1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

23 đặc điểm trong và sau phẫu thuật của các trường hợp phẫu thuật tim hở có gây tê ngoài màng cứng hỗ trợ tại Bệnh viện Nhi Đồng 1 từ 03-2010 đến 08-2011

13 57 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 13
Dung lượng 520,38 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mục tiêu nghiên cứu nhằm khảo sát kết quả và các biến chứng xảy ra trên các trường hợp mổ tim hở có gây tê ngoài màng cứng hỗ trợ tại bệnh viện Nhi Đồng 1 từ 03-2010 đến 08-2011. Mời các bạn cùng tham khảo bài viết để nắm rõ nội dung chi tiết của đề tài nghiên cứu này.

Trang 1

23 ĐẶC ĐIỂM TRONG VÀ SAU PHẪU THUẬT CỦA CÁC TRƯỜNG HỢP PHẪU THUẬT TIM HỞ CÓ GÂY TÊ NGOÀI MÀNG CỨNG HỖ TRỢ TẠI

BỆNH VIỆN NHI ĐỒNG 1 TỪ 03-2010 ĐẾN 08-2011

Nguyễn Thị Minh Hiền*, Phạm Lê An**

TÓM TẮT

Mục tiêu nghiên cứu: Khảo sát kết quả và các biến chứng xảy ra trên các trường hợp mổ tim hở có gây tê

ngoài màng cứng hỗ trợ tại bệnh viện Nhi Đồng 1 từ 03-2010 đến 08-2011

Phương pháp nghiên cứu: Mô tả hàng loạt ca

Kết quả: Có 86 trường hợp, 40 nam và 46 nữ Tuổi trung bình 31,25 ± 3,68 tháng, nhỏ nhất là 2 tháng

tuổi, cân nặng trung bình 9,71 ± 0,59 kg, nhỏ nhất là 3,6 kg Tật tim có luồng thông trái – phải chiếm đến 68,9%, tứ chứng Fallot và tim bẩm sinh phức tạp ít hơn (15,2% và 14,2%) Bệnh cảnh lâm sàng trước phẫu thuật thường nặng với suy dinh dưỡng chiếm 87,21%, suy tim chiếm 96,5%, tăng áp phổi chiếm 75,58%, cơn tím thiếu oxy chiếm 17,4% Chúng tôi không ghi nhận biến chứng nào liên quan đến gây tê trong quá trình phẫu thuật cũng như giai đoạn hậu phẫu tại khoa hồi sức ngoại Thời gian gây mê trung bình là 256,86 ± 65,55 phút, thời gian đặt nội khí quản thở máy ngắn trung bình là 22.21 ± 3,3 giờ, thời gian hậu phẫu tại khoa Hồi sức ngoại

là 3,57 ± 0,39 ngày và tỷ lệ viêm phổi liên quan đến thở máy là 12,8%

Kết luận: Qua bước đầu khảo sát việc ứng dụng phương pháp gây tê ngoài màng cứng hỗ trợ trong phẫu

thuật tim hở tại bệnh viện Nhi Đồng 1, chúng tôi nhận thấy những bệnh nhi này có thời gian hậu phẫu ngắn, được rút nội khí quản sớm với tỷ lệ thành công khá cao, từ đó làm giảm tỷ lệ viêm phổi hậu phẫu và các biến chứng khác liên quan đến nhiễm trùng bệnh viện, giảm thiểu chi phí điều trị, góp phần thành công lớn cho phẫu thuật tim hở

ABSTRACT

CHARACTERISTICS OF CHILDREN UNDERGOING OPEN HEART SURGERY

WITH EPIDURAL ANESTHESIA SUPPORT DURING AND AFTER SURGERY

AT CHILDREN’S HOSPITAL 1 FROM 03-2010 TO 08-2011

Nguyen Thi Minh Hien, Pham Le An

* Y Hoc TP Ho Chi Minh * Vol 16 - Supplement of No 2 - 2012: 155 - 167

Objective: To survey the results and the complications of the epidural anesthesia support on children

undergoing open heart surgery at Children’s hospital 1

Methods: we reviewed the medical records of 86 patients undergoing open heart surgery with epidural

anesthesia support in Children’s hospital 1 from 03-2010 to 08-2011

Results: There were 86 cases, 40 males and 46 females Average age was 31.25 ± 3.68 months, the youngest

was 2 months, mean weight was 9.71 ± 0.59 kg, the lowest weight was 3.6 kg The congenital heart disease with left-right shunt accounted for 68.9% while the tetralogy of fallot and the complex congenital heart disease had less than (15.2% and 14.2%) On clinical examination before surgery, all had been in a poor state of health, 87.21% malnutrition, 96.5% heart failure, 75.58% pulmonary hypertension, 17.4% cyanotic spells We didn’t find any complication associated to the epidural anesthesia support during and after surgery at the resuscitative surgical department The mean of general anesthesia time is 256.86 ± 65.55 minutes, the mean time of intubation is 22.21

* Khoa Hồi sức ngoại bệnh viện Nhi Đồng 1 ** Bộ môn Nhi Đại học Y Dược Tp.HCM

Tác giả liên hệ: BS Nguyễn Thị Minh Hiền, ĐT: 0908418120, Email: blacklonghair138@yahoo.com

Trang 2

± 3.3 hours, the mean time after surgery at the resuscitative surgical department is 3.57 ± 0.39 days The proportion of post-operative pneumonia was 12.8%

Conclusion: Our data show that the application method of epidural anesthesia support during open heart

surgery at Children’s hospital 1 helped patients with a short postoperative period and were extubated early with a high success rate, so it decreased the incidence of postoperative pneumonia and of other complications related to nosocomial infection, minimized the cost of treatment, contributed to success for open heart surgery

ĐẶT VẤN ĐỀ

Tim bẩm sinh là một trong những bất

thường bẩm sinh hay gặp và là nguyên nhân

gây tử vong hàng đầu trong số các dị tật bẩm

sinh ở trẻ em Theo thống kê, trong 5 năm (2005

– 2009) tại bệnh viện Nhi Đồng 1 TPHCM, có

13.957 trẻ nhập khoa tim mạch, trong đó 8.223

trẻ bệnh tim bẩm sinh, chiếm tỷ lệ 58,9% Điều

trị nội khoa giúp giải quyết tạm thời các biến

chứng, các phương pháp can thiệp ngoại khoa

giúp giải quyết triệt để, đem lại cho bệnh nhi

một cuộc sống bình thường hoặc gần như bình

thường và giúp giảm tỷ lệ tử vong của bệnh tim

bẩm sinh Nhiều nghiên cứu đã được tiến hành

nhằm giải quyết các vấn đề xung quanh quá

trình phẫu thuật tim hở cũng nhằm mục đích

trên Trong nghiên cứu này chúng tôi chỉ muốn

đề cập đến một khía cạnh nhỏ đó là việc ứng

dụng biện pháp gây tê vô cảm trong phẫu thuật

tim hở, cụ thể là phương pháp gây tê ngoài

màng cứng, sẽ có những lợi ích gì cho bệnh nhi

trong cũng như sau phẫu thuật Trên thế giới đã

có rất nhiều nghiên cứu quan tâm đến việc sử

dụng phương pháp gây tê ngoài màng cứng

trong phẫu thuật tim cho thấy phương pháp này

có khả năng làm giảm đáp ứng stress do phẫu

thuật, cải thiện chuyển hóa cơ tim và giảm đau

xung quanh việc phẫu thuật, làm giảm các bất

lợi của việc giảm nồng độ T3 (liothyronine) đi

kèm với biện pháp tuần hoàn ngoài cơ thể, cải

thiện chức năng phổi, ổn định huyết động và

kiểm soát đau giai đoạn hậu phẫu tốt hơn so với

gây mê toàn thân đơn thuần(4) Trong chừng

mực của gây tê ngoài màng cứng, bệnh nhi sẽ

được rút nội khí quản sớm có thể ngay tại

phòng mổ, từ đó tránh được những ảnh hưởng

bất lợi của thông khí cơ học sau phẫu thuật bao

gồm chấn thương vùng hầu họng, khí quản,

chấn thương áp lực, cơn cao áp phổi trong quá trình hút đàm qua nội khí quản Tuy nhiên, những lợi ích này cũng đi kèm với những bất lợi

từ phương pháp gây tê vùng như các di chứng

do chấn thương tủy sống (đi kèm với khối tụ máu ở trục thần kinh), nhiễm trùng ngoài màng cứng, tụt huyết áp thứ phát sau ức chế thần kinh giao cảm hay sau nôn ói và ứ CO2 Vì đây là phương pháp mới ứng dụng từ tháng 03/2010 tại bệnh viện Nhi Đồng 1, chính vì thế mục tiêu nghiên cứu của chúng tôi đặt ra là khảo sát đặc điểm về dịch tễ, lâm sàng, cận lâm sàng và các biến chứng trên bệnh nhi được ứng dụng phương pháp gây tê ngoài màng cứng trong và sau phẫu thuật tim hở

ĐỐI TƯỢNG - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Thiết kế nghiên cứu

Mô tả hàng loạt ca Đối tượng nghiên cứu

Bệnh nhi phẫu thuật tim hở được hỗ trợ gây

tê ngoài màng cứng tại bệnh viện Nhi Đồng 1

TP.HCM từ 03-2010 đến 08-2011

Cỡ mẫu nghiên cứu

Tất cả các trường hợp thỏa tiêu chí chọn vào

trong khoảng thời gian nghiên cứu Tiêu chuẩn chọn mẫu

Tất cả các bệnh nhi phẫu thuật tim hở được

hỗ trợ gây tê ngoài màng cứng theo phác đồ của khoa gây mê hồi sức tại bệnh viện Nhi Đồng 1

trong khoảng thời gian nghiên cứu Tiêu chuẩn loại trừ

Hồ sơ bệnh án ghi nhận không đầy đủ các

dữ kiện trong bệnh án mẫu

Trang 3

Phương pháp thu thập số liệu

Công cụ

Bảng thu thập số liệu ghi nhận các dữ liệu

của các biến số nghiên cứu từ hồ sơ bệnh án của

nhóm bệnh nhi được chọn

Phương pháp thu thập số liệu

Xin danh sách bệnh nhi phẫu thuật tim hở

được gây tê ngoài màng cứng hỗ trợ từ 03-2010

đến 08-2011 trong hệ thống lưu trữ dữ liệu của

bệnh viện Nhi Đồng 1 TP.HCM Dựa vào danh

sách để tìm hồ sơ bệnh án tại phòng lưu trữ hồ

sơ Dùng bảng thu thập số liệu để ghi nhận các

số liệu từ hồ sơ bệnh án

Phương pháp xử lý và phân tích số liệu

Các dữ liệu thu được từ “Bảng thu thập số

liệu” được nhập vào máy vi tính dưới dạng tập

tin cơ sở dữ liệu Sau đó chúng tôi tiến hành

tổng hợp và phân tích các biến số bằng phần

mềm vi tính Microsoft Office Excel 2007 và SPSS

18

KẾT QUẢ

Đặc điểm của mẫu nghiên cứu trước phẫu

thuật

Đặc điểm dịch tễ

Giới tính: tỷ lệ nam và nữ trong nhóm

nghiên cứu không quá chênh lệch, xấp xỉ bằng

nhau với 40 bệnh nhi nam (46,51%) và 46 bệnh

nhi nữ (53,49%)

Tuổi: Bệnh nhân nhỏ tuổi nhất là 2 tháng

tuổi và lớn tuổi nhất là 14 tuổi, tuổi trung bình

là 31,25 ± 3,68 tháng Nhóm bệnh nhi có độ tuổi

từ 1 tuổi đến 5 tuổi chiếm phần lớn với tỷ lệ gần

50% (44 bệnh nhi)

Địa chỉ: Nhóm bệnh nhân đến từ tỉnh chiếm

hơn ½ với tỷ lệ 74,42%

Đặc điểm lâm sàng và cận lâm sàng trước

phẫu thuật

Tật tim bẩm sinh: Các bệnh lý tim bẩm sinh

được thực hiện phẫu thuật dưới sự hổ trợ của

phương pháp gây tê xương cùng tại bệnh viện

Nhi Đồng 1 vừa qua cũng khá đa dạng, từ

những tim bẩm sinh đơn giản đến phức tạp như bất thường tĩnh mạch phổi về tim, tứ chứng Fallot hay thất phải 2 đường ra Các tật tim được ghi nhận chủ yếu thuộc nhóm bệnh tim bẩm sinh có luồng thông trái phải chiếm đến 68,9%,

tứ chứng Fallot và tim bẩm sinh phức tạp ít hơn (15,2% và 14,2%)

Bảng 1: Các tật tim bẩm sinh được phẫu thuật

Tật tim Số bệnh nhi (%)

Tứ chứng Fallot 13 (15,2%)

Bất thường TM phổi về tim 5 (5,9%)

Tứ chứng Fallot/BT shunt 3 (3,5%)

ALCAPA + MR + HF 1 (1,2%)

ASD + sa 2 lá 1 (1,2%)

Thất phải 2 đường ra 1 (1,2%) Tim 3 buồng nhĩ 1 (1,2%) Tim 3 buồng nhĩ + ASD 1 (1,2%)

Tứ chứng Fallot + ASD 1 (1,2%)

Tứ chứng Fallot + PDA 1 (1,2%)

U cơ tim dưới ĐM chủ 1 (1,2%)

VSD + Tim 3 buồng nhĩ 1 (1,2%)

Tình trạng suy tim: có 83 bệnh nhi (96,5%) có biểu hiện suy tim với suy tim độ III chiếm đến 45,3% (39 ca), kế đến là suy tim độ II với 36,05%

(31 ca) và suy tim độ I là 15,12% (13 ca)

45.35%

36.05%

15.12%

3.49%

Độ III

Độ II

Độ I Không

Biểu đồ 1: Phân bố về tình trạng suy tim trước phẫu

thuật

Áp lực động mạch phổi tâm thu: được ghi nhận trên nhóm bệnh nhân không hẹp buồng tống thất phải gồm 68 bệnh nhân với giá trị trung bình là 62,13 mmHg, mức độ nặng

Trang 4

chiếm 66,17%, chỉ có 3 trường hợp là được

thông tim trước mổ vì tăng áp động mạch

phổi nặng có luồng thông 2 chiều, nghi ngờ

kháng lực mạch máu phổi đã tăng cao vượt

quá chỉ định phẫu thuật nên được thông tim

để đo kháng lực mạch máu

11

3

Nặng Trung bình Nhẹ Không

Biểu đồ 2: Phan bố tình trạng tăng áp động mạch

phổi trước phẫu thuật

Tiền căn lên cơn tím: được ghi nhận trên15

bệnh nhi (17,4%), tất cả đều là bệnh tứ chứng

Fallot

Bệnh đi kèm trước phẫu thuật: có 19 bệnh

nhi chiếm tỷ lệ 22,1% là có bệnh lý đi kèm trước

mổ, chủ yếu là bệnh lý viêm phổi với 10,5%

trường hợp, đây cũng là bệnh lý thường gặp

nhất đi kèm với bệnh tim bẩm sinh ở trẻ em

Bảng 2: Các bệnh đi kèm trước phẫu thuật

Bệnh Số bệnh nhi (%)

Viêm phổi + GER 2 (2,3%)

Tán huyết nội mạch/đóng VSD bằng

Viêm hô hấp trên 1 (1,2%)

Viêm mạch máu tự miễn 1 (1,2%)

Viêm tiểu phế quản 1 (1,2%)

Tình trạng dinh dưỡng trước phẫu thuật:

bệnh nhi có cân nặng nhỏ nhất là 3,6 kg và lớn

nhất là 32 kg, cân nặng trung bình của nhóm

nghiên cứu là 9,71 ± 0,59 kg, nhóm bệnh nhi có

cân nặng từ 5 – 10 kg chiếm đa số với 48 ca Tình

trạng suy dinh dưỡng của các bệnh nhi cũng được ghi nhận với 61,63% là suy dinh dưỡng trung bình đến nặng, chỉ có 12,79% bệnh nhi (11 trường hợp) là không bị suy dinh dưỡng

27.91%

33.72%

25.58%

12.79%

Nặng Trung bình Nhẹ Không

Biểu đồ 3: Đặc điểm về tình trạng suy dinh dưỡng

Các biến chứng xảy ra trong quá trình phẫu thuật phòng mổ và giai đoạn hậu phẫu tại hồi sức ngoại

Trong phòng mổ

Rối loạn huyết động học: có 42 ca (48,8%) có rối loạn huyết động học cần sử dụng vận mạch trong quá trình phẫu thuật

Biến chứng khác: có 2 ca (2,3%) bất thường tĩnh mạch phổi về tim vô rung thất trong phòng

mổ nghĩ nhiều do hạ Kali máu vì dùng Lasix trước mổ

Tại khoa Hồi sức ngoại

Biến chứng liên quan đến gây tê: không ghi nhận trường hợp nào gặp các tác dụng phụ như

bí tiểu, nhiễm trùng tại chỗ, nhiễm trùng hay abces khoang ngoài màng cứng, di chứng do chấn thương tủy sống, đau lưng và chảy máu hay máu tụ khoang ngoài màng cứng

Biến chứng chảy máu sau phẫu thuật: có

10 trường hợp (11,6%) chảy máu sau mổ, chủ yếu ghi nhận từ ống dẫn lưu ngực, không ảnh hưởng các cơ quan khác và đáp ứng tốt với điều trị nội khoa mà không cần phải phẫu thuật lại để cầm máu

Biến chứng giảm cung lượng tim sau mổ: có

8 trường hợp (9,3%) có biến chứng giảm cung

Trang 5

lượng tim sau mổ, tất cả đều nằm trong nhóm

hậu phẫu tứ chứng Fallot

Rối loạn nhịp tim: có 6 trường hợp (7 %) rối

loạn nhịp tim, trong đó

- 1 ca block A – V độ II Mobitz I sau hậu

phẫu TOF tự ổn định

- 1 ca nhịp bộ nối không ảnh hưởng huyết

động học sau hậu phẫu VSD tự ổn định

- 1 ca nhịp nhanh bộ nối JET sau mổ TOF

đáp ứng tốt với Cordarone

- 1 ca rung thất trong phòng mổ TAPVR sau

tấn công Cordarone bị block xoang nhĩ cần sử

dụng máy tạo nhịp và dần hồi phục sau đó tại

hồi sức ngoại

- 1 ca sau mổ VSD khoảng 6 giờ vô rung thất

được sốc điện, truyền Cordarone và uống duy

trì Cordarone + Digoxine

- 1 ca sau mổ TOF bị block A – V độ III

không hồi phục lệ thuộc máy và được đặt máy

tạo nhịp thượng tâm mạc vĩnh viễn sau đó 22

ngày

Biến chứng toan hóa máu: có 55 trường hợp

(64%) bị toan hóa máu trong kết quả khí máu

đầu tiên ngay từ khi ra khỏi phòng mổ, trong đó

32 trường hợp (37,2%) toan hô hấp, 14 trường

hợp (16,3%) toan chuyển hóa và 9 trường hợp

(10,5%) toan hỗn

Biến chứng rối loạn điện giải: Có 15 trường

hợp (17,4%) có rối loạn điện giải trong lần thử

đầu tiên ngay từ khi ra khỏi phòng mổ, trong đó

13 trường hợp hạ kali máu, 1 trường hợp hạ kali

và canxi máu, 1 trường hợp hạ magne máu

Đặc điểm khác liên quan đến quá trình

phẫu thuật và giai đoạn hậu phẫu

Trong phòng mổ

Thời gian chạy tuần hoàn ngoài cơ thể trung

bình là 89,26 ± 4,12 phút, với trường hợp ngắn

nhất là 32 phút và lâu nhất là 270 phút

Thời gian kẹp động mạch chủ trung bình là

48,44 ± 2,8 phút, với trường hợp ngắn nhất là 6

phút và lâu nhất là 155 phút

Thời gian gây mê trung bình là 256,86 ± 7,07 phút, với trường hợp gây mê ngắn nhất là 110 phút và lâu nhất là 520 phút,

Thời gian từ lúc gây tê đến lúc rạch da trung bình là 54,13 ± 1,69 phút, với trường hợp nhanh nhất là 15 phút và lâu nhất là 100 phút

Tại khoa Hồi sức ngoại

Thời gian nằm tại khoa hồi sức ngoại:

thời gian trung bình là 3,57 ± 0,39 ngày, với trường hợp nằm ngắn nhất là 1 ngày và lâu nhất

là 29 ngày, đó là 1 ca tứ chứng Fallot sau mổ bị block AV độ III phải đặt máy tạo nhịp vĩnh viễn,

bị tràn dịch màng tim và tràn dịch dưỡng trấp phải mổ lại để dẫn lưu

Thời gian đặt NKQ + thở máy: thời gian đặt nội khí quản được tính từ lúc đặt trong phòng

mổ đến khi được rút tại khoa hồi sức ngoại, trung bình là 22,21 ± 3,3 giờ, với trường hợp rút sớm nhất sau 4,25 giờ và lâu nhất là 193,25 giờ,

đó là bệnh nhân tứ chứng Fallot đã làm BT shunt trước và lần này được phẫu thuật sửa chữa hoàn toàn, sau mổ rút NKQ thất bại 1 lần

do OAP và đây là tổng thời gian của cả 2 lần đặt

NKQ thở máy

75

0 10 20 30 40 50 60 70 80

Dưới 48 giờ 48 giờ - 72

giờ

Trên 72 giờ

Biểu đồ 4: Phân bố theo thời gian đặt nội khí quản

Rút NKQ thất bại: có 3 trường hợp (3.5%) rút NKQ thất bại tại khoa hồi sức ngoại

- 1 ca mổ đóng VSD được rút NKQ sau đó

vô rung thất phải đặt lại NKQ

Trang 6

- 1 ca tứ chứng Fallot vô cơn OAP phải đặt

lại NKQ thở máy

- 1 ca tứ chứng Fallot bị block AV độ III và

tràn dịch màng tim phải đặt lại NKQ để mổ lại

dẫn lưu màng tim

Thời gian lưu giữ các loại catheter, ống dẫn

lưu và sonde tiểu

Bảng 3: Thời gian lưu các loại catheter, ống dẫn lưu,

sonde tiểu

Tên dụng cụ Thời gian lưu

Catheter TM trung ương 70,2 ± 5,14 giờ (20 – 266 giờ)

Catheter động mạch 77.63 ± 5.89 giờ (20 – 266 giờ)

Ống dẫn lưu ngực 54.08 ± 3.8 giờ (17 – 235.75 giờ)

Sonde tiểu 42.42 ± 3.43 giờ (7.5 – 241 giờ)

Kết quả phẫu thuật: đánh giá về kết quả

phẫu thuật chúng tôi ghi nhận tỷ lệ suy tim sau

mổ và tăng áp động mạch phổi đã có sự thay

đổi khá rõ rệt với tỷ lệ suy tim sau mổ độ II và

III lần lượt là 37,21% và 10,47% so với trước mổ

là 36,05% và 45,35%, riêng áp lực động mạch

phổi tâm thu trung bình sau mổ là 33,91 ± 1,59

mmHg Các trường hợp còn shunt tồn lưu sau

mổ ghi nhận chiếm tỷ lệ 24,4%

10.47%

37.21%

36.05%

Độ II

Độ I Không

Biểu đồ 5: Phân bố về tình trạng suy tim sau phẫu

thuật

10.29%

16.18%

17.65%

55.88%

Nặng Trung bình Nhẹ Không

Biểu đồ 6: Phân bố tình trạng tăng áp động mạch

phổi sau phẫu thuật

Tình trạng viêm phổi hậu phẫu: dựa vào số liệu thu thập được chúng tôi ghi nhận có 41 trường hợp (47,7%) là có viêm phổi trong quá trình nằm tại khoa hồi sức ngoại, tuy nhiên nếu dựa vào định nghĩa viêm phổi liên quan đến thở máy (VAP) của hiệp hội lồng ngực (ATS) và bệnh truyền nhiễm (IDSA) của Hoa Kỳ, chúng tôi xác định chỉ có 11 trường hợp (12,8%) là có viêm phổi do ảnh hưởng của vấn đề đặt nội khí quản thở máy

Nhiễm trùng huyết: có 15 trường hợp (17,4%) là có biểu hiện nghi ngờ nhiễm trùng huyết trên lâm sàng nhưng cũng như những trường hợp viêm phổi chúng tôi không tìm thấy tác nhân vi sinh gây bệnh nào trên các mẫu cấy bệnh phẩm

Biến chứng khác Bảng 4: Các biến chứng khác gặp trong quá trình

hậu phẫu

Vấn đề Số bệnh nhi (%) Tràn dịch màng tim

Tràn dịch dưỡng trấp Nhiễm trùng vết mổ

6 (7%)

2 (2,3%)

1 (1,2%) Tràn dịch màng tim + tràn dịch dưỡng

Tràn khí đỉnh phổi phải 1 (1,2%) Tràn khí màng phổi phải + nhiễm trùng

Trang 7

BÀN LUẬN

Đặc điểm của mẫu nghiên cứu trước phẫu

thuật

Đặc điểm dịch tễ

Giới tính: chúng tôi ghi nhận tỷ lệ nam và

nữ xấp xỉ bằng nhau Trong một nghiên cứu

năm 2006 của Stefano Casalino tại Houston ghi

nhận rằng tình trạng hạ huyết áp thứ phát do ức

chế giao cảm sau gây tê vùng chiếm ưu thế ở

nhóm nữ giới hơn nam giới, mặc dù tình trạng

này đáp ứng rất tốt với liều thấp thuốc co mạch

tuy nhiên người ta vẫn khuyến cáo theo dõi cẩn

thận, nhất thiết phải có monitor cho những bệnh

nhân nữ có gây tê ngoài màng cứng vùng ngực

hỗ trợ nhằm hạ thấp tỷ lệ và độ nặng của biến

chứng này, tuy nhiên vẫn còn cần nhiều nghiên

cứu khác nữa để chứng minh rõ hơn liệu rằng

giới nữ có là đối tượng nguy cơ cao của hạ

huyết áp khi tiến hành gây tê hỗ trợ trong phẫu

thuật tim hay không(2)

Tuổi: bệnh nhân nhỏ tuổi nhất được thực

hiện phương pháp này là 2 tháng tuổi và lớn

tuổi nhất là 14 tuổi, điều này cho thấy đây là

phương pháp khá an toàn và có thể thực hiện

gần như ở mọi lứa tuổi, tuy nhiên vì là phương

pháp khá mới mẻ, mới được ứng dụng tại bệnh

viện Nhi Đồng 1 từ 03-2010 cho đến nay, nên

còn thận trọng giới hạn ở những bệnh nhi nhỏ

tuổi, chủ yếu tập trung nhiều ở nhóm tuổi từ 12

tháng trở lên, chiếm tỷ lệ 66.3% Trên thế giới do

phương pháp này đã được ứng dụng từ khá

sớm nên người ta đã mạnh dạn thực hiện trên cả

những bệnh nhi trong độ tuổi sơ sinh và bệnh

nhân nhỏ tuổi nhất được ghi nhận là 7 ngày tuổi

trong nghiên cứu của Heinle JS và cộng sự

Địa chỉ: nhóm bệnh nhân đến từ tỉnh chiếm

hơn ½ với tỷ lệ 74.42%, điều này cũng dễ nhận

thấy là vì Nhi Đồng 1 là bệnh viện tuyến cao,

một trong số ít những bệnh viện có khả năng

thực hiện phẫu thuật tim cho trẻ em trên cả

nước, cho nên số bệnh nhân nhập viện để mổ

tim từ các tuyến cơ sở khá đông

Đặc điểm lâm sàng và cận lâm sàng trước phẫu thuật

Tật tim bẩm sinh: các bệnh lý tim bẩm sinh được thực hiện phẫu thuật dưới sự hổ trợ của phương pháp gây tê xương cùng tại bệnh viện Nhi Đồng 1 vừa qua cũng khá đa dạng, từ những tim bẩm sinh đơn giản đến phức tạp như bất thường tĩnh mạch phổi về tim, tứ chứng Fallot hay thất phải 2 đường ra Trong một nghiên cứu của Mittnacht và cộng sự gần đây cho thấy hầu hết những bệnh tim bẩm sinh đều

có thể ứng dụng được phương pháp này như chuyển vị đại động mạch, kênh nhĩ thất, hẹp hở van 2 lá, 3 lá, hẹp eo động mạch chủ…(9)

Trong lô nghiên cứu có 83 bệnh nhi (96,5%)

có biểu hiện suy tim với suy tim độ III chiếm đến 45,3% Áp lực động mạch phổi tâm thu được ghi nhận trên nhóm bệnh nhân không hẹp buồng tống thất phải, bao gồm 68 bệnh nhân, với giá trị trung bình là 62,13 mmHg, trong đó, mức độ nặng chiếm 66,17%, chỉ có 3 trường hợp

là được thông tim trước mổ vì tăng áp động mạch phổi nặng có luồng thông 2 chiều, nghi ngờ kháng lực mạch máu phổi đã tăng cao vượt quá chỉ định phẫu thuật nên được thông tim để

đo kháng lực mạch máu Riêng về tiền căn lên cơn tím chúng tôi ghi nhận có 15 bệnh nhi, tất cả đều là bệnh tứ chứng Fallot Những số liệu trên phản ánh đó là một thách thức đối với nhóm phẫu thuật viên và gây mê, do đó là yếu tố ảnh hưởng không nhỏ đối cuộc mổ, nguy cơ xuất hiện cơn tăng áp phổi, cơn tím, cũng như những rối loạn huyết động có thể xảy ra do tình trạng suy tim trước mổ, đòi hỏi phải có sự kiểm soát đau thật tốt trong lúc mổ, việc dùng thuốc trong quá trình mổ cũng phải được cân nhắc, lựa chọn

Bệnh đi kèm trước phẫu thuật: có 19 bệnh nhi chiếm tỷ lệ 22,1% là có bệnh lý đi kèm trước

mổ, chủ yếu là bệnh lý viêm phổi với 10,5% trường hợp, đây cũng là bệnh lý thường gặp nhất đi kèm với bệnh tim bẩm sinh ở trẻ em và cũng là yếu tố để quyết định tiến hành phẫu thuật cho các bệnh nhi Mặc dù trước phẫu thuật

Trang 8

do sử dụng thuốc kết hợp với tình trạng sức

khỏe của bệnh nhi không tốt sẽ phần nào ảnh

hưởng đến quá trình phẫu thuật tuy nhiên phần

lớn đều được điều trị nội khoa ổn định để đảm

bảo cuộc mổ được an toàn Và một lần nữa cho

thấy việc ứng dụng phương pháp gây tê ngoài

màng cứng hỗ trợ ở Nhi Đồng 1 cũng khá rộng

và thành công trên cả những bệnh nhi có yếu tố

nguy cơ cao

Tình trạng dinh dưỡng trước phẫu thuật:

bệnh nhi có cân nặng nhỏ nhất là 3.6 kg, tình

trạng suy dinh dưỡng của các bệnh nhi cũng

được ghi nhận với 61,63% là suy dinh dưỡng

trung bình đến nặng, thứ nhất là do bệnh lý tim

của bệnh nhi với 45,53% là có suy tim độ III

trước mổ, thứ hai là do vấn đề nuôi dưỡng và tư

vấn dinh dưỡng chưa hợp lý dẫn đến việc chăm

sóc trẻ của các bà mẹ hay người trực tiếp chăm

sóc chưa đúng và thứ ba là vì nước ta là nước

đang phát triển, kinh tế của các hộ dân chưa

đồng đều và thu nhập còn thấp cho nên việc

chăm lo dinh dưỡng cho trẻ em Việt Nam nói

chung và các bệnh nhi tim mạch nói riêng chưa

thể đạt được kết quả mong muốn

Các biến chứng xảy ra trong quá trình

phẫu thuật phòng mổ và giai đoạn hậu

phẫu tại hồi sức ngoại

Trong phòng mổ

Rối loạn huyết động học: chúng tôi thấy có

42 ca (48.8%) có rối loạn huyết động học cần sử

dụng vận mạch trong quá trình phẫu thuật, điều

này được nghĩ nhiều là do tính chất bệnh lý tim

của bệnh nhi trước mổ, làm ảnh hưởng đến sức

co bóp và dãn nở của cơ tim hơn là tác dụng của

thuốc gây tê, gây mê, vì thực tế không ghi nhận

trường hợp nào tụt huyết áp hay rối loạn huyết

động học ngay sau khi gây tê Đây là điểm khác

giữa đối tượng trẻ em so với người lớn Điều

này được lý giải dựa trên cơ sở do sự giảm phân

bố thần kinh giao cảm cho chi dưới và/hoặc sự

non nớt của hệ thống thần kinh giao cảm ở trẻ

nhỏ đồng thời sự chẹn thần kinh giao cảm ít xảy

ra vì thể tích dưới cơ hoành ở trẻ em nhỏ hơn

người lớn và kháng lực mạch máu ngoại biên

thấp hơn nên tình trạng dãn mạch ít quan trọng hơn Đây cũng là một lợi thế trong phương pháp gây tê này và có thể áp dụng trên những bệnh nhân mà có nguy cơ tụt huyết áp nếu dùng liều cao thuốc giảm đau tĩnh mạch nhóm á phiện trong và sau phẫu thuật Một nghiên cứu của Julia C và cộng sự năm 2003 cho thấy hạ huyết áp có xảy ra khi phẫu thuật viên thực hiện những thao tác đặc biệt nhưng tự hồi phục nhanh chóng Atropin, dịch truyền và vận mạch không cần sử dụng

Biến chứng khác ngoài rối loạn huyết động: nồng độ thuốc gây tê được sử dụng tại bệnh viện Nhi Đồng 1 là Bupivacaine 0.25%, đây là nồng độ được xác định là thuận lợi vì có thời gian tác dụng tương đối dài, giảm tác dụng ức chế vận động Tuy nhiên thuốc sẽ có tác dụng ngộ độc trên tim và não nếu vô ý bơm thuốc tê vào mạch máu hay quá liều bolus, nhất là ở trẻ

sơ sinh và trẻ nhỏ, do nồng độ albumin và 1 acid glycoprotein trong huyết tương, nồng độ bicarbonate dự trữ thấp nên nguy cơ ngộ độc cao hơn hẳn gây loạn nhịp hoặc ngưng thở, thường nhất là co giật Tuy nhiên trong lô nghiên cứu chúng tôi không ghi nhận trường hợp nào co giật trong phòng mổ, chỉ có 2 ca (2,3%) bất thường tĩnh mạch phổi về tim vô rung thất trong phòng mổ nghĩ nhiều do hạ Kali

máu vì dùng Lasix trước mổ

Tại khoa Hồi sức ngoại

Biến chứng liên quan đến gây tê: mặc dù kỹ thuật gây tê xương cùng có những thuận lợi đã được chứng minh nhưng các tác dụng phụ như máu tụ ngoài màng cứng, nhiễm trùng tại chỗ, abces khoang ngoài màng cứng, di chứng do chấn thương tủy sống, đau lưng đều có thể xảy

ra, tuy nhiên trong nghiên cứu này chúng tôi không ghi nhận bất kỳ trường hợp nào Trong

đó, chảy máu là vấn đề được bàn cãi nhiều nhất Trên thế giới, năm 1992 một trường hợp máu tụ ngoài màng cứng đầu tiên được báo cáo tại một bệnh viện Nhật Bản trên một phụ nữ mổ tim hở

có dùng kỹ thuật gây tê, tuy nhiên tần suất máu

tụ là rất hiếm Qua nhiều nghiên cứu người ta

Trang 9

thấy chỉ có 5 trong số 24.000 trẻ em mổ tim có

biến chứng nghiêm trọng được ghi nhận liên

quan đến việc đặt catheter ngoài màng cứng, và

người ta cũng nhận thấy cả 5 trường hợp đều

xác định khoang ngoài màng cứng bằng kỹ

thuật bơm khí, do đó người ta không kết luận

ngưng thực hiện tê ngoài màng cứng mà

khuyến cáo nên dùng dung dịch nước muối

sinh lý để xác định khoang ngoài màng cứng

Ngoài ra để hạn chế biến chứng này người ta

cũng khá chọn lọc khi dùng trên những bệnh

nhân có yếu tố nguy cơ cao về rối loạn đông

máu, hay khiếm khuyết về cấu trúc Thực tế

chảy máu khi đặt catheter qua xương cùng hay

thắt lưng ít có di chứng vì tại đây rất ít các cấu

trúc sinh tồn có thể bị hư hại, tuy nhiên các tác

giả khuyến cáo nên thực hiện gây tê vùng ít

nhất 1 giờ trước khi cho Heparin đối với khoang

xương cùng và 3 giờ đối với khoang ngực để

giảm thấp nhất nguy cơ chảy máu xảy ra(5)

Nhiễm trùng có thể đi vào khoang ngoài màng

cứng từ nguồn ngoại sinh thông qua những

dụng cụ hay thuốc bị nhiễm hay từ nguồn nội

sinh dẫn đến nhiễm trùng huyết, từ đó gây viêm

màng não hay abces khoang ngoài màng cứng

dẫn đến chèn ép tủy Thế nhưng những trường

hợp nhiễm trùng dọc theo trục não tủy nghiêm

trọng được báo cáo là rất hiếm, một khảo sát

trên 50.000 ca thì không ghi nhận trường hợp

nào Tuy nhiên một nghiên cứu hồi cứu của

Danish liên quan đến 17.327 bệnh nhân được

đặt catheter ngoài màng cứng cho kết quả tỷ lệ

abces khoang ngoài màng cứng là 1:1930

(0,05%), tuy nhiên những bệnh nhân trên

thường có thời gian lưu catheter trung bình lâu

hơn hẳn so với thời gian chung quy định và đa

số bệnh nhân có tình trạng suy giảm miễn dịch

do bệnh lý đi kèm như bệnh ác tính, tiểu đường,

đa chấn thương, bệnh lý tắc nghẽn đường hô

hấp mãn tính Bí tiểu cũng là một biến chứng

hay gặp với 50 – 80% thường xảy ra nhất trong

vòng 24 giờ đầu sau gây tê, nhưng vì tất cả các

bệnh nhân đều được đặt sonde tiểu từ trong

phòng mổ cho nên cũng khó xác định chính xác

tỷ lệ này trong nghiên cứu của chúng tôi, tuy

nhiên những bệnh nhi được rút sonde tiểu sớm

< 24 giờ cũng không thấy có trường hợp nào bí tiểu trong lô nghiên cứu của chúng tôi

Biến chứng chảy máu sau phẫu thuật: những trường hợp được ghi nhận có chảy máu sau mổ (10 ca) chúng tôi đều nhận thấy kết quả đông máu toàn bộ có rối loạn ít theo kiểu aPTT kéo dài, TQ không thay đổi, chứng tỏ do việc sử dụng Heparin trong phòng mổ, tuy nhiên tất cả đều đáp ứng tốt với Protamine tĩnh mạch, 2 trường hợp cần truyền hồng cầu lắng do thiếu máu và không trường hợp nào phải can thiệp ngoại khoa cầm máu lại

Biến chứng giảm cung lượng tim sau mổ: 8 trường hợp (9,3%) có biến chứng giảm cung lượng tim sau mổ đều nằm trong nhóm hậu phẫu tứ chứng Fallot do rối loạn chức năng tâm trương thất phải, đáp ứng tốt và cải thiện với truyền dịch Albumin kết hợp vận mạch tăng sức

co bóp cơ tim

Biến chứng toan hô hấp: trong 32 trường hợp (37,2%) toan hô hấp được ghi nhận thì một phần lớn là do được thở thế Jackson Rees

để tập thở rút NKQ, một phần do còn ứ đọng đàm nhớt, một phần do còn ảnh hưởng một ít tác dụng của thuốc gây mê, giãn cơ nên mặc

dù bệnh nhân có nhịp tự thở nhưng chưa đều

và còn nông, tuy nhiên sau hút đàm nhớt, rút nội khí quản thì không bệnh nhân nào phải đặt lại nội khí quản mà chỉ cần hổ trợ bằng thông khí áp lực dương cuối kỳ thở ra Nghiên cứu của J.Rigg và cộng sự cũng cho kết quả tỷ lệ suy hô hấp trong nhóm có dùng phương pháp gây tê ngoài màng cứng thấp hơn so với nhóm chứng (23% so với 30%) và

sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê với p = 0,02(12) Cũng nhằm đánh giá ảnh hưởng của phương pháp gây tê ngoài màng cứng trên chức năng hô hấp và thông khí lúc nghỉ trên bệnh nhân sau phẫu thuật lồng ngực, Tenling

A đã tiến hành nghiên cứu so sánh 2 nhóm có

và không có gây tê, kết quả thu được là trong ngày đầu hậu phẫu, khả năng thở gắng sức đều giảm ở cả 2 nhóm, không có sự khác biệt

Trang 10

về dung tích sống gắng sức FVC, thể tích thở

ra tối đa trong giây đầu tiên FEV1 và áp lực

hít vào tối đa PImax, nhưng áp lực thở ra tối

đa PEmax cao hơn có ý nghĩa ở nhóm có gây

tê hỗ trợ, từ đó kết luận giảm đau bằng

phương pháp gây tê vùng có thể cải thiện tốt

hơn sức cơ hô hấp thì thở ra(15)

Biến chứng rối loạn điện giải: trong những

ca rối loạn điện giải được ghi nhận thì hầu hết

đều không gây rối loạn nào nghiêm trọng, chỉ

có 1 trường hợp có rung thất trong phòng mổ

sau khi dẫn đầu, bệnh nhi đã được sốc điện,

dùng Cordarone, bù kali, kết quả kiểm tra ion

đồ ngay sau đó cho thấy kali 1,8 mmol/L, sau đó

chuyển ra khoa hồi sức ngoại với block xoang

nhĩ và K+ máu là 3.07 mmol/L, khi đó bệnh nhân

được tiếp tục bù kali và nhịp tim dần ổn định về

nhịp xoang vài ngày sau

Đặc điểm khác liên quan đến quá trình

phẫu thuật và giai đoạn hậu phẫu

Trong phòng mổ

Những đặc điểm liên quan đến quá trình

phẫu thuật của lô nghiên cứu được ghi nhận

như sau:

Bảng 5: Bảng so sánh đặc điểm liên quan quá trình

phẫu thuật

Thời gian Chúng tôi TS BS Nguyễn

Thị Quý

BS Bùi Li Mông

Gây mê

(phút)

256,86 ±

65,55

230 ± 33,91 315,7 ± 46,8 Kẹp ĐM chủ

(phút)

48,44 ±

25,91

39,57 ± 23,13 57,1 ± 20,6 Chạy tuần

hoàn ngoài

cơ thể (phút)

89,26 ±

38,17

67,86 ± 17,60 110,2 ± 29,1

Từ khi gây tê

đến lúc rạch

da (phút)

54,13 ±

15,67

38,66 ± 12,68 -

Nhìn chung những số liệu trên trong nghiên

cứu của chúng tôi cao hơn so với nghiên cứu

của TS BS Nguyễn Thị Quý tại Viện tim, điều

đó cũng phản ánh thực tế rằng Viện tim là đơn

vị đã tiến hành phẫu thuật tim khá lâu trong khi

Nhi Đồng 1 chỉ mới thực hiện trong vài năm trở

lại đây, tuy nhiên sự chênh lệch trên không

đáng kể cũng nói lên rằng ê kip phẫu thuật tim

tại Nhi Đồng 1 cũng đang từng bước cải thiện

kỹ năng theo thời gian Đặc biệt khi so sánh với nghiên cứu của tác giả BS Bùi Li Mông chúng tôi thấy những số liệu liên quan cao hơn hẳn so với nghiên cứu của TS BS Nguyễn Thị Quý và chúng tôi, dường như việc ứng dụng phương pháp gây tê hỗ trợ đã phần nào rút ngắn được thời gian gây mê và phẫu thuật nói chung ở nhóm này chính nhờ khả năng giảm đau hiệu quả và giảm được lượng thuốc gây mê đường tĩnh mạch

Theo nhiều nghiên cứu trên thế giới cho thấy, sử dụng tê xương cùng kết hợp với bolus một liều duy nhất Morphine là phương pháp được ưa chuộng nhất trong phẫu thuật tim mạch, cho chất lượng giảm đau tuyệt vời và thời gian giảm đau kéo dài từ 8 – 24 giờ Với liều nhỏ Morphine 100 g/kg như đang dùng tại bệnh viện Nhi Đồng 1 thì người ta xác định thời gian giảm đau trung bình là 12,1 giờ với tác dụng phụ rất ít < 3% Chính vì điều này mà đây là phương pháp tê xương cùng đang dần được dùng phổ biến hơn so với giảm đau gây mê qua đường tĩnh mạch, đặc biệt ở trẻ em Có thể giải thích là do thành phần của khoang ngoài màng cứng ở trẻ em gồm mỡ lỏng, ít đậm đặc, không

có mô xơ nên khi tiêm vào khoang ngoài màng cứng thuốc sẽ được khuyếch tán tốt hơn, ngoài

ra cột sống của trẻ em thẳng nên có thể luồn catheter từ lỗ xương cùng đến khoang ngoài màng cứng ngực, cung cấp tác dụng giảm đau đến đoạn ngực và tránh được mối nguy hiểm khi chích trực tiếp vào khoang ngoài màng cứng ngực

Thời gian từ lúc gây tê đến lúc rạch da trung bình là 54,13 phút, trong khi đó một nghiên cứu của TS BS Nguyễn Thị Quý tại Viện Tim cho thấy thời gian này là 38,66 phút và cũng ghi nhận hiệu quả giảm đau tốt trong lúc mổ(10)

Sự phối hợp giữa thuốc gây tê tại chỗ và opioid truyền là phương pháp được sử dụng nhiều nhất tại Hoa Kỳ, Úc và có 97% các bác sĩ gây mê sử dụng, đó là bởi vì trong quan sát lâm sàng người ta ghi nhận điều này giúp hạn chế

Ngày đăng: 22/01/2020, 02:47

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm