1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Hiệu quả của biện pháp cấp thuốc arterakin tự điều trị sốt rét cho người ngủ rẫy tại hai huyện Tây Sơn và Vĩnh Thạnh tỉnh Bình Định

7 52 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 7
Dung lượng 325,45 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mục tiêu nghiên cứu nhằm đánh giá thực trạng sử dụng thuốc sốt rét tự điều trị trong chương trình phòng chống sốt rét hiện nay và hiệu quả giảm mắc sốt rét cho nhóm người ngủ rẫy được cấp thuốc aterakin tự điều trị.

Trang 1

HIỆU QUẢ CỦA BIỆN PHÁP CẤP THUỐC ARTERAKIN TỰ ĐIỀU TRỊ SỐT

RÉT CHO NGƯỜI NGỦ RẪY TẠI HAI HUYỆN TÂY SƠN

VÀ VĨNH THẠNH TỈNH BÌNH ĐỊNH

Hồ Văn Hoàng*, Triệu Nguyên Trung*

TÓM TẮT

Mục tiêu nghiên cứu: nhằm đánh giá thực trạng sử dụng thuốc sốt rét tự điều trị trong chương trình

phòng chống sốt rét hiện nay và hiệu quả giảm mắc sốt rét cho nhóm người ngủ rẫy được cấp thuốc Aterakin tự điều trị

Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: là cộng đồng dân ngủ rẫy trên 15 tuổi với thiết kế nghiên cứu

cắt ngang và nghiên cứu can thiệp có đối chứng

Kết quả nghiên cứu: Nghiên cứu tỷ lệ đến nhận thuốc tự điều trị sốt rét của người dân khi ngủ rẫy chiếm

55,64% (CI95% từ 52,01%-59,23%) Thuốc cấp tự điều trị sốt rét gồm 53,22% là artesunat, 30,79% là chloroquin và 15,59% là thuốc Arterakin Người dân đến nhận thuốc tự điều trị ở y tế thôn bản chiếm 62,77%

Tỷ lệ sử dụng thuốc tự điều trị sốt rét đủ ngày theo hướng dẫn chiếm tỷ lệ 24,18% Nguyên nhân không uống thuốc đủ ngày là do 43,10% người hết triệu chứng sốt, 22,41% trở về nhà uống tiếp, 12,07% không nhớ và 22,41% không muốn uống tiếp Cấp thuốc Arterakin tự điều trị làm giảm tỷ lệ nhiễm KSTSR Năm 2008, tỷ lệ KSTSR ở nhóm can thiệp là 3,31% giảm so với nhóm đối chứng là 7,56% Năm 2009, tỷ lệ nhiễm KSTSR ở nhóm can thiệp là 2,73% giảm so với nhóm đối chứng là 7,69% (p<0,05) Hiệu quả giảm mắc của biện pháp ở người Kinh có sự khác biệt có ý nghĩa, trong khi ở người Ba Na không có khác biệt ý nghĩa thống kê

Khuyến nghị: Nghiên cứu cũng đưa ra khuyến cáo nên truyền thông giáo dục về biện pháp cấp thuốc tự

điều trị để người dân đến nhận thuốc khi đi ngủ rẫy, theo dõi tình trạng bệnh và việc sử dụng thuốc tự điều trị sau khi đi rẫy về, cung cấp các thuốc tự điều trị ngắn ngày và đào tạo lại y tế thôn bản theo dõi bệnh tại thôn bản

Từ khóa: Tự điều trị

ABSTRACT

THE EFFECTIVENESS OF STANDBY-ARTERAKIN TREATMENT FOR PLOT-HUT POPULATION IN

TAY SON AND VĨNH THANH DISTRICTS, BINH DINH PROVINCE

Ho Van Hoang, Trieu Nguyen Trung

* Y Hoc TP Ho Chi Minh * Vol 16 - Supplement of No 1 - 2012: 58 - 64

The study objectives: were to evaluation the situation of the usage of standby-treatment Arterakin of

Plot-Hut population and to evaluate effectiveness of the usage of standby-treatment Arterakin in Plot-Plot-Hut population Study design: The cross-sectional study and interventional study (providing Arterakin for plot-hut population more than 15 ages)

Results of the study: showed that the proportion of receiving the standby-treatment drugs of plot-hut

population 55.64% (CI95%: 52.01%-59.23%) The stanby antimalarials were artesunate (53.22%), chloroquine (30.79%) and Arterakin (15.59%) The people coming and receiving the standby antimalarials at village health workers were 62.77% The full dose usage of the standby-treatment drugs following the regimens of Ministry of

 Viện Sốt rét-KST-CT Quy Nhơn

Tác giả liên lạc: TS Hồ Văn Hoàng ĐT: 0914004629 Email:ho_hoang64@yahoo.com

Trang 2

Health was 24.18% The reasons of not full dose usages were due to fever clearance (43.10%), coming back home and continuing (22.41%), not remember (12.07%) and dislike to continue (22.41%) The standby Arterakin has decreased malaria parasite rate for plot-hut population In 2008, malaria parasite rate of interventional goup was 3.31%, lower than that of control group (7.56%) In 2009, malaria parasite rate of interventional goup was 2.73%, lower than that of control group (7.69%) The malaria parasite rate decreased with the significant difference at Kinh community, but not significant difference at Ba Na community

Recommedation: The study recommended that we should provide the health education on the standby

treatment drugs in order to the people coming and receiving antimalarials at the commune health station or village health workers when going to and sleeping overnight in the plot hut areas, following the malaria patients and the usage of the drugs after coming back home from the plot huts, retraining the village health workersand also providing the short antimalarials

Key word: Standby-treatment

ĐẶT VẤN ĐỀ

Tình hình sốt rét nhiều vùng trên thế giới

cũng như ở Việt Nam có xu hướng giảm, nhưng

nguy cơ mắc sốt rét ở một số vùng có dân giao

lưu với rừng hoặc có hoạt động đi rừng, ngủ rẫy

là rất cao và đáng quan tâm(3, 8)

Kết quả điều tra về sốt rét trong thời gian

gần đây cho thấy nhóm có nguy cơ mắc sốt rét

cao là những người thường xuyên có hoạt động

và ngủ trong rừng, trong nhà rẫy(3, 4, 5, 6, 7) Hiện

nay, phun tồn lưu nhà ở và tẩm màn với hoá

chất diệt muỗi là các biện pháp chính được sử

dụng để phòng chống véc tơ sốt rét ở Việt Nam

Hai biện pháp này đều có hiệu quả cao trong

phòng chống sốt rét cho cộng đồng dân sống cố

định Tuy nhiên, để bảo vệ cho những người có

hoạt động và ngủ trong rẫy, thì cả phun tồn lưu

và tẩm màn là rất khó thực hiện vì ở trong rừng

họ thường ngủ trong những ngôi lều tạm thời

hoặc thậm chí ngủ ngoài trời

Để bảo vệ đối tượng này, Bộ y tế và Dự án

Quốc gia phòng chống sốt rét đã có chính sách

cấp thuốc tự điều trị khi đi xa cơ sở y tế, tuy

nhiên việc quản lý thuốc cũng như sử dụng của

người dân chưa được đánh giá đầy đủ(1) Mục

tiêu của đề tài này nhằm:

Đánh giá thực trạng sử dụng thuốc sốt rét tự

điều trị trong chương trình phòng chống sốt rét

hiện nay

Đánh giá hiệu quả giảm mắc sốt rét cho

nhóm người ngủ rẫy được cấp thuốc Aterakin

tự điều trị

ĐỐI TƯỢNG - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU Địa điểm và đối tượng nghiên cứu

Nghiên cứu được thực hiện tại 2 huyện Tây Sơn (2 xã Bình Tường, Vĩnh An) và Vĩnh Thạnh (Vĩnh Hòa, Vĩnh Thuận) tỉnh Bình Định Đây là

2 huyện có nhiều người dân làm rẫy và ngủ rẫy Đối tượng điều tra là người có ngủ rẫy trên

15 tuổi

Phương pháp nghiên cứu:

Phương pháp mô tả dịch tễ học:

- Thiết kế nghiên cứu cắt ngang: xác định tỷ

lệ nhiễm ký sinh trùng sốt rét, tỷ lệ nhận thuốc

và sử dụng thuốc tự điều trị của người dân có hoạt động ngủ rẫy tại 2 xã được chọn Cỡ mẫu tính toán theo công thức nghiên cứu cắt ngang

mô tả

Thiết kế can thiệp

So sánh hiệu quả của việc cấp thuốc Arterakin tự điều trị có hướng dẫn cho người ngủ rẫy Hai nhóm nghiên cứu gồm:

Nhóm can thiệp: chọn người ngủ rẫy tại huyện Tây Sơn, cấp dihydrroartemisinin-piperaquin có hướng dẫn

Nhóm đối chứng: chọn người ngủ rẫy tại huyện Vĩnh Thạnh, các biện pháp cấp thuốc theo quy định của chương trình

Kỹ thuật và công cụ nghiên cứu

Xét nghiệm tìm ký sinh trùng sốt rét

Trang 3

(KSTSR) theo phương pháp nhuộm giêm sa,

Khám lâm sàng phát hiện bệnh nhân sốt rét

Phỏng vấn trực tiếp người ngủ rẫy

Phương pháp thống kê y sinh học

Phần mềm EPI INFO để phân tích số liệu

Thời gian nghiên cứu

2008-2010

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

Thực trạng sử dụng thuốc sốt rét tự điều trị

trong chương trình phòng chống sốt rét

hiện nay

Tỷ lệ người dân ngủ rẫy đến nhận thuốc tự

điều trị khi đi ngủ rẫy

Bảng 1: Tỷ lệ người dân ngủ rẫy đến nhận thuốc tự

điều trị

TT Điểm điều tra Điều tra Nhận

2 Vĩnh Thạnh 378 215 56,88 51,72-61,93

Điều tra cơ bản 753 người hoạt động ngủ rẫy cho thấy có 419 người đến nhận thuốc sốt rét mang theo tự điều trị trong thời gian ngủ rẫy chiếm 55,64% Tại huyện Tây Sơn tỷ lệ người ngủ rẫy nhận thuốc tự điều trị là 54,40%, tỷ lệ này tại huyện Vĩnh Thạnh là 56,88%

Loại thuốc nhận khi đi rừng ngủ rẫy

Bảng 2: Tỷ lệ người dân ngủ rẫy đến nhận thuốc tự điều trị

Loại thuốc

Phân tích 419 đối tượng ngủ rẫy nhận thuốc

tự điều trị cho thấy có 53,22% nhận thuốc

artesunat; 30,79% người nhận thuốc chloroquin

và 15,59% nhận thuốc Arterakin

Nơi đến nhận thuốc tự điều trị của người ngủ rẫy

Bảng 3: Nơi đến nhận thuốc tự điều trị của người đi ngủ rẫy

Phân tích nơi đến nhận thuốc tự điều trị cho

thấy tỷ lệ người dân đến nhận thuốc tự điều trị

ở y tế thôn bản là 62,77%, tỷ lệ người dân đến

nhận thuốc ở y tế xã (37,23%) ở cả 2 huyện

Sử dụng thuốc tự điều trị sốt rét của người dân ngủ rẫy

Bảng 4: Tỷ lệ uống thuốc và số ngày sử dụng thuốc tự điều trị của người dân

thuốc

Kết quả bảng trên cho thấy tỷ lệ có uống

thuốc tự điều trị trong thời gian ngủ rẫy là

36,52% Tỷ lệ sử dụng đủ 3 ngày (đủ ngày) đối với Arterakin là 31,40%, đối với chloroquin là

Trang 4

23,81% Đối với artesunat chỉ có 8% sử dụng đến

ngày thứ 4-<7, không có trường hợp nào uống

đủ 7 ngày, số còn lại chỉ uống từ 1-3 ngày

Nguyên nhân không uống thuốc đủ ngày khi ngủ rẫy

Bảng 5: Phân tích nguyên nhân không uống thuốc tự diều trị đủ ngày

Phân tích nguyên nhân không uống thuốc

đủ ngày cho thấy có 43,10% hết sốt, 22,41% trở

về nhà uống tiếp, 12,07% không nhớ và 22,41%

không muốn uống tiếp

Đánh giá hiệu quả giảm mắc sốt rét của Arterakin đối với người đi rẫy

Hiệu quả giảm tỷ lệ KSTSR ở nhóm dân ngủ rẫy được cấp Arterakin

Bảng 6: So sánh tỷ lệ nhiễm KSTSR ở các nhóm nghiên cứu

Kết quả phân tích kết quả sau 2 lần điều

tra theo dõi hiệu quả biện pháp cấp thuốc

Arterakin tự điều trị có hướng dẫn cho thấy tỷ lệ

KSTSR ở nhóm can thiệp giảm so với trước can

thiệp và giảm so với nhóm đối chứng (p<0,05)

Vào thời điểm theo dõi lần 1 (năm 2008), tỷ

lệ KSTSR sau can thiệp ở nhóm can thiệp là

3,31% giảm so với trước can thiệp (8,16%) và giảm so với nhóm đối chứng là 7,56% Theo dõi lần 2 vào tháng 10 năm 2009 cho thấy tỷ lệ KSTSR sau can thiệp ở nhóm can thiệp là 2,73% giảm so với trước can thiệp (6,90%) và giảm so với nhóm đối chứng (7,56%)

Tỷ lệ BNSR qua các lần điều tra ở 2 nhóm dân ngủ rẫy

Bảng 7: So sánh tỷ lệ BNSR ở các nhóm nghiên cứu

Theo

p

2

Kết quả theo dõi số bệnh nhân sốt rét tại các

nhóm nghiên cứu qua 2 lần điều tra cho thấy số

bệnh nhân sốt rét (BNSR) ở nhóm cấp thuốc

Arterakin giảm so với trước can thiệp và so với

nhóm đối chứng Cả 2 thời điểm theo dõi không

có trường hợp sốt rét ác tính và tử vong nào xảy

ra

Phân tích số mắc ở thời điểm theo dõi lần 1 (năm 2008), tỷ lệ BNSR sau can thiệp ở nhóm can thiệp là 3,72% giảm so với trước can thiệp (8,98%) và giảm so với nhóm đối chứng ( 8,40%) Theo dõi lần 2 vào tháng 10 năm 2009 cho thấy tỷ lệ BNSR sau can thiệp ở nhóm can thiệp

là 3,52% giảm so với trước can thiệp (7,66%) và

TT Điểm điều tra Uống không

đủ ngày

Hết sốt Trở về nhà uống tiếp Không nhớ Không muốn uống tiếp

Theo

dõi Thời gian theo dõi

p

Trang 5

giảm so với nhóm đối chứng (8,10%)

Phân tích tỷ lệ nhiễm KSTSR ở người Kinh có hoạt động ngủ rẫy

Bảng 8: So sánh tỷ lệ nhiễm KSTSR ở người Kinh có hoạt động ngủ rẫy

Phân tích tỷ lệ nhiễm ở người Kinh qua 2 lần

theo dõi cho thấy tại nhóm cấp Arterakin tỷ lệ

KSTSR giảm so với trước và so với nhóm đối

chứng Tỷ lệ nhiễm KSTSR tại 2 điểm nghiên

cứu trước can thiệp là không có khác biệt ý

nghĩa thống kê (p>0,05) Tuy nhiên sau khi can

thiệp tỷ lệ nhiễm KSTSR tại điểm can thiệp

giảm, điều tra lần 1 năm 2008 cho thấy tỷ lệ nhiễm tại nhóm can thiệp là 1,04% giảm so với 8,08% tại nhóm đối chứng, điều tra lần 2 năm

2009 cho thấy tỷ lệ nhiễm tại nhóm can thiệp là 2,04% giảm so với 8,26% tại nhóm đối chứng, sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (p<0,05)

Phân tích tỷ lệ nhiễm KSTSR ở người Ba Na có hoạt động ngủ rẫy

Bảng 9: So sánh tỷ lệ nhiễm KSTSR ở người Ba Na có hoạt động ngủ rẫy

Theo

1

2

Phân tích kết quả điều tra vào các thời điểm

theo dõi khác nhau cho thấy tỷ lệ nhiễm KSTSR

(+) của người Ba Na tại nhóm can thiệp giảm so

với nhóm đối chứng Kết quả sau can thiệp lần 1

năm 2008 cho thấy tỷ lệ nhiễm tại nhóm can

thiệp là 4,79% giảm so với 7,19% tại nhóm đối

chứng, theo dõi lần 2 năm 2009 tỷ lệ nhiễm tại

nhóm can thiệp là 3,16% giảm so với 7,25% tại

nhóm đối chứng; tuy nhiên tỷ lệ giảm tại cả 2

thời điểm đều chưa có sự khác biệt về ý nghĩa

thống kê (p>0,05)

BÀN LUẬN

Cho đến nay rất ít báo cáo điều tra về tỷ lệ

người dân đến nhận thuốc khi họ đi rừng ngủ

rẫy mặc dù đã có hướng dẫn từ năm 2003 Trên

thực tế vẫn có người dân đến nhận thuốc tự

điều trị, trong những trường hợp này cán bộ y tế

xã hoặc y tế thôn bản cấp 1 liều thuốc sốt rét

Tuy nhiên mỗi nơi cấp một loại thuốc, sau khi

trở về ít khi người dân đến báo cáo lại có sử

dụng thuốc hay không Tại các điểm điều tra trong nghiên cứu này tỷ lệ người dân đi rừng ngủ rẫy đến nhận thuốc tự điều trị là 55,56% Kết quả này cho thấy vẫn còn tỷ lệ rất cao không đến nhận thuốc mặc dù chính sách thuốc tự điều trị đã được ban hành từ năm 2003 kèm theo những biện pháp truyền thông giáo dục để người dân đến nhận thuốc Theo điều tra tại một

số cộng đồng dân ngủ rẫy tại miền Trung-Tây Nguyên (2005) thì tỷ lệ người dân đến nhận thuốc chỉ chiếm <50%(3) Tình trạng vẫn còn tỷ lệ cao người dân không nhận thuốc có thể do bệnh sốt rét giảm, người dân chủ quan; cũng có thể

do công tác truyền thông chưa đạt hiệu quả cao nên không thay đổi được thái độ và hành vi của người dân

Về thuốc được cán bộ y tế cấp nhiều nhất là chloroquin chiếm tỷ lệ 53,22%, so với điều tra năm 2010 tại Vĩnh Thạnh tỉnh Bình Định tỷ lệ cấp thuốc Arterakin chiếm tỷ lệ đến 60% Đây là

Trang 6

do năm 2009, Bộ y tế có hướng dẫn cho phép

tuyến xã cấp thuốc này cho người dân khi đi

rừng ngủ rẫy, hơn nữa thuốc có hiệu quả, ít tác

dụng phụ so với chloroquin Các hướng dẫn về

thuốc tự điều trị không chỉ rõ cấp thuốc nào nên

cán bộ y tế có thể cấp các loại thuốc khác nhau

Tuy nhiên Arterakin là loại thuốc dùng ngắn

ngày (3 ngày), hiệu quả cao nên cán bộ y tế

thường chọn thuốc này(1) Người dân đi ngủ rẫy

đến nhận thuốc ở y tế thôn bản chiếm tỷ lệ

62,77% cao hơn so với đến Trạm y tế xã (30%)

Điều này là do người dân ở các xã này có thôn

rất xa trạm y tế nhưng gần với y tế thôn bản

hơn Người dân rất ít khi dùng đủ liều, đối với

thuốc có liệu trình 3 ngày như Arterakin cho

thấy chỉ có 31,405% uống đủ 3 ngày; đối với

artesunat chỉ có 1,31% uống 4-7 ngày Trong số

các trường hợp không uống đủ liều có đến

43,10% không uống tiếp do hết sốt, 22,41% trở

về nhà uống tiếp, 12,07% không nhớ để uống

tiếp và 22,41% không muốn uống tiếp Như vậy

trong việc cấp thuốc tự điều trị nên sử dụng các

loại thuốc ngắn ngày, tốt nhất là loại thuốc điều

trị ngắn ngày như arterakin (liều 3 ngày)

Kết quả điều tra cơ bản cho thấy tỷ lệ nhiễm

KSTSR ở người dân có hoạt động ngủ rẫy là

8,16% (Tây Sơn) và 8,71% (Vĩnh Thạnh) cao hơn

nhiều so với tỷ lệ KSTSR theo thống kê số liệu ở

khu vực miền Trung-Tây Nguyên (0,69%) Một

số điều tra trong những năm trước đây tại một

số điểm có dân đi rừng, ngủ rẫy cho thấy tỷ lệ

nhiễm cũng rất cao: Ngọc Lây (Kon Tum) 8,85%,

Dak Rin (Kon Tum) 6,80%, Ia O (Gia Lai) 7,08%,

Sơn Thái (Khánh Hoà) là 29,77%, Khánh Thượng

(Khánh Hòa) 8,16%, Thanh (Quảng Trị) 6,77%(3)

Áp dụng biện pháp cấp thuốc tự điều trị cho

thấy đã giảm tỷ KSTSR ở nhóm có cấp thuốc với

hướng dẫn của cán bộ y tế Năm 2008, tỷ lệ

KSTSR ở nhóm can thiệp là 3,31% giảm so với

nhóm đối chứng là 7,56% Theo dõi năm 2009, tỷ

lệ KSTSR ở nhóm can thiệp là 2,73% giảm so với

nhóm đối chứng là 7,56% (p<0,05) Tỷ lệ KSTSR

ở nhóm người kinh giảm so với nhóm đối

chứng, sự khác biệt có ý nghĩa thống kế (p<0,05),

tuy nhiên tỷ lệ KSTSR ở nhóm người Ba Na

giảm so với nhóm đối chứng không có ý nghĩa thống kê (p>0,05) Như vậy hiệu quả cấp thuốc

tự điều trị cho người Ba Na còn hạn chế, có thể

do người Ba Na uống thuốc thường không đủ liều hoặc không sử dụng thuốc

KẾT LUẬN Thực trạng sử dụng thuốc sốt rét tự điều trị trong chương trình phòng chống sốt rét hiện nay

Tỷ lệ đến nhận thuốc tự điều trị sốt rét của người dân mang theo khi ngủ rẫy chiếm 55,64% (CI95% từ 52,01%-59,23%) Tỷ lệ nhận thuốc tại huyện Tây Sơn là 54,40%, tại huyện Vĩnh Thạnh

là 56,88%

Thuốc cấp tự điều trị sốt rét gồm 53,22% là artesunat, 30,79% là chloroquin và 15,59% là thuốc Arterakin cho người dân mang theo tự điều trị trong thời gian ngủ rẫy

Người dân đến nhận thuốc tự điều trị ở y tế thôn bản là 62,77% cao hơn so với tỷ lệ 37,23% nhận thuốc ở y tế xã

Tỷ lệ sử dụng đủ 3 ngày đối với Arterakin là 31,40%, đối với chloroquin là 23,81%, đối với artesunat không có trường hợp nào uống đủ 7 ngày

Tỷ lệ sử dụng thuốc tự điều trị sốt rét đủ ngày theo hướng dẫn chiếm tỷ lệ 24,18% Nguyên nhân không uống thuốc đủ ngày là

do 43,10% người hết triệu chứng sốt, 22,41% trở

về nhà uống tiếp, 12,07% không nhớ và 22,41% không muốn uống tiếp

Hiệu quả giảm mắc sốt rét của Arterakin đối với người đi rẫy

Cấp thuốc Arterakin tự điều trị làm giảm tỷ

lệ nhiễm KSTSR Năm 2008, tỷ lệ KSTSR ở nhóm can thiệp là 3,31% giảm so với nhóm đối chứng

là 7,56% Năm 2009, tỷ lệ nhiễm KSTSR ở nhóm can thiệp là 2,73% giảm so với nhóm đối chứng

là 7,56% (p<0,05)

Hiệu quả giảm mắc đối với người Kinh: Tỷ

lệ nhiễm KSTSR ở nhóm cấp thuốc Arterakin giảm so với nhóm đối chứng, sự khác biệt có ý

Trang 7

nghĩa thống kế (p<0,05)

Hiệu quả giảm mắc đối với người Ba Na: Tỷ

lệ nhiễm KSTSR ở nhóm cấp thuốc Arterakin

giảm so với nhóm đối chứng, sự khác biệt

không có ý nghĩa thống kê (p>0,05)

ĐỀ NGHỊ

Truyền thông giáo dục về biện pháp cấp

thuốc tự điều trị để người dân đến nhận thuốc

khi đi rừng, ngủ rẫy xa cơ sở y tế

Theo dõi tình trạng bệnh và việc sử dụng

thuốc tự điều trị sau khi đi rẫy về

Cung cấp các thuốc tự điều trị ngắn ngày, dễ

sử dụng

Đào tạo lại y tế thôn bản, giao nhiệm vụ

phát hiện bệnh và cấp túi thuốc để điều trị bước

đầu

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Dự án PCSR Quỹ toàn cầu, Hà Nội

Challenge for control The American Society of Tropical Medicine and Hygiene, 70 (2): 110-118

ở Đak Lak và Dak Nông Y học thành phố Hồ Chí Minh, tập

10, số 4, tr 348-352

phục sốt rét gia tăng do di biến động (đi rừng, ngủ rẫy) ở Bình Tân (Bình Thuận) và Sơn Trạch (Quảng Bình) Kỷ yếu công trình NCKH 1991-2000 Viện sốt rét KST-CT Quy Nhơn, tr

27-39

rừng” Sự kết hợp các yếu tố môi trường, xã hội và văn hóa

Kỷ yếu công trình NCKH 1991-2000 Nhà xuất bản y học, Hà Nội, tr 107-109

Madhya Pradesh, central India: A Case study in tribal community The American Society of Tropical Medicine and Hygiene, 68(5): 602-607

trị cho nhóm dân đi rừng ngủ rẫy Công trình nghiên cứu khoa học, Hội nghị khoa học toàn quốc chuyên ngành sốt rét-Ký sinh trùng-Côn trùng 2001-2005 Nhà xuất bản y học, tr 50-56

giun sán 2001-2005 và triển khai kế hoạch 2006-2010

Ngày đăng: 22/01/2020, 02:51

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w