý  do  mổ  nhiều  thì  ở  LĐLT thể bìu ‐ đáy chậu vì độ cong dương vật  nặng, vì ống niệu đạo phải tạo hình dài, vì tình  trạng thiếu da ở mặt dưới dương vật và ở cả bìu. 

Do vậy, mỗi thì mổ chỉ thực hiện được một phần  của yêu cầu điều trị là làm dương vật thẳng và  tạo  một  đoạn  ống  niệu  đạo  dài  từ  bìu  hay  đáy  chậu  lên  tới  đỉnh  qui  đầu.  Từ  năm  1980  trở  lại  đây, những tiến bộ về kỹ thuật và phương tiện 

mổ,  điều  kiện  tốt  cho  điều  trị  sau  mổ  mà  các  phương  pháp  phẫu  thuật  một  thì  dần  thay  thế  các  phương  pháp  mổ  nhiều  thì.  Tuy  nhiên  vẫn  còn  nhiều  phẫu  thuật  viên  vẫn  áp  dụng  phẫu  thuật  nhiều  thì  cho  LĐLT  thể  dương  vật,  bìu,  đáy  chậu  và  thể  ẩn.  Như  vậy,  vấn  đề  mổ  một  hay nhiều thì phụ thuộc vào  mức  độ  nặng  nhẹ  của dị tật LĐLT, của các điều kiện phương tiện 

Trang 4

mổ  và  cả  trình  độ  cùng  quan  điểm  của  phẫu 

thuật viên. 

Bản  thân  chúng  tôi  cũng  thực  hiện  phẫu 

thuật  một  thì  cho  tất  cả  các  thể  bệnh  LĐLT  từ 

năm 1984(9,8). Qua việc thực hiện kỹ thuật mổ và 

qua theo dõi kết quả sau mổ sớm cũng như lâu 

dài(8),  chúng  tôi  nhận  thấy  phẫu  thuật  một  thì 

vẫn là loại phẫu thuật có thể áp dụng được cho 

tất cả các thể bệnh(7). Tuy nhiên, chúng tôi thấy: 

để có được kết quả tốt như mong muốn thì phẫu 

thuật hai thì vẫn nên được áp dụng trong những 

tình trạng hay mức độ nặng của dị tật LĐLT thể 

bìu,  thể  đáy  chậu  như  dương  vật  nhỏ  mà  mức 

độ cong dương vật nặng hay gốc dương vật ở vị 

trí  thấp  hơn  bình  thường.  Vì  với  mức  độ  dị  tật 

như  vậy,  nếu  mổ  một  thì  sẽ  khó  mà  thực  hiện 

được việc vừa làm thẳng và chuyển gốc dương 

vật về vị trí bình thường, vừa tạo niệu đạo ngay 

được. Lý do khó khăn là chất liệu tạo hình niệu 

đạo và che phủ niệu đạo, dương vật và cần phải 

nắm  vững  kỹ  thuật  chuyển  vạt  da  che  phủ 

dương vật sau mổ(5). Nếu lấy  da  niêm  mạc  bao 

qui đầu tạo hình niệu đạo thì cũng thường thiếu 

độ  dài  cần  có.  Sau  mổ,  da  bao  qui  đầu  và  da 

dương vật còn lại không đủ che phủ dương vật, 

da  bìu  chuyển  lên  che  phủ  thường  bị  phù  nề 

nhiều nên ảnh hưởng tới kết quả tạo niệu đạo và 

nguy cơ rò, hẹp niệu đạo rất cao. Còn với LĐLT 

thể bìu – đáy chậu, khi dương vật có gốc ở đúng 

vị  trí  bình  thường  nhưng  dương  vật  nhỏ,  cong 

mà phẫu thuật một thì ngay thì tỷ lệ thành công 

thấp vì ống niệu đạo tạo hình thường bé. Nhưng 

nếu điều trị HCG trước để dương vật to hơn rồi 

mổ thì mức độ cong của dương vật sẽ nặng hơn. 

Vì  những  lý  do  trên  mà  chúng  tôi  chỉ  định  mổ 

hai  thì  cho  dị  tật  LĐLT  thể  bìu‐  đáy  chậu  mà 

dương  vật  nhỏ  và  thể  bìu  đáy  chậu  mà  gốc 

dương vật ở vị trí thấp hơn bình thường. Mổ thì 

một để làm thẳng và chuyển gốc dương vật về 

vị trí bình thường và mổ thì hai để tạo hình niệu 

đạo.  Nếu  dương  vật  nhỏ  thì  điều  trị  HCG  sau 

mổ thì một.  

