1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Góp phần nghiên cứu về chẩn đoán và xử trí vết thương thận

7 73 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 7
Dung lượng 537,08 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nội dung của bài viết trình bày về vết thương thận trong cấp cứu niệu khoa thường gặp. Kết quả cho thấy vết thương thận cần được chẩn đoán và xử trí sớm, chẩn đoán chủ yếu dựa vào lâm sàng, siêu âm và CT scan, điều trị phẫu thuật khi tình trạng huyết động không ổn định hoặc có tổn thương phối hợp. Điều trị không phẫu thuật được áp dụng cho các trường hợp nhẹ, không kèm tổn thương kết hợp. 

Trang 1

VẾT THƯƠNG THẬN 

Thái Minh Sâm*, Nguyễn Bá Quang * , Trần Ngọc Sinh** 

TÓM TẮT 

Đặt vấn đề: Vết thương thận(VTT) là một cấp cứu niệu khoa thường gặp, làm thế nào để chẩn đoán chính 

xác, không bỏ sót các thương tổn và lựa chọn phương pháp điều trị hợp lý trong giai đoạn hiện nay?  

Đối  tượng  và  phương  pháp  nghiên  cứu:  Phương pháp nghiên cứu là hồi cứu mô tả hàng loạt ca. Đối 

tượng là các trường hợp VTT được điều trị tại bệnh viện Chợ Rẫy từ tháng 01/2005 đến 07/2011. 

Kết quả: Có 59 trường hợp (TH), tuổi trung bình là 26,32 tuổi, nam chiếm 89,8%; tất cả các TH đều do bị 

đâm bằng vật sắc; Tiểu máu đại thể chiếm 76,3% TH; huyết động không ổn định chiếm 16,9%; siêu âm bụng: 

61,2%  có  tụ  dịch  quanh  thận,  34,7%  có  tổn  thương  nhu  mô  thận.  CT  scan  100%  có  tụ  dịch  quanh  thận  và  85,7%  có  tổ  thương  nhu  mô  thận.  Điều  trị  phẫu  thuật  chiếm  74,6%,  trong  đó:  khâu  thận  84,1%,  cắt  thận  13,6%. Tổn thương kết hợp chiếm 30,5%, trong đó tổn thương tạng rỗng  chiếm  66,7%.  Biến  chứng  sau  mổ  22%, trong đó chảy máu thứ phát chiếm 76,9%, rò nước tiểu chiếm 23,1%. Tử vong 1 TH chiếm 7,7%.Nhóm  không phẫu thuật: chiếm 25,4% có 3 TH bị biến chứng chảy máu thứ phát điều trị nội khoa thành công 2 TH còn 

1 TH làm thuyên tắc mạch máu thận thành công. Điều trị xâm lấn tối thiểu bằng can thiệp nội mạch chiếm tỷ lệ  thấp (3/59 TH) và chỉ áp dụng để giải quyết biến chứng chảy máu dai dẳng. 

Kết luận: VTT cần được chẩn đoán và xử trí sớm. Chẩn đoán chủ yếu dựa vào lâm sàng, siêu âm và CT 

scan. Điều trị phẫu thuật khi tình trạng huyết động không ổn định hoặc có tổn thương phối hợp. Điều trị không  phẫu thuật được áp dụng cho các trường hợp nhẹ, không kèm tổn thương kết hợp. Điều trị xâm lấn tối thiểu 

bằng can thiệp nội mạch có hiệu quả cao nếu chỉ định hợp lý, kỹ thuật nên đươc phát huy.  

Từ khóa: vết thương thận; điều trị phẫu thuật; điều trị không phẫu thuật 

ABSTRACT 

EVALUATE DIAGNOSTIC RESULT AND MANAGEMENT OF PENETRATING RENAL TRAUMA AT 

CHO RAY HOSPITAL 

Thai Minh Sam, Nguyen Ba Quang, Tran Ngoc Sinh  

* Y Hoc TP. Ho Chi Minh * Vol. 18 ‐ Supplement of No 1 ‐ 2014: 16 ‐ 22 

Introduction:  Penetrating  renal  trauma  is  a  popular  urology  emergency.  How  can  we  diagnose  injuries 

exactly, do not miss these injuries and choose reasonable treatment options…So we do this research to answer this  question. 

Material  and  Method:  Retrospective  case  series  in  patients  with  penetrating  renal  injuries  at  Cho  Ray 

hospital from Jan 2005 to July 2011 

Result: There were 59 penetrating renal trauma. Mean age is 26.32 years old, Male account for 89.8%; all 

cases is due to stabbing. Visual hematuria accounted for 76.3 %; hemodynamic instability accounted for 16.9%.  61.2% of cases had perinephric fluid and 34.7% of cases had parenchymal disruption in abdominal ultrasound.  There were 100% of patients with perinephric fluid and 85.7% of patients with parachymal disruption in CT  Scan.  Operative  mangement  accounted  for  74.6%:  nephrectomy  13.6%,  kidney  suture  84.1%.  Multiple 

Trang 2

association injuries in 18 cases (30.5%), in these cases hollow organs injuries accounted for 66.7%. 13 cases had  complications (22%), secondary haemorrage renal bleeding accounted for 76.9%, urinoma accounted for 23.1%.  Mortality:  1  case  (17.7%)  Non‐operation  accounted  for  25.4%.  include  3  cases  with  late  kidney  bleeding,  successful  internal  treatment  in  2  cases,  obstructing  renal  vascular  in  1  case.  Low  rate  of  minimal  invasive  treatment  with  intravascular  intervention  accounted  for  (3/59  case)  and  only  to  resolve  prolonged  bleeding  complications. 

Conclusion:  It’s  necessary  to  early  identify  and  manage  penetrating  renal  trauma.  Diagnostic  bases  on 

clinical  examination,  ultrasound  and  CT  scan.  Operative  management  is  need  in  instability  hemodynamic  or  combined  injuries.  Inoperative  management  in  case  without  associated  injuries.  Minimal  invasive  with  intravascular intervention is effective in reasonable cases 

Key Words: penetrating renal trauma; operation; non‐operation 

ĐẶT VẤN ĐỀ 

Vết thương thận (VTT) là một cấp cứu niệu 

khoa  thường  gặp.  Nguyên  nhân  có  thể  do  bị 

đâm hay do hỏa khí. Chẩn đoán ngoài việc đánh 

giá mức độ tổn thương thận, cần chẩn đoán các 

tổn  thương  phối  hợp  đi  kèm.  Về  điều  trị,  tùy 

tình  trạng  bệnh  nhân,  tình  trạng  VTT  và  tổn 

thương  đi  kèm  có  thể  chọn  lựa  một  trong  các 

phương  pháp  thích  hợp  như:  can  thiệp  ngoại 

khoa  cấp  cứu,  điều  trị  không  phẫu  thuật  hoặc 

điều  trị  can  thiệp  xâm  lấn  tối  thiểu  bằng  can 

thiệp nội mạch mà gần đây nhiều tác giả trên thế 

giới áp dụng.  

Trong tình hình đất nước ta hiện nay, làm 

thế nào để chẩn đoán chính xác, không bỏ sót 

các thương tổn và lựa chọn phương pháp điều 

trị  hợp  lý   Đây  là  những  vấn  đề  mà  các  nhà 

Niệu  khoa  luôn  quan  tâm.  Vì  vậy  chúng  tôi 

tiến  hành  nghiên  cứu  đánh  giá  kết  quả  chẩn 

đoán và xử trí VTT. 

ĐỐI TƯỢNG ‐ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 

Nghiên  cứu  là  hồi  cứu  mô  tả  hàng  loạt  ca. 

Đối tượng là những bệnh nhân VTT được nhập 

khoa  Cấp  cứu  và  điều  trị  tại  BV  Chợ  Rẫy  từ 

tháng  01/2005  đến  07/2011.  Loại  trừ  những 

trường  hợp  VTT  đã  xử  trí  phẫu  thuật  ở  tuyến 

dưới sau đó chuyển lên điều trị tiếp tại BVCR. 

Phương pháp tiến hành 

Bệnh  nhân  bị  VTT  sẽ  được  khảo  sát  tuổi, 

giới,  cơ  chế  gây  vết  thương.  Về  chẩn  đoán  dựa 

vào bệnh sử và khám lâm sàng xác định vị trí, số  lượng  vết  thương,  tình  trạng  tiểu  máu,  tình  trạng huyết động, toàn thân  và dựa vào các xét  nghiệm chẩn đoán hình ảnh như: Siêu âm và CT  scan, UIV để xác định tình trạng tổn thương của  thận và các cơ quan lân cận, đồng thời đánh giá  mức độ nặng nhẹ của bệnh. 

Về điều trị: đánh giá các phương pháp điều  trị được lưa chọn ‐ Phẫu thuật hay không phẫu  thuật?  Nếu  phẫu  thuật  đánh  giá  kết  quả  xử  trí  dựa  trên  mức  độ  tổn  thương  thận,  tình  trạng  huyết  động  và  tổn  thương  kết  hợp chẩn  đoán 

và xử trí các biến chứng nếu có. 

KẾT QUẢ 

Từ  01/2005  đến  07/2011  có  59  trường  hợp  (TH) được đưa vào nghiên cứu. 

Đặc điểm của mẫu nghiên cứu 

Tuổi 

Tuổi trung bình: 26,32 ± 10,43 tuổi. Nhỏ nhất: 

14 tuổi, lớn nhất: 60 tuổi.  

Giới 

Nam  53  TH  chiếm  89,8%,  nữ  6  TH  chiếm  10,2%. 

Nguyên nhân gây vết thương thận:  

100%  các  VTT  là  do  bị  đâm  bằng  vật  sắc  nhọn. 

Lâm sàng 

Vị trí vết thương 

Trang 3

Biểu đồ 1. Phân bố bệnh nhân theo vị trí vết thương 

Liên quan giữa vị trí vết thương và tổn thương phối hợp. 

Bảng 1: Mối liên quan vị trí vết thương và tổn thương kết hợp. 

Vị trí vết Tổn thương kết hợp Không tổn thương kết hợp Tổng cộng P

Số lượng vết thương 

‐ Ít nhất: 1 vết thương.  

‐ Nhiều nhất: 5 vết thương. 

‐ Trung bình: 1,17 vết thương. 

Khảo  sát  mối  liên  quan  giữa  số  vết  thương 

và tổn thương kết hợp ghi nhận những TH từ 2 

vết thương trở lên thì khả năng tổn thương phối 

hợp càng tăng (72,7 % so với 20,8%) với Fisherʹs 

Exact Test, P = 0,002 < 0,05.  

Tiểu máu đại thể 

Gặp trong 45 TH, chiếm 76,3%. 

Tình trạng huyết động 

Huyết động lúc nhập viện ổn định (HA tâm 

thu  ≥  90  mmHg):  có  49  TH  (83,1%)  và  huyết 

động không ổn định (HA tâm thu < 90 mmHg): 

10 TH (16,9%).  

Có mối tương quan giữa huyết động không 

ổn  định  với  tổn  thương  phối  hợp  (70%  so  với  22%) cũng như tương quan với tỉ lệ mổ cắt thận  (40% so với 5,9%) với p<0,05. 

Xét nghiệm chẩn đoán hình ảnh 

Siêu âm bụng 

Có  49/59  TH  được  làm  siêu  âm  bụng  cấp  cứu,  kết  quả  như  sau:  Tổn  thương  thận  17/49 

TH,  chiếm  3 ,7%;  Tụ  dịch  quanh  thận  30/49  (61,2%;  Dịch  tự  do  trong  ổ  bụng  19/49  (38,8%);  kết quả siêu âm bình thường 4 (8,2%). 

CT Scan bụng có cản quang 

6 0

10

20

30

Ngực (10.2%) Lưng (50.8%)

(49.2%) (8.5%)

Ngực (1 2%

Lưng  Mạn sường (4 2%

Bụng (8.5%

5

0

1

2

3

(100%

Rách thận (85,7%) Dịch tự do trong ổ bụng (14,3%

Thoát thuốc ngoài thận t (11,4%

Hợi tự do trong ổ bụng(11,4%) Thận thiếu tăng sáng

3

4  

35

1

Trang 4

Có  35  TH  thực  hiện  CT  scan  bụng  có  cản 

quang tại cấp cứu (27 TH trong nhóm điều trị 

phẫu  thuật,  8  TH  trong  nhóm  điều  trị  không 

phẫu thuật). 

Phân độ VTT dựa trên CT scan 

Thực hiện trên 35 TH.  

Bảng 2: Phân bố bệnh nhân theo độ tổn thương thận 

qua CT scan 

Phân Độ Số TH Tỉ lệ %

 Hemoglobin (HGB)  

Bảng 3: Phân bố bệnh nhân theo mức độ thiếu máu 

lúc vào viện. 

Chỉ số HGB Số TH Tỉ lệ %

bình thường 120 ≤ HGB ≤ 170

g/l:

17 28,8 thiếu máu nhẹ 100 ≤ HGB < 120

g/l:

20 33,9 thiếu máu vừa80 ≤ HGB <100: 17 28,8

thiếu máu nặng HGB < 80 g/l: 5 8,5

Chẩn đoán trước mổ 

Trong  44  TH  chỉ  định  PT  có  32  TH  (72,7%) 

được chẩn đoán VTT trước mổ và 12 TH (27,3%) 

được  chẩn  đoán  VTT  trong  lúc  mổ,  những 

trường  hợp  này  thường  kèm  theo  tổn  thương 

phối  hợp  và  được  các  chuyên  khoa  khác  chỉ 

định  mổ,  sau  đó  phát  hiện  VTT  mới  mời  hội 

chẩn Tiết niệu trong lúc mổ. 

Điều trị vết thương thận 

Điều trị không phẫu thuật:  

Điều  trị  không  phẫu  thuật  15  TH  chiếm 

25,4%. 

Điều trị phẫu thuật 

44  TH  được  chỉ  định  mổ  cấp  cứu,  xử  trí  trong mổ như sau (Bảng 3.6). 

Bảng 3. Phân bố bệnh nhân theo phương pháp điều 

trị vết thương thận 

Phương pháp

Cắt thận toàn phần 6 13.6%

Đường mổ 

Giữa  bụng  41  TH  (93,2%),  hông  lưng  3TH 

(6,8%). 

Tổn thương kết hợp   

Bảng 4. Tỷ lệ tổn thương các cơ quan kết hợp  

Tạng

.Trong  44  TH  phẫu  thuật  vết  thương  thận  có 

18 TH có tổn thương kết hợp, chiếm 40,9%. 

Biến chứng và phương pháp xử trí 

13/59 TH có biến chứng chiếm 22%. 

Bảng 4. Phân bố bệnh nhân theo loại biến chứng và xử trí. 

Biến chứng Nhóm Không PT Nhóm PT Tần số Xử trí (Không PT+PT)

-Giả phình 1,

Rò ĐTM 1 -Áp xe cạnh thận 1

10 (76,9%) -Đ.trị nội (2+3)

-Khâu thận (0+1) -Thuyên tắc (1+2) -Cắt thận (0+1)

-Nang giả niệu1

3 (23,1%) Thông JJ (0+3)

(DL cạnh thận 1)

Tử vong 

1TH (7,7%) rối loạn đông máu, viêm phổi 

BÀN LUẬN 

Tuổi và giới  

Nghiên  cứu  chúng  tôi  tương  tự  các  tác  giả  khác trên thế giới như: Kansas BT, Federle MP,  Nicol AJ: 28 tuổi, nam 92‐93%.  

Về chẩn đoán 

Về vị trí vết thương 

Trang 5

Tổn  thương  xuyên  thấu  qua  thành  bụng 

trước có khả năng tổn thương nhiều cơ quan kết 

hợp  và  còn  là  nguyên  nhân  tổn  thương  thận 

nặng. Những vết thương từ sau tới có thể gây ra 

tổn  thương  thận  cũng  như  cơ  quan  lân  cận  ít 

hơn và có thể điều trị không phẫu thuật. 

Vấn đề tiểu máu  

Là dấu hiệu quan trọng của chấn thương hệ 

niệu,  tuy  nhiên  không  tiểu  máu  không  loại  trừ 

tổn  thương  thận.  Tiểu  máu  được  chứng  minh 

không  tương  quan  với  độ  nặng  chấn  thương 

thận (Armenakas N.A, và McAninch JW). 

Huyết động 

Dấu hiệu quan trọng trong việc lựa chọn cho 

điều trị phẫu thuật hoặc không phẫu thuật. Nếu 

huyết động không ổn định, không đáp ứng với 

hồi  sức  thông  thường,  nên  được  phẫu  thuật 

sớm.  Huyết  động  không  ổn  định  có  mối  liên 

quan đến tổn thương phối hợp và khả năng cắt 

thận. 

Về cận lâm sàng 

Kết quả siêu âm  

Siêu  âm  có  thể  cung  cấp  thông  tin  quan 

trọng về tổn thương thận khi được thực hiện bởi 

những  bàn  tay  kinh  nghiệm,  nhưng  trong  hầu 

hết  các  trường  hợp,  sự  hữu  ích  của  siêu  âm 

thường  thấp  hơn  CT  scan.  Ưu  điểm  siêu  âm  là 

nhanh chóng, thông dụng và không xâm hại và 

giá thành rẻ. 

 CT Scan 

Demetriades và cs đã báo cáo CT scan có giá 

trị  đánh  giá  tổn  thương  trong  bụng  và  ngực. 

Nếu CT scan chẩn đoán hoặc gợi ý tổn thương 

tạng  rỗng  nên  quyết  định  mổ  sớm.  CT  scan  có 

độ  nhạy  và  độ  chuyên  trong  việc  xác  định  tổn 

thương  trong  ổ  bụng  là  98,5%  và  96,5%.  Theo 

Djakovic  N,  McAninch  J.W,  Santucci  R.A  cho 

rằng độ tổn thương thận tỷ lệ thuận với tỷ lệ tổn 

thương kết hợp.  

Về điều trị 

Điều trị không phẫu thuật 

nghiên cứu. 

Tác giả nghiên cứu Điều trị không phẫu thuật (%)

Nghiên cứu chúng tôi 25,4

Tỷ lệ điều trị không phẫu thuật qua nghiên  cứu  của  chúng  tôi  thấp  hơn  so  với  các  tác  giả  khác trên thế giới.  

Điều trị phẫu thuật  

McAninch  JW  và  cs  cho  rằng  điều  trị  phẫu  thuật  vết  thương  thận  khi  tổn  thương  thận  độ  III,  IV  trở  lên  hoặc  huyết  động  không  ổn  định,  hoặc kèm tổn thương kết hợp. 

Đường mổ 

Để tránh bỏ sót thương tổn kết hợp trong ổ  bụng, đa số các tác giả khuyến khích đường mổ 

là  đường  giữa  bụng,  tuy  nhiên  nếu  vết  thương  đơn thuần ở thận như vết thương do dao đâm ở  vùng  hông  lưng,  có  thể  mổ  theo  đường  hông  lưng.  

Xử trí trong lúc mổ 

Thám sát thận 

Khi  mở  bụng,  phát  hiện  khối  máu  tụ  sau  phúc  mạc,  vấn  đề  là  nên  hay  không  nên  thám  sát  sau  phúc  mạc.  Những  dấu  hiệu  chỉ  điểm  thám  sát  sau  phúc  mạc:  khối  máu  tụ  sau  phúc  mạc  lan  rộng  hoặc  có  nhịp  đập;  trường  hợp  không có tổn thương trong ổ bụng để giải thích  lâm sàng huyết động không ổn  định  hoặc  diễn  tiến xấu hơn. Có tác giả cho rằng tổn thương kết  hợp  làm  tăng  nguy  cơ  cắt  thận  mặc  dù  tổn  thương thận có thể điều trị được.  

Khâu thận hoặc cắt thận 

Về  nguyên  tắc  cố  gắng  khâu  chủ  mô  cầm  máu, bảo tồn thận nếu có thể. Tỷ lệ cắt thận phụ  thuộc vào độ tổn thương thận và tổn thương kết  hợp, trên thực tế nếu huyết động không ổn định  kèm  tổn  thương  thận  vùng  rốn  hoặc  kèm  tổn  thương phối hợp các tác giả thường nghiêng về  chỉ định cát thận. 

Tổn thương kết hợp 

Trang 6

của  chúng  tôi  tương  tự  tác  giả  Heyns  C.  F, 

nhưng khác biệt so với các tác giả Armenakas N, 

Kansas B. T. Có thể nghiên cứu của chúng tôi và 

Heyns  C  F  có  cùng  nguyên  nhân  gây  ra  vết 

thương thận là bị đâm. Còn nghiên cứu của các 

tác  giả  khác  thì  ngoài  nguyên  nhân  gây  ra  vết 

thương thận là bị đâm còn có nguyên nhân là bị 

bắn, nên tỷ lệ tổn thương kết hợp cao hơn. 

Bảng 6: Tỷ lệ tổn thương kết hợp qua các nghiên 

cứu. 

Tác giả Heyns C.F Armenaka s N A Kansas BT Chúng tôi

Theo  Djakovic  N,  McAninch  JW,  Santucci 

RA cho rằng độ tổn thương thận càng nặng thì 

càng  kèm  theo  tổn  thương  kết  hợp.  Chúng  tôi 

nhận thấy không thấy có mối liên quan giữa độ 

tổn thương thận và tổn thương kết hợp có lẽ do 

số liệu còn khá ít.  

Về biến chứng và xử trí biên chứng  

Chảy máu thận muộn 

Chảy  máu  thận  muộn  haychảy  máu  thứ 

phát là biến chứng thông thường của vết thương 

rách  vỏ  hoặc  tủy  thận  sâu  có  thông  với  đài  bể 

thận. Chảy máu thận muộn có thể từ giả phình 

mạch hoặc rò động – tĩnh mạch thận. Trước đây 

khi chưa có X quang mạch máu và làm thuyên 

tắc thì chảy máu thận dai dẳng sau vết thương 

thận thường phải phẫu thuật lại để khâu lại vết 

thương hoặc cắt thận bán phần hoặc toàn phần. 

Ngày nay hầu hết các ca này có thể được điều trị 

thành  công  với  làm  kỹ  thuật  làm  thuyên  tắc 

mạch.  

Rò nước tiểu 

Thoát nước tiểu kết hợp với rách thận sẽ tự 

khỏi trong 80‐90% nhiều trường hợp có thể theo 

dõi. Trong một số ít trường hợp rò nước tiểu có 

thể tạo thành nang giả niệu và áp xe quanh thận. 

Trước đây, nang giả niệu được điều trị phẫu 

thuật,  hiện  nay  với  kỹ  thuật  nội  soi  niệu  khoa 

cho phép điều trị rò nước tiểu dai dẳng và nang 

giả niệu sau tổn thương thận với dẫn lưu nước 

tiểu  qua  da  kết  hợp  đặt  hay  không  đặt  ống 

thông niệu quản.  

KẾT LUẬN 

Vết thương thận là một cấp cứu ngoại khoa, 

đa số gặp ở nam giới trẻ đang trong độ tuổi lao  động. Tác nhân chính là do dao đâm. Chẩn đoán  chủ yếu dựa vào lâm sàng như vị trí vết thương,  tình  trạng  tiểu  máu.  Siêu  âm  và  CT  scan  là  những phương tiện chẩn đoán có giá trị.  

Về  điều  trị:  phẫu  thuật  được  áp  dụng  cho 

những  trường  hợp  VVT  nặng  hoặc  có  tổn  thương  kết  hợp.  Chú  ý  phát  hiện  và  xử  trí  các  tổn  thương  phối  hợp,  tránh  bỏ  sót  thương  tổn.  Điều trị không phẫu thuật được áp dụng cho các  trường  hợp  VVT  nhẹ,  không  kèm  tổn  thương  kết  hợp.  Điều  trị  xâm  lấn  tối  thiểu  bằng  can  thiệp nội mạch đã được chứng minh là có hiệu  quả và cần được phát huy đặc biệt trong trường  hợp  tổn  thương  thận  nhẹ  hay  trung  bình  hoặc  những trường hợp chảy máu dai dẳng. 

TÀI LIỆU THAM KHẢO 

(1999).”Indications  for  nonoperative  management  of  renal 

stab wounds”, J Urol, Mar, Vol 161, issue number 3, pp 768 ‐ 

771.  

2 Buckley  JC,  McAninch  JW  (2006).”Selective  management  of 

isolated and nonisolated grade IV renal injuries”, J Urol, Dec, 

Vol 176, pp 2498 – 2502.  

Melissas  J,Hatzitheofilou  C  and  Dasilva  J  (1988).”The  Management  of  Penetrating  Injuries  of  the  Back,  A 

Prospective Study of 230 Patients”, Ann. Surg, Vol. 207, No I, 

pp 72 – 74. 

4 Djakovic N, Plas E, Martínez‐Piñeiro L, et al (2010). Guideline 

on  Urological  Trauma,  European  Asociation  of  Urology 

Guideline, pp 6‐31. 

(1992).”Angiographic  embolization  of  renal  stab  wounds”,  J 

Urol, Vol 148, issue number 2Pt1, pp 68 ‐ 270.  

6 Federle  MP,  Brow  TR  và  McAninch  JW  (1987).”Penetrating 

renal  trauma:  CT  evaluation”,  journal  of  Computer  Assited 

Tomography, Vol 11, No 6, pp 1026 ‐ 1030. 

7 Heyns  CF,  Van  Vollenhoven  P  (1992).”Selective  surgical  management of renal stab wounds”, Br J Urol, Vol 69, pp 351 

357. 

8 Kansas BT,  Eddy  MJ,  Mydlo  JH,  Uzzo  RG  (2004).”Incidence  and management of penetrating renal trauma in patients with  multiorgan  injury:  extended  experience  at  an  inner  city 

trauma center”, J Urol, Vol 172, No 4Pt1, pp 1355 ‐ 1360.  

after  major  renovascular  injuries:  a  Western  trauma 

association  multicenter  report”,  J  Trauma,  Vol  49,  pp  1116  ‐ 

1122. 

Trang 7

10 McAninch  JW,  Santucci  RA  (2009).  Renal  and  Ureteral 

http://ebookee.org/Campbell‐Walsh‐Urology‐9th‐

Edition_119239.html  

(1999).”Use of   ultrasonography in the patient with acute renal 

trauma”, J Ultrasound Med, Vol 18, No 3, pp 13‐207, quiz 215 ‐ 

216.  

12 Nicol AJ, Theunissen D (2002).“ Renal salvage in penetrating 

kidney injuries: A prospectove analysis”, The journal of trauma, 

Vol 53, No 2, pp 351 – 352. 

13 Shefler  A,  Gremitzky  A,  Vainrib  M  et  al  (2007):”The  role  of 

nonoperative  management  of  penetrating  renal  trauma”, 

Harefuah,  Vol  146,  No  5,  pp  345  ‐  348,  406  ‐  407.  (article  in 

Hebrew).  

14 Santucci  RA, Wessells H, Bartsch G, et al (2004).”Evaluation  and management of renal injuries: consensus statement of the 

renal trauma subcommittee” Bju International, Vol 93, pp 937–

954.  

(2010).”Complications  Following  Renal  Trauma”,  Arch Surg, 

Vol 145, No 4, pp 377‐381,  

16 Whitney RF, Peterson NE (1976).”Penetrating Renal Injuries”, 

J Urol, Vol 7, No 2, pp 7‐11. 

  Ngày nhận bài báo: 15/11/2013  Ngày phản biện nhận xét bài báo: 21/11/2013  Ngày bài báo được đăng : 05/01/2014 

 

Ngày đăng: 22/01/2020, 02:47

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w