1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Khảo sát độ tin cậy của NBI trong phát hiện sớm ung thư vùng mũi họng đối chiếu sinh thiết

6 55 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 6
Dung lượng 290,82 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mục tiêu nghiên cứu nhằm khảo sát độ tin cậy của NBI trong phát hiện ung thư đầu cổ. Nghiên cứu tiến hành từ tháng 11/2011 đến tháng 5/2012 tất cả bệnh nhân có khối u nghi ngờ ở vùng mũi họng, thanh quản, đều được nội soi bằng ánh sáng trắng và NBI.

Trang 1

KHẢO SÁT ĐỘ TIN CẬY CỦA NBI TRONG PHÁT HIỆN SỚM

UNG THƯ VÙNG MŨI HỌNG ĐỐI CHIẾU SINH THIẾT

Trịnh Thị Minh Hải*Nguyễn Hữu Dũng **

TÓM TẮT

Mục tiêu nghiên cứu là khảo sát độ tin cậy của NBI trong phát hiện ung thư đầu cổ Nghiên cứu tiến cứu

Từ tháng 11/2011 đến tháng 5/2012 tất cả bệnh nhân có khối u nghi ngờ ở vùng mũi họng, thanh quản, đều được nội soi bằng ánh sáng trắng và NBI So sánh và xử lý số liệu cho thấy độ nhạy, độ chuyên, giá trị tiên đoán dương tính, giá trị tiên đoán âm tính

Kết quả: Trong số 51 bệnh nhân có 17 bệnh nhân có tổn thương vòm, 34 bệnh nhân có tổn thương ở thanh quản.Về giới tính có 33 nam, 18 nữ, với tuổi trung bình là 48,86±15,09 Độ nhạy, độ chuyên, giá trị tiên đoán dương tính và giá trị tiên đoán âm tính lần lượt của ánh sáng trắng lần lượt là 75% 90,7%60%95,1%; của NBI

là 90%97,6%90%97,6%(với p< 0,01)

Kết luận: NBI tỏ ra cải thiện độ chuyên, giá trị tiên đoán dương tính của chẩn đoán trong phát hiện ung thư đầu cổ ở bệnh nhân có nguy cơ cao

Từ khóa: Hình ảnh dải tần số hẹp

ABSTRACT

TO EVALUATE THE DIAGNOSTIC VALUE OF RHINOLARYNGOSCOPY USING A NARROW BAND

IMAGING (NBI) SYSTEM IN DETECTING CARCINOMA OF THE HEAD AND NECK

Trinh Thi Minh Hai, Nguyen Huu Dung

* Y Hoc TP Ho Chi Minh * Vol 17 - Supplement of No 1 - 2013: 11 - 16

Objectives: To evaluate the diagnostic value of rhinolaryngoscopy using a narrow band imaging (NBI) system in detecting carcinoma of the head and neck

Study design: Prospective study

Subjects and methods: Between November 2011 and May 2012 in patients on suspicion of the nasopharyngeal and laryngeal carcinoma at ENT Saigon Hospital They underwent rhinolaryngoscopy screening with both a white light and an NBI system Sensitivity, specificity, positive predictive and negative predictive values for detecting carcinoma were calculated and compared

Results: 51 patients include 17 patients with nasopharyngeal disease and 34 patients with laryngeal disease There were 33 men and 18 women, with a mean age of 48.86 ± 15.09 years (range 17 – 88 years) at the time of diagnosis Sensitivity, specificity, positive predictive and negative predictive values for detecting carcinoma by white light were 75 %, 90.7 %, 60% and 95.1% In contrast, those by NBI were 90%*, 97.6%*, 90%* and 97.6% (*P <0.01 vs white light)

Conclusion: NBI endoscopy significantly improves diagnostic specificity, positive predictive values for detecting carcinoma of the head and neck in high-risk patients

Key words: Narrow band imaging

* Bệnh viện Tai Mũi Họng Sài Gòn ** BM Tai Mũi Họng ĐH Y Dược TPHCM

Trang 2

GIỚI THIỆU

Ung thư TMH đứng hàng thứ sáu trong ung

thư nói chung trên thế giới Phần lớn ung thư

vùng họng và đầu mặt cổ là ung thư biểu mô tế

bào vẩy Bệnh hay gặp ở những vùng như Nam

Á, Nam Mỹ, Tây Á Như chúng ta biết, bệnh

thường xuất hiện muộn và thường được chẩn

đoán vào giai đoạn đã phát triển Hơn nữa, khối

u lại có thể xuất hiện nhiều chỗ trong vùng

TMH(8,10,14)

Tuy nhiên, những tổn thương ung thư vùng

tai mũi họng thường là loạn sản hay bạch sản,

nếu những tổn thương trên bề mặt nông, kích

thước đường kính nhỏ hơn 1cm thì kỹ thuật nội

soi ánh sáng thông thường có thể khó phát hiện

Nội soi nhuộm Lugol được dùng trong bệnh lý

thực quản, nhưng không được dùng trong vùng

đầu cổ vì tính chất kích thích niêm mạc, nguy cơ

bị sặc(5)

Sinh thiết vẫn là tiêu chuẩn để chẩn đoán

bệnh lý ung thư, tuy nhiên sinh thiết có thể đối

diện với nguy cơ chảy máu, nhiễm trùng vết

thương, hơn nữa trên lâm sàng, cần theo dõi tiến

triển của loạn sản, bạch sản một số bệnh nhân

còn cần phải được sinh thiết nhiều lần trong vài

năm Sẹo của sinh thiết lần đầu ảnh hưởng đến

kết quả sinh thiết lần sau(1,2,7)

Ở điểm này, NBI (narrow band imaging), là

nội soi bằng ánh sáng dải tần số hẹp có khả năng

dùng để phát hiện sớm khối u ngay từ biểu hiện

bề mặt niêm mạc có tăng sinh mao mạch(1,2,7)

ĐỐI TƯỢNG - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Đối tượng nghiên cứu

Nghiên cứu được thực hiện trên tất cả những

bệnh nhân đến khám tại bệnh viện Tai Mũi

Họng Sài Gòn từ tháng 11 năm 2011 đến tháng 5

2012, bệnh nhân người lớn có tổn thương u hay

nghi ngờ u vùng mũi họng thanh quản

Dạng nghiên cứu

Tiến cứu, thiết kế theo thể loại mô tả cắt

ngang

Xử lý số liệu Chúng tôi xử lý số liệu sau khi thu thập bằng phương pháp thống kê y học với sự hỗ trợ của phần mềm SPSS 16.0 và Microsoft Excel 2003 KẾT QUẢ

Có tất cả 51 ca được đưa vào lô nghiên cứu

So sánh mức độ tương hợp giữa nội soi ánh sáng trắng và ánh sang NBI với kết quả giải phẫu bệnh

Bảng 1: Độ nhạy và độ đặc hiệu của ánh sáng trắng (GPB là chuẩn)

Giải phẫu bệnh Đặc điểm Dương

tính (n=10)

Âm tính (n=41)

Độ nhạy (%) (KTC 95%)

Độ đặc hiệu (%) (KTC 95%) Dương

tính (n=8) 6 2 Ánh

sáng trắng Âm tính (n=43) 4 39

75 (34,9 – 96,8)

90,7 (77,9 – 97,4)

Nhận xét: Xác định độ nhạy và độ đặc hiệu

của ánh sáng trắng, kết quả cho thấy trong 8 trường hợp dương tính, chỉ có 6 trường hợp là dương thật và 2 trường hợp dương giả Từ kết quả trên, xác định độ nhạy (xác suất kết quả xét nghiệm dương tính) của ánh sáng trắng là 75% Trong 43 trường hợp âm tính, kết quả âm tính thật là 39 và âm tính giả là 4 ca, độ đặc hiệu (xác suất kết quả xét nghiệm âm tính) được xác định

là 90,7%

Bảng 2: Giá trị tiên đoán dương thật và âm thật của ánh sáng trắng (GPB là chuẩn)

Giải phẫu bệnh Đặc điểm

+ (n=10)

- (n=41)

GTTĐ (+)

% (KTC 95%)

GTTĐ (-)

% (KTC 95%)

P

+ (n=8) 6 2 Ánh

sáng trắng (n=43) - 4 39

60 (26,2 – 87,8)

95,1 (83,5 – 99,4)

0,000

2=18,46

Nhận xét: Kết quả cho thấy, giá trị tiên đoán

dương thật của ánh sáng trắng là 60% (Trong 100 người được soi bằng ánh sáng trắng, giá trị tiên đoán có bệnh thật là 60%, giá trị tiên đoán không

có bệnh thật là 95,1%) Giá trị tiên đoán này là có

ý nghĩa thống kê với p=0,000 và 2=18,46

Trang 3

Bảng 3: Độ nhạy và độ đặc hiệu của ánh sáng NBI

(GPB là chuẩn)

Giải phẫu bệnh Đặc điểm Dương

tính (n=10)

Âm tính (n=41)

Độ nhạy (%) (KTC 95%)

Độ đặc hiệu (%) (KTC 95%) Dương tính

(n=10) 9 1

Ánh

sáng

NBI Âm tính

(n=41) 1 40

90 (55,5 – 99,7)

97,6 (87,1 – 99,9)

Nhận xét: Xác định độ nhạy và độ đặc hiệu

của ánh sáng NBI, kết quả cho thấy trong 10

trường hợp dương tính, có 9 trường hợp là

dương thật và 1 trường hợp dương giả Từ kết

quả trên, xác định độ nhạy (xác suất kết quả xét

nghiệm dương tính) của ánh sáng NBI là 90%

Trong 41 trường hợp âm tính, kết quả âm tính

thật là 40 và âm tính giả là 1 ca, độ đặc hiệu (xác

suất kết quả xét nghiệm âm tính) được xác định

là 97,6%

Bảng 4:Giá trị tiên đoán dương thật và âm thật của

ánh sáng NBI (GPB là chuẩn)

Giải phẫu

bệnh Đặc điểm

+ (n=10)

- (n=41)

GTTĐ (+)

% (KTC 95%)

GTTĐ (-)

% (KTC 95%)

P

+ (n=8) 9 1

Ánh

sáng

NBI (n=43) - 1 40

90 (55,5 – 99,7)

97,6 (87,1 – 99,9)

0,000

2=39,1

Nhận xét: Kết quả cho thấy, giá trị tiên đoán

dương thật của ánh sáng NBI là 90% (Trong 100

người được soi bằng ánh sáng NBI, giá trị tiên

đoán có bệnh thật là 90%, giá trị tiên đoán không

có bệnh thật là 97,6%) Giá trị tiên đoán này là có

ý nghĩa thống kê với p=0,000 và 2=39,1

Bảng 5: Xác định sự khác biệt về xác định dương tính

giữa ánh sáng trắng và ánh sáng NBI

Ánh sáng trắng Đặc điểm Dương tính

(n=8)

Âm tính (n=43)

P McNema’s

2 Dương tính

Ánh sáng

NBI Âm tính

0,31 (2=1)

Nhận xét: Trong 51 trường hợp được soi, với

ánh sáng trắng, phát hiện 8 trường hợp dương

tính, tuy nhiên, đối với ánh sáng NBI, phát hiện

được 10 trường hợp dương tính Bằng kiểm định

chi bình phương McNemar, sự khác biệt giữa 2 ánh sáng trong việc xác định dương tính là không có ý nghĩa thống kê với p=0,31 và McNemar’s χ²=1

Bảng 6: Sự đồng thuận giữa 2 máy ánh sáng

Tỷ lệ đồng thuận

Tỷ lệ đồng thuận mong đợi

Hệ số Kappa P 92,2% 70,9% 0,73 0,000

Bảng 7: Xác định sự khác biệt về xác định dương tính giữa giải phẫu bệnh và ánh sáng trắng

Giải phẫu bệnh Đặc điểm Dương tính

(n=10)

Âm tính (n=41)

P McNema’s

2 Dương tính

Ánh sáng trắng Âm tính

0,41 (2=0,67)

Nhận xét: Trong 51 trường hợp được soi, với

giải phẫu bệnh và ánh sáng trắng, trong đó có 6 trường hợp cả 2 phương pháp đều cho kết quả dương tính Bằng kiểm định chi bình phương McNemar, sự khác biệt giữa 2 ánh sáng trong việc xác định dương tính là không có ý nghĩa thống kê với p=0,41 và McNemar’s χ²=0,67

Bảng 8: Sự đồng thuận giữa 2 phương pháp

Tỷ lệ đồng thuận

Tỷ lệ đồng thuận mong đợi

Hệ số Kappa P 88,24% 70,86% 0,59 0,000

Bảng 9: Xác định sự khác biệt về xác định dương tính giữa giải phẫu bệnh và ánh sáng NBI

Giải phẫu bệnh Đặc điểm Dương tính

(n=10)

Âm tính (n=41)

P McNema’s

2 Dương tính

Ánh sáng NBI Âm tính

1 (2=0.00)

Nhận xét: Trong 51 trường hợp được soi, với

giải phẫu bệnh và NBI, phát hiện 10 trường hợp dương tính, tuy nhiên, đối với ánh sáng NBI, trong đó có 9 trường hợp cả 2 phương pháp đều cho kết quả dương tính Bằng kiểm định chi bình phương McNemar, sự khác biệt giữa 2 phương pháp trong việc xác định dương tính là không có

ý nghĩa thống kê với p=1 và McNemar’s χ²=0.00

Trang 4

Bảng 10:Sự đồng thuận giữa 2 phương pháp

Tỷ lệ đồng

thuận

Tỷ lệ đồng

thuận mong

đợi

Hệ số Kappa P 96,08% 68,47% 0,87 0,000

BÀN LUẬN

Trong chẩn đoán những tổn thương ác tính

bề mặt, điều thường ghi nhận sớm nhất là cấu

trúc cuộn mao mạch bị phá hủy, cho ra đám nâu

và những đốm nâu rải rác trên nội soi NBI, đặc

biệt chúng càng biểu hiện rõ nét hơn nếu được

hỗ trợ bằng thiết bị khuếch đại Hình ảnh này

được quan sát thấy trên ung thư thực quản, ung

thư họng, ung thư miệng, và ung thư thanh

quản giai đoạn sớm

Do nghiên cứu của chúng tôi chỉ sử dụng

máy nội soi ánh sáng trắng thường quy cũng

như sử dụng máy nội soi ánh sáng NBI đơn

thuần, không sử dụng các thiết bị khuếch đại và

tăng độ phân giải nên: Hình ảnh mô tả hình

dạng niêm mạc dưới 2 máy nội soi trong nghiên

cứu này chỉ dựa vào các tiêu chuẩn sau: Tiêu

chuẩn nghi ngờ tiền ung thư hay ung thư dưới

nội soi ánh sáng trắng là: bạch sản, những sang

thương đỏ dày sừng, những u bề mặt không đều

và những u bị loét Tiêu chuẩn chẩn đoán những

sang thương ác tính, bao gồm cả ung thư biểu

mô tế bào vảy (SCC: squamous cell carcinoma)

cũng như ung thư biểu mô tại chỗ (CIS:

Carcinoma in situ) bằng NBI là: sự hiện diện của

vùng mô màu nâu nhạt dày sừng với những

đốm màu nâu trên sang thương Tiêu chuẩn này

giống với tác giả Watanabe A(8)

Tuy nhiên, một nghiên cứu gần đây sử dụng

phương pháp nội soi NBI kết hợp với nội soi phế

quản ghi hình BF -6C260 có chức năng phân giải

những thay đổi màu sắc chất lượng cao có thể

xác định hình ảnh rõ ràng hơn, dựa vào đó có

thể chia những thay đổi này ra làm 5 type khác

nhau dựa vào những mô hình thay đổi vi mạch

niêm mạc và cuộn mao mạch của tổn thương:

những tổn thương từ type I đến type IV là không

ác tính và type V là ác tính Hơn nữa những loạn

sản mức độ thấp thường gặp ở xếp loại type IV,

loạn sản nặng và ung thư biểu mô tại chỗ (carcinoma in situ) là ở type Va, ung thư xâm lấn

là type Vb hoặc type Vc Như vậy, xếp loại cuộn mao mạch sẽ giúp dễ dàng dự đoán ung thư và tiền ung thư thanh quản

Trong nghiên cứu này cho thấy: Mô tả hình dạng niêm mạc khi soi dưới ánh sáng trắng thì chiếm tỷ lệ cao nhất là các loại u (14/51 bệnh nhân, chiếm tỷ lệ 27,4%), bao gồm các loại u sụn phễu, bờ, vòm, hạ họng và hốc mũi Kế đến là hình dạng “Khác” như viêm họng, viêm amiđan, nang dây thanh (25,5%) và hình dạng polyp dây thanh (23,5%) Bạch sản tìm thấy dưới ánh sáng trắng chiếm tỷ lệ tương đối thấp (3/51 bệnh nhân, chiếm tỷ lệ 5,9% Dựa theo tiêu chuẩn nghi ngờ tổn thương dưới ánh sáng trắng thì tỷ lệ bệnh nhân lành tính chiếm cao nhất (23/51 bệnh nhân, chiếm tỷ lệ 45,1%), thấp nhất là số bệnh nhân được chẩn đoán ác tính (8/51 bệnh nhân, chiếm tỷ lệ 15,7%), 20 bệnh nhân chưa được chẩn đoán chính xác và thuộc diện nghi ngờ, chiếm tỷ

lệ 39,2%

Kết quả hình ảnh niêm mạc dưới ánh sáng NBI trong nghiên cứu này cho thấy, tỷ lệ phù nề mao mạch dẫn là chiếm đa số 35,3%, kế đến là dạng mảng trắng đốm nâu (21,6%), các trường hợp cuộn mao dẫn, u nhú, u vòm chiếm tỷ lệ thấp (<10%) Dưới ánh sáng trắng, phát hiện 2 trường hợp ung thư Dựa theo tiêu chuẩn nghi ngờ tổn thương dưới ánh sáng NBI thì tỷ lệ bệnh nhân lành tính chiếm cao nhất (39/51 bệnh nhân, chiếm tỷ lệ 76,5%), kế đến là kết quả ác tính (10/51 bệnh nhân, chiếm tỷ lệ 19,6%), thấp nhất

là số bệnh nhân được chẩn đoán nghi ngờ (chỉ có

2 trường hợp không phát hiện được bản chất tổn thương, chiếm tỷ lệ 3,9%)

Kết quả giải phẫu bệnh cho thấy, phát hiện

10 trường hợp ác tính

Vì phần lớn ung thư đầu mặt cổ cũng thuộc dạng ung thư biểu mô tế bào vẩy và có những thay đổi mô học giống như ở vùng thực quản NBI cũng tỏ ra rất có giá trị hỗ trợ trong việc chẩn đoán ung thư biểu mô tế bào vẩy ở vùng

Trang 5

đầu mặt cổ (SCCHN: Squamois cell carcinoma of

the head and neck) ở những bệnh nhân có nguy

cơ cao và ung thư đầu mặt cổ phối hợp với ung

thư thực quản:tác giả Watanabe A và các cộng

sự(16) nghiên cứu trên 667 bệnh nhân ung thư

thực quản được nội soi tìm ung thư phối hợp

vùng đầu mặt cổ: Kết quả của nội soi bằng ánh

sáng trắng thông thường chỉ phát hiện được

23/45 bệnh nhân ung thư với độ nhạy, độ đặc

hiệu, độ chính xác, giá trị tiên đoán dương, giá

trị tiên đoán âm lần lượt so với chẩn đoán mô

học là 51,1%; 99,7%; 96,4%; 92%; 96,6%.Trong khi

đó NBI phát hiện được 44/45 bệnh nhân được

chẩn đoán mô học là ung thư cho thấy độ nhạy,

độ đặc hiệu, độ chính xác, giá trị tiên đoán

dương, giá trị tiên đoán âm lần lượt là 97,7%;

98,9%; 98,8%; 86,3% và 99,8% So sánh giữa hai

phương pháp này dưới đối chiếu mô học thấy rõ

ràng NBI có giá trị chẩn đoán ban đầu cao hơn

rất nhiều so với nội soi bằng ánh sáng thông

thường với độ nhạy 97,8% cao hơn 51,1%, độ

chính xác 98,8% cao hơn 96,4%; giá trị tiên đoán

âm 99,8% cao hơn 96,6%, tất cả các sự khác biệt

này đều có ý nghĩa về mặt thống kê (p<0,001cho

độ nhạy, < 0,01 cho độ chính xác và giá trị tiên

đoán âm)

Một nghiên cứu gần đây nhất: Khi nội soi

ánh sáng NBI kết hợp thiết bị khuếch đại: Khi

phóng đại, những tổn thương sẽ cho là những

đốm nâu rải rác trên bề mặt tổn thương, nơi

mà niêm mạc bình thường sẽ không thấy có,

đường kính của những đốm nâu này khoảng

1mm NBI phóng đại sẽ dễ dàng nhìn thấy ổ

những đốm này tăng sinh gọi những khám

phá này là “kiểu vi mạch tăng sinh”, cho độ

chẩn đoán chính xác của NBI và ánh sáng

trắng là 90,4% và 76,9% có sự khác biệt với

p=0,028 Độ nhạy của NBI trong phát hiện tổn

thương ác tính (carcinoma tại chỗ hoặc

carcinôm xâm lấn) là 88,9% cao hơn ánh sáng

trắng là 68,9% với p=0,020 Dự báo âm tính của

NBI (91,7%) cũng cao hơn ánh sáng trắng

(79,1%) p= 0,048) Độ chuyên và dự báo dương

tính của NBI là 93,2% và 90,9% có khác biệt,

kết quả bên ánh sáng trắng là không khác biệt với p >0,05 Khi so sánh với ánh sáng trắng, những yếu tố được đề nghị ở soi NBI những tổn thương ác tính có giá trị chẩn đoán chính xác hơn Đối với các loại phân type, độ nhạy

và độ chuyên của tổn thương type I (NBI) tiên lượng cho kết quả GPB là polyp dây thanh là 100% Tương tự, cho chẩn đoán viêm thanh quản mạn là 100% Độ nhạy và độ chuyên của type III tiên lượng cho kết quả GPB squamous cell hyperplasia là 70% và 95,2 % Của type IV tiên lượng cho kết quả GPB loạn sản thấp là 68,4% và 92,9% Của type V cho tiên lượng kết quả GPB loạn sản nặng hoặc carcinôm tại chỗ

là 83,3 và 100% Do đó, NBI có kết hợp nội soi phóng đại dường như có hiệu quả và là phương pháp can thiệp ít xâm lấn cho việc phát hiện bệnh sớm và có khả năng khám phát hiện những thay đổi vi mạch trong suốt tiến trình ung thư hóa, NBI có phóng đại không chỉ được ứng dụng trên lâm sàng ở vùng đầu

cổ mà còn ở phế quản, thực quản, dạ dày và ruột NBI có khuếch đại được xem là phương pháp có khả năng phát hiện sớm ung thư đều dựa trên căn bản là sự phân bố mạch máu không đều Tăng sinh tân mạch là điểm cho thấy chuyển biến của tiền ung thư trong quá trình tăng sinh của tiến trình ung thư hóa Cho nên, chẩn đoán dựa trên thay đổi mạch dẫn hay hình dạng mạch máu là quan điểm của việc phát hiện sớm u tân sinh

Một nghiên cứu gần đây nhất về sự ứng dụng Toluidine blue trong chẩn đoán sang thương ác tính hoặc tiền ung thư dưới dạng loạn sản vùng miệng của tác giả Palamo và cộng sự cho thấy phương pháp này chỉ cho độ nhạy 65,5%; độ đặc hiệu 73,3%; giá trị tiên đoán dương 35,2% và giá trị tiên đoán âm là 90,6% Từ kết quả này cho thấy: giá trị ứng dụng phương pháp này trong chẩn đoán sang thương ác tính hoặc tiền ung thư dưới dạng loạn sản vùng miệng vẫn chưa chắc chắn

Như chúng ta đã biết, trong các loại ung thư đầu mặt cổ thì ung thư thanh quản nếu được

Trang 6

chẩn đoán và điều trị sớm sẽ cho kết quả rất khả

quan Do đó, chẩn đoán sớm ung thư thanh

quản thật sự có giá trị cho tiên lượng và có thể

lựa chọn giải pháp điều trị tốt nhất Các nghiên

cứu trước đây giới thiệu phương pháp nội soi

thanh quản tự phát huỳnh quang, dùng kết hợp

với nội soi ánh sáng trắng kinh điển được gọi là

nội soi tự phát huỳnh quang (Autofluorescent

endoscopy) có thể phát hiện sớm những tổn

thương tiền ung thư và ác tính Độ nhạy của

phương pháp này khoảng 92 – 97%tương đương

với nội soi NBI Tuy nhiên, tỉ lệ dương tính giả

tương đối cao vì một vài tổn thương lành tính

(bao gồm mô hạt, u nhú và polyp dây thanh)

cũng làm mất màu xanh của huỳnh quang Vì

thế độ đặc hiệu chỉ trong khoảng từ 60 –

82%..Hơn nữa, những vết sẹo niêm mạc và viêm

cũng thường cho kết quả dương tính giả nên ở

bệnh nhân đã mổ ung thư thanh quản hay xạ trị

khi khám theo dõi sẽ có giới hạn khi dùng

phương pháp này Ngược lại, trên kết quả mô

sẹo hay mô viêm khi nội soi NBI có thể phân biệt

dễ dàng với những sang thương tiền ung thư

hay ác tính

Bệnh nhân ung thư thanh quản là những

bệnh nhân có nguy cơ cao phát triển các loại ung

thư biểu mô đồng bộ và không đồng bộ khác

vùng đầu mặt cổ Tỉ lệ ung thư thứ phát của ung

thư đầu cổ cao có thể được cho là do một hiệu

ứng “vùng tạo ung thư” (“field cancerisation”

effect) Sự phát triển thêm ung thư thứ phát có

thể làm giảm tỉ lệ sống còn của bệnh nhân Hơn

nữa, ung thư đầu cổ rất thường được điều trị

bằng xạ trị để giữ lại chức năng nói cho bệnh

nhân, nhưng tần suất tái phát rất cao Ngày nay,

CT scan và MRI còn hạn chế trong chẩn đoán

ung thư tái phát ở bệnh nhân đang được điều trị

bằng hóa trị liệu và xạ trị Trong nghiên cứu gần

đây của Katada và cộng sự(7) đã ghi nhận: NBI có

hiệu quả trong việc phát hiện ung thư biểu mô tế

bào vẩy (SCC) bề mặt đồng bộ khác vùng niêm

mạc họng và hạ họng đã được điều trị hóa trị

liệu trước đó Mỗi bệnh nhân đều có thể được

phát hiện ung thư giai đoạn sớm, can thiệp điều

trị tối thiểu, và điều này có thể cải thiện được tiên lượng cho bệnh nhân và cải thiện chất lượng cuộc sống NBI thật sự là công cụ có thể phân biệt được tổn thương thanh quản không ác tính

và ác tính bằng cách xem phân bố mao mạch niêm mạc

KẾT LUẬN NBI thật sự là công cụ có thể phân biệt được tổn thương vùng mũi họng không ác tính và ác tính bằng cách xem phân bố mao mạch niêm mạc

Nghiên cứu trên, hình dáng mạch máu của cuộn mao mạch đều có thể xếp thành 5 types, có liên quan đến tổn thương mũi họng nặng xác định bằng mô học Hơn nữa, tính chất của cuộn mao mạch nội mô không ảnh hưởng bởi mô sẹo hay mô viêm Vì vậy việc đánh giá cuộn mao mạch qua NBI có thể dùng thường quy để khám mũi họng thanh quản ở những bệnh nhân có nguy cơ cao, dùng trong tầm soát ung thư đồng

bộ và khác bộ của ung thư đầu cổ, để quản lý theo dõi hiệu quả điều trị và kiểm tra ung thư tái phát sau phẫu thuật

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Gono K, Obi T, Yamaguchi M et al (2004) Appearance of

enhanced tissue features in narrow band endoscopic imaging J

Biomed Opt 9:pp568 – 577

2 Gono T, Yamazaki K, Doguchi N, et al (2003) Endoscopy

observation oftissue by narrow band illumination Opt Rev

10:pp: 211 – 215

3 Muto M, Hironaka S, Nakane M, et al (2002) Association of multiple Lugol-voiding lesions with synchronous and metachronous oesophageal squamous cell carcinoma in

patients with head and neck cancer Gastrointest Endosc 56;

pp:517 – 521

a new diagnosic approach to visualize angiogenesis in

superficial neoplasia Clin Gastroenterol Hepatol 3:S16 – 20

5 Muto M, Nakane M, Katada C, et al (2004) Squamous cell carcinoma in situ at oropharyngeal and hypopharyngeal

mucosal sites Cancer 101; pp: 1375 – 1381

6 Ni XG, He S, Xu ZG, et al (2011) Endoscopic diagnosis of laryngeal cancer and precancerous lesions by narrow band

imaging The Journal of Laryngology and Otology 125: 233 – 296

học.tr:104-110

8 Watanabe A, Hosokawa M, Taniguchi M, Sasaki S (2003) Periodic pharyngolaryngoscopy detects early head and neck

cancer and improves survival in esophageal cancer Ann Thorac

Surg 76; pp:1699 – 1705

Ngày đăng: 22/01/2020, 02:48

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w