Về chỉ định tuổi mổ: Chúng tôi thấy nên mổ 

thì  một  khi  tuổi  bệnh  nhân  từ  6  tháng  tới  12 

tháng.  Nếu  dương  vật  nhỏ  thì  điều  trị  HCG  ở  tuổi  18  –  20  tháng.  Chỉ  định  mổ  thì  hai  để  tạo  hình niệu đạo lúc bệnh nhân 2 ‐ 3 tuổi. 

Về kỹ thuật mổ thì một 

Kỹ thuật mổ cắt xơ để làm thẳng dương vật  đơn giản, dễ thực hiện nhưng cần lưu ý là phải  phẫu tích cắt hết tổ chức xơ ở mặt dưới dương  vật từ rãnh qui đầu tới vị trí niệu đạo có vật xốp. 

Kỹ thuật mổ chuyển gốc dương vật cần chú 

ý đường rạch da và cách chuyển vạt da. Đường  rạch da vừa đủ và khi phẫu tích tách vạt da thì  phải bảo vệ lớp tổ chức dưới da giàu mạch máu.  Hai  vạt  da  bìu  ở  hai  bên  gốc  dương  vật  được  chuyển  lên  che  phủ  sườn  bên  và  mặt  dưới  dương  vật.  Hai  vạt  da  mu  bìu  phía  trên  gốc  dương  vật  chuyển  xuống  gốc  dương  vật  ở  mặt  dưới  có  tác  dụng  giữ  cho  dương  vật  không  bị  kéo vào bìu.  

Khi mổ nên gây cương dương vật chủ động 

để  đánh  giá  mức  độ  cong  dương  vật  trước  và  sau mổ(2,6). 

Kỹ thuật mổ thì hai và kết quả  

Kính  nghiệm  của  chúng  tôi  là  ưu  tiên  lấy  chất liệu tốt để tạo niệu đạo: Sử dụng tối đa bao  qui  đầu  và  da  dương  vật,  vì  da  dương  vật  và  bao  qui  đầu  có  độ  chun  dãn  tốt,  mỏng  nên  dễ  sống khi ghép và không mọc lông. Nếu sau khi  lấy nhiều da dương vật bao qui đầu tạo niệu đạo 

mà thiếu  da  che  phủ  dương  vật  thì  chuyển  vạt 

da bìu có chân nuôi lên. Do vậy nếu lỗ đái thấp 

ở  giữa  bìu  thì  chúng  tôi  phẫu  tích  lấy  vạt  da  niêm mạc bao qui  đầu  với  độ  dài  tối  đa  để  tạo  một  ống  niệu  đạo.  Tạo  một  ống  niêu  đạo  bằng  vạt  da  niêm  mạc  bao  qui  đầu  thường  cho  kết  quả tốt vì chỉ có một miệng nối nên nguy cơ có  biến chứng như hẹp và rò miệng nối thấp. Để có  thể lấy được một vạt da‐niêm mạc bao qui đầu 

có  độ  dài  tối  đa  thì  phải  dùng  vạt  tự  do  vì  vạt  niêm  mạc  bao  qui  đầu  có  cuống  mạch  thường  chỉ đủ tạo niệu đạo dương vật(9). Từ hơn 20 năm  nay,  chúng  tôi  thường  sử  dụng  vạt  niêm  mạc  bao qui đầu tự do để tạo niệu đạo và có kết quả  tốt(7).  Trong  nghiên  cứu  này,  chúng  tôi  mổ  4 

Trang 5

tốt. 

Khi lỗ đái thấp ở ½ sau bìu về phía gốc bìu 

và đáy chậu thì khó tạo được niệu đạo bằng một 

ống da niêm mạc bao qui đầu. Nếu vạt da giữa 

bìu có chất lượng tốt thì chúng tôi tạo niệu đạo 2 

ống  rồi  nối  với  nhau.  Khi  tạo  niệu  đạo  bằng  2 

loại  chất  liệu  thì  dễ  bị  hẹp  chỗ  miệng  nối  niệu 

đạo như kết quả qua theo dõi của chúng tôi. Một 

vấn  đề  khác  nữa  là  rất  khó  đánh  giá  chính  xác 

khả năng mọc lông và tuyến bã ở da bìu trẻ nhỏ. 

Vì vậy kỹ thuật tạo một ống niệu đạo bằng vạt 

da  dày  tự  do  là  một  sự  cân  nhắc  và  lựa  chọn. 

Chúng tôi đã dùng vạt da dày tự do để tạo niệu 

đạo từ năm 1985 và đã mổ ở một số lượng lớn 

bệnh  nhân  và  qua  theo  dõi  kết  quả  lâu  dài  thì 

thấy  đây  cũng  là  một  loại  chất  liệu  tốt  để  tạo 

hình niệu đạo(8,4). Tuy nhiên, để có được kết quả 

tốt thì phải tạo ống có đủ độ dài và rộng, sau mổ 

tránh nhiễm khuẩn. Nguy cơ biến chứng sau mổ 

thường là rò niệu đạo chỗ miệng nối. Vạt da dày 

tự  do  cũng  được  nhiều  tác  giả  sử  dụng  để  tạo 

niệu đạo trong mổ chữa LĐLT(7). 

Ngoài vạt niêm mạc bao qui đầu tự do, vạt 

da dày tự do còn có vạt niêm mạc bàng quang(8) 

và vạt niêm mạc miệng được dùng để tạo hình 

niệu  đạo(10).  Trước  đây,  chúng  tôi  đã  sử  dụng 

niêm mạc bàng quang để tạo niệu đạo nhưng tỷ 

lệ biến chứng cao nên chúng tôi không sử dụng 

nữa(8). Còn niêm mạc miệng thì nếu lấy một vạt 

dài  đủ  để  tạo  niệu  đạo  từ  đáy  chậu  hay  ½  sau 

bìu lên tới đỉnh qui đầu thì thật khó và kết quả 

cũng  không  chắc  hơn  dùng  vạt  da  tự  do  nên 

chúng tôi không sử dụng chất liệu này.  

KẾT LUẬN 

Dị tật LĐLT chủ yếu được chữa bằng phẫu  thuật một thì nhưng nên chỉ định mổ hai thì khi 

lỗ  đái  lệch  thấp  thể  bìu  hay  đáy  chậu  mà  gốc  dương vật ở vị trí thấp, thân dương vật nhỏ và 

nên  mổ  thì  một  khi  bệnh  nhân  từ  6  ‐ 12  tháng 

tuổi. Thì hai mổ tạo niệu đạo nên sau thì một ít  nhất một năm.  

TÀI LIỆU THAM KHẢO 

hypospadias repair. J. Urol, 125: pp 708 – 711. 

Urology, 4: pp 473 – 476. 

three cases with desscription of corrective operation, J. Urol,  93: pp 230 – 232. 

do trong mổ chữa dị tật lỗ đái lệch thấp và hẹp niệu đạo. Tạp  chí Ngoại khoa, 1996, 6: tr 20‐ 24. 

che phủ khuyết da dương vật. Y học thực hành, 506: tr 121‐ 

124. 

định và chọn lựa – áp dụng kỹ thuật điều trị. Tạp chí thông  tin Y Dược Hà Nội, tr 56‐ 61. 

thấp dùng mảnh ghép niêm mạc bao qui đầu tự do tạo niệu  đạo. Tạp chí Y học Thành phố Hồ Chí Minh, *Tập 13*, 6: tr 

158 ‐163. 

của các kỹ thuật mổ chữa dị tật lỗ đái lệch thấp. Tạp chí Y học  thực hành, 6: tr 14‐ 16. 

Nguyễn Mễ (1986). Điều trị lỗ đái lệch thấp ở bìu và đáy chậu  bằng phẫu thuật một thì. Tạp chí Ngoại khoa, 6: tr 12‐16. 

10 Vũ  Văn  Ty,  Nguyễn  Đạo  Thuấn,  Phạm  Hữu  Đoàn,  Lê  Văn  Hiếu Nhân (2008). Kết quả tạo hình niệu đạo bằng niêm mạc  miệng ở 26 bệnh nhân hẹp niệu đạo trước. Y Học TP Hồ Chí  Minh, *Tập 12* Phụ bản của số 4, tr 135‐ 140. 

 

Ngày nhận bài        01/07/2013.  Ngày phản biện nhận xét bài báo  22/07/2013.  Ngày bài báo được đăng:     15–09‐2013    

 

Ngày đăng: 22/01/2020, 03:06

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm