Bài viết nghiên cứu hoạt động thông tin, tư vấn sử dụng thuốc (TVSDT) tại 48 nhà thuốc, 97 quầy thuốc đạt tiêu chuẩn GPP và 417 người mua thuốc tại Thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai từ tháng 05 đến 11 - 2012, bằng phương pháp mô tả cắt ngang, dùng phiếu phỏng vấn.
Trang 111
NGHIÊN CỨU HOẠT ĐỘNG THÔNG TIN, TƢ VẤN
SỬ DỤNG THUỐC TẠI CÁC CƠ SỞ BÁN LẺ THUỐC TRÊN ĐỊA BÀNTHÀNH PHỐ BIÊN HÕA, TỈNH ĐỒNG NAI
Trịnh Hồng Minh*; Phạm Đình Luyến; Phan Văn Bình***
TÓM TẮT
Nghiên cứu hoạt động thông tin, tư vấn sử dụng thuốc (TVSDT) tại 48 nhà thuốc, 97 quầy thuốc
đạt tiêu chuẩn GPP và 417 người mua thuốc tại Thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai từ tháng 05 đến
11 - 2012, bằng phương pháp mô tả cắt ngang, dùng phiếu phỏng vấn, đã thu được một số kết quả:
Người mua thuốc rất quan tâm đến hoạt động thông tin, TVSDT (81% có nhu cầu thông tin và
51,8% có nhu cầu tư vấn), nhưng chỉ có 8,3% người làm nhiệm vụ này là dược sü đại học, còn lại là
dược sü trung cấp Trong khi cả hai nhóm đều xác định việc thực hiện hoạt động này tại các cơ sở
bán lẻ là cần thiết, yếu tố ảnh hưởng nhất đến hiệu quả hoạt động thông tin, TVSDT là trình độ
chuyên môn của người bán lẻ (74%/71%) Hiệu quả của hoạt động tư vấn tại các cơ sở bán lẻ chưa
cao (chỉ có 37,6% người mua thuốc đánh giá tốt)
* Từ khóa: Thuốc; Thông tin vµ tư vấn sử dụng thuốc; Cơ sở bán lẻ thuốc
The servey of activities information and
consultation of using medicine in medicnie
retails in Bienhoa city, Dongnai provine
Summary
The survey of activities information and consultation of using medicine from 48 drugstores and 97
chemist’s counter having standard GPP and 417 medicine buyers in the Bienhoa City, Dongnai
province from May to November, 2012 with cross-sectional descriptive methods, data collection using
questionnaires, has achieved some results:
The medicine buyers are very interested in activity information and consultation of using medicine
(81% have information and 51.8% consultation of using medicine), but only 8.3% of pharmacists,
others are intermediate pharmacists Both retailers and medicine buyers are determined to make this
work in retail establishments be necessary (ratio 91%/89.2%), the most influential factors activities
information and consultation of using medicine is qualifications of retailers (74%/71%), the effect of
this activity on the outlets is not high (only 37.6% of medicine buyers with good reviews)
* Key words: Pharmacy; Information and consultation of using medicine; Medicine retail
* Trường Cao đẳng Y tế Đồng Nai
** Trường Đại học Y - Dược TP.Hồ Chí Minh
*** Bệnh viện 103
Người phản hồi (Corresponding): Trịnh Hồng Minh
hongminh@cyd.edu.vn
Trang 2ĐẶT VẤN ĐỀ
Hoạt động bán lẻ thuốc đóng vai trò quan
trọng trong toàn bộ hoạt động của Ngành
Dược, vì là khâu trực tiếp cung cấp thuốc
đến người bệnh Thực hiện theo tiêu chuẩn
GPP (thực hành tốt nhà thuốc), các cơ sở
bán lẻ phải thực hiện cùng lúc hai nhiệm vụ:
một là hoạt động cung ứng thuốc thu lợi
nhuận, hai là hoạt động thông tin, TVSDT
để giúp cho người sử dụng thuốc có những
kiến thức cơ bản trong việc sử dụng thuốc,
đảm bảo an toàn, hợp lý và hiệu quả Từ khi
bắt đầu triển khai tiêu chuẩn GPP ở Đồng
Nai đến nay (2007 - 2012) đã có một số đề
tài đánh giá về hoạt động của nhà thuốc đạt
tiêu chuẩn GPP, nhưng chưa có đề tài nào
đánh giá việc thực hiện nhiệm vụ thông tin
TVSDT tại các cơ sở bán lẻ [7]
Vì vậy, chúng tôi tiến hành nghiên cứu này
nhằm mục tiêu:
- Mô tả một số đặc điểm của cơ sở bán
lẻ thuốc và người mua thuốc tại Thành phố
Biên Hòa, Đồng Nai (năm 2012)
- Tìm hiểu sự khác biệt giữa người bán
lẻ và người mua thuốc khi đánh giá hoạt
động thông tin, TVSDT tại các cơ sở bán lẻ
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP
NGHIÊN CỨU
1 Đối tượng nghiên cứu
- Người bán lẻ tại 48 nhà thuốc, 97 quầy
thuốc trên địa bàn TP Biên Hòa, tỉnh Đồng
Nai [5]
- 417 người mua thuốc tại TP Biên Hòa,
tỉnh Đồng Nai
* Cỡ mẫu:
- Người bán lẻ:
Áp dụng công thức tính cỡ mẫu với quần
thể hữu hạn n = 482 (tổng số cơ sở bán lẻ
thuốc đang hoạt động trên địa bàn thành
phố Biên Hòa)
N Z21-α/2 P (1-P)
n 1 = = 141 (x 10%) = 155 người
d2.N + Z21-α/2 P (1-P) (Z = 1,96; p = 0,9; d = 3% để tăng cỡ mẫu); 145 phiếu đạt yêu cầu đưa vào nghiên cứu [2]
- Người mua thuốc:
Áp dụng công thức thống kê cho quần thể không xác định:
Z21-α/2 P (1-P)
n2 = = 384 (x 10%) = 422 người
d2 (Z = 1,96; P = 0,5; d = 5%); 417 phiếu đạt yêu cầu đưa vào nghiên cứu [2]
* Địa điểm nghiên cứu: tại các nhà thuốc
và quầy thuốc đã đạt tiêu chuẩn GPP (chọn ngẫu nhiên theo danh sách của Sở Y tế)
* Thời gian nghiên cứu: từ tháng 05 - 2012
đến 11 - 2012
2 Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu mô tả cắt ngang, kết hợp nghiên cứu định tính và định lượng [2]
* Thu thập số liệu:
Phương pháp phỏng vấn thông qua bộ câu hỏi đã được xây dựng sẵn
+ Phiếu số 1: áp dụng cho người trực tiếp bán lẻ, gồm 18 biến số, 03 thang đo (01 biến với thang đo định danh, 16 biến với thang
đo khoảng, 01 biến thang đo thứ tự) [4] + Phiếu số 2: áp dụng cho người mua thuốc, gồm 19 biến số, 03 thang đo (01 biến với thang đo định danh, 17 biến với thang
đo khoảng, 01 biến thang đo thứ tự) [4]
* Phân tích và xử lý số liệu: sử dụng phần
mềm SPSS 18.0, tính hệ số Cronbach's alpha
để xác định độ tin cậy của phiếu phỏng vấn, kiểm chứng kết quả thu thập được bằng phép kiểm khi bình phương cho từng cặp
số liệu (thang đo khoảng) và cho một dãy
số liệu (thang đo thứ tự) [3]
Đánh giá kết quả: theo tiêu chuẩn GPP [1]
Trang 314
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ BÀN LUẬN
1 Một số đặc điểm của cơ sở bán lẻ thuốc và người mua thuốc tại TP Biên Hòa, Đồng Nai
Bảng 1: Một số đặc điểm của cơ sở bán lẻ thuốc
48/143 (33%)
Quầy thuốc 97/339 (67%) Trình độ chuyên môn
của người thông tin,
TVSDT
Dược sỹ đại học
12 (8,3%)
Dược sỹ trung cấp
133 (92,7%)
Cơ sở vật chất phục
vụ cho hoạt động
thông tin, TVSDT
Có khu vực tiếp xúc
145 (100%)
Có bàn tư vấn
50 (34,5%)
Có phòng tư vấn
11 (7,6%)
Internet
62 (42,8%) Người bán lẻ được
đào tạo về nhiệm vụ
thông tin-tư vấn
Đào tạo chuyên sâu
36 (24,8%)
Đào tạo cơ bản
94 (64,8%)
Đào tạo sơ bộ
15 (10,4%)
Không được đào tạo
0 Khả năng hiểu biết của
người bán lẻ về nhiệm
vụ thông tin và TVSDT
Chỉ là một hoạt động duy nhất
7 (4,8%)
Là hai hoạt động riêng biệt
25 (17,2%)
Là hai hoạt động riêng nhưng có sự liên hệ chặt chẽ với nhau
113 (78%) Nhu cầu đào tạo nâng
cao trong hoạt động
thông tin, TVSDT
Rất cần
77 (53,1%)
Cần
64 (44,1%)
Bình thường
4 (2,8%)
Không có nhu cầu
0 (0%)
- Tỷ lệ khảo sát nhà thuốc/quầy thuốc
(33%/67%) tương ứng với số lượng và loại
hình các cơ sở bán lẻ đang hoạt động trên
địa bàn TP Biên Hòa
- Chỉ có 12 dược sỹ đại học vừa là người
quản lý chuyên môn nhà thuốc, vừa là người
thực hiện nhiệm vụ thông tin, TVSDT (25/48
nhà thuốc)
- Đa số các cơ sở bán lẻ đều đầu tư về
cơ sở vật chất phục vụ cho nhiệm vụ thông
tin, TVSDT Tuy nhiên, hệ thống mạng còn
thấp (42,8%) Đây cũng là một yếu tố cần
được đầu tư góp phần làm nâng cao hiệu
quả hoạt động thông tin, TVSDT
- Tỷ lệ người bán lẻ đã qua đào tạo về kiến thức và kỹ năng thông tin, TVSDT trong nhà trường là 100%, tuy nhiên chủ yếu là đào tạo sơ bộ và cơ bản, tỷ lệ đào tạo chuyên sâu mới đạt 24,8%
ràng hai hoạt động thông tin thuốc và hoạt động TVSDT tại các cơ sở bán lẻ
- Mặc dù đã được đào tạo trong nhà trường, nhưng nhu cầu trang bị kiến thức
và kỹ năng thông tin, TVSDT của người bán
lẻ rất lớn (97,2%) Qua đây, giúp cho việc định hướng mới trong đào tạo lại và đào tạo nâng cao về thông tin và TVSDT
Bảng 2: Một số đặc điểm về người mua thuốc
Trang 4NỘI DUNG TỶ LỆ, n (%)
Sự lựa chọn của
người mua thuốc
khi bị bệnh thông
thường
Đi khám và mua thuốc ở nhà thuốc bệnh viện
75 (18%)
Đi khám và mua thuốc ở nhà thuốc phòng khám
70 (16,8%)
Đi khám và mua thuốc ở cơ sở bán lẻ
262 (62,8%)
Các biện pháp khác
10 (2,4%)
Mức độ mua thuốc
trong /tháng
1 - 2 lần/tháng
239 (57,3%)
3 - 4 lần/tháng
132 (31,7%)
5 - 6 lần/tháng
33 (7,9%)
> 6 lần/tháng
13 (3,1%) Cách thức đi mua
thuốc
Tự đi mua
296 (71%)
Nhờ người khác đi mua
121 (29%) Lựa chọn cơ sở bán
lẻ để mua thuốc
Nhà thuốc tư nhân
179 (42,9%)
Quầy thuốc
214 (51,3%)
Nơi khác
5 (1,2%)
Không để ý
19 (4,6%) Trình độ chuyên môn
của người thông tin
thuốc mà người mua
thuốc mong muốn
Dược trung cấp
318 (76,3%)
Cao đẳng dược
71 (17%)
Đại học dược
28 (6,7%)
Sau đại học
0 (0%)
Trình độ chuyên môn
của người TVSDT
mà người mua thuốc
mong muốn
Dược trung cấp
76 (18,2%)
Cao đẳng d-ợc
202 (48,4%)
Đại học dược
108 (26%)
Sau đại học
31 (7,4%)
- Khi bị bệnh thông thường, bệnh nhân
đã lựa chọn hình thức đi khám bệnh và chủ
yếu đến cơ sở bán lẻ để mua thuốc
(62,8%), điều này cho thấy vai trò của các
cơ sở bán lẻ rất quan trọng trong việc bán
và hướng dẫn sử dụng thuốc cho người
mua thuốc, đảm bảo an toàn, hợp lý và hiệu
quả
- Mức độ mua thuốc 1 - 2 lần/tháng chiếm
tỷ lệ cao (57,3%) so với những người mua
3 - 4 lần/tháng và nhiều hơn
- Đa số người mua thuốc tự đi mua thuốc
khi bị bệnh và mua cho những đối tượng
không tự đi mua thuốc được (trẻ em, người
già yếu ) (71,5%)
- Trong số các loại hình mà người mua
thuốc, tû lÖ lựa chọn mua thuốc ë quầy
thuốc chiếm cao hơn nhà thuốc (228/211),
con số nµy phù hợp vì trên địa bàn TP Biên
Hòa, tỷ lệ nhà thuốc cũng ít hơn so với quầy
thuốc (143/339)
- Đã có sự khác biệt khi người mua thuốc lựa chọn trình độ chuyên môn của người thực hiện thông tin thuốc và người TVSDT: trung cấp dược (321/86), cao đẳng (58/212), đại học (48/118) và sau đại học (0/54), cho thấy người mua thuốc đã nhận thức được tầm quan trọng của việc cần phải có tư vấn hướng dẫn của dược sỹ tại các cơ sở bán lẻ, mà chủ yếu
là trình độ chuyên môn của người tư vấn
2 Sự khác biệt giữa người bán lẻ và người mua thuốc
* Nh ững số liệu không có sự khác biệt:
Với cùng một câu hỏi phỏng vấn trên hai đối tượng là người bán lẻ và người mua thuốc, bằng phép kiểm khi bình phương cho từng cặp số liệu (n = 1; p = 0,05; hệ số
ý nghĩa thống kê và một dãy số liệu (n = 2;
< 5,991) không
có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê [6]
Trang 516
Bảng 3: Các số liệu không có sự khác biệt giữa người bán lẻ và người mua thuốc
DÃY SỐ LIỆU
Tầm quan trọng của hoạt
động thông tin, TVSDT
Cần thiết 132/372
= 0,387
Bình thường 9/34
= 0,576
Không cần thiết 4/11
= 0,006
= 0,579
Sự quan tâm của người
mua thuốc đến thông tin,
TVSDT
Quan tâm 116/352
= 0,48
Bình thường 23/52
= 1,07
Không quan tâm 6/13
= 0,34
= 1,377
Nhu cầu cần thông tin
thuốc của người mua
thuốc
Thường xuyên 115/336
= 0,10
Thỉnh thoảng 28/72
= 0,307
Không có nhu cầu 2/9
= 0,34
Biện pháp quan trọng nhất
để nâng cao hiệu quả hoạt
động thông tin, TVSDT
của người bán lẻ
Tham gia các chương trình đào tạo 100/298
= 0,32
Trao đổi kinh nghiệm khi làm việc 23/67
= 0,003
Tự học qua sách, tài liệu, Internet 22/52
= 0,69
= 0,694
- Cả hai nhóm đều cho rằng hoạt động thông tin, TVSDT của cơ sở bán lẻ là cần thiết (91% người bán lẻ/89,2% người mua thuốc)
- Cả hai nhóm đều đánh giá người mua thuốc rất quan tâm đến hoạt động thông tin, TVSDT (80% người bán lẻ/84% người mua thuốc)
- Cả hai nhóm đều đánh giá về nhu cầu cần thông tin thuốc của người mua thuốc tại các cơ sở bán lẻ ở mức độ thường xuyên cao (79% người bán lẻ/81% người mua thuốc)
- Cả hai nhóm đều chọn biện pháp tham gia các chương trình đào tạo là biện pháp tốt nhất để nâng cao hiệu quả hoạt động thông tin, TVSDT cho người bán lẻ (69% người bán lẻ/71% người mua thuốc)
* Những số liệu có sự khác biệt:
Bảng 4: Các số liệu có sự khác biệt giữa người bán lẻ và người mua thuốc
SỐ LIỆU
Đánh giá về nội dung của
nhiệm vụ thông tin thuốc
Cung cấp thông tin 35/95
= 0,11
Hướng dẫn sử dụng thuốc 107/275
= 3,04
Quảng cáo giới thiệu sản phẩm 3/47
= 11,24
= 11,3
Đánh giá về nội dung của
nhiệm vụ TVSDT
Các tác dụng phụ của thuốc 103/288
= 0,19
Tình trạng bệnh tật 35/77
= 2,16
Thay thế thuốc trong đơn 7/52
= 6,68
= 7,783
Trang 6(1) (2) (3) (4)
Nhu cầu cần TVSDT của
người mua thuốc
Thường xuyên 57/216
= 6,71
Thỉnh thoảng 70/167
= 2,98
Không có nhu cầu 18/34
= 2,32
= 7,292
Cách thức tiến hành thông
tin khi bán thuốc thuộc
nhóm kê đơn
Không hướng dẫn 5/32
= 3,12
Có hướng dẫn nếu người mua yêu cầu 43/160
= 3,54
Giải thích kỹ đơn thuốc
và cách dùng thuốc 97/225
= 7,36
= 8,324
Cách thức tiến hành thông
tin khi bán thuốc thuộc
nhóm không kê đơn
Chỉ bán thuốc không hướng dẫn 10/48
= 2,47
Vừa bán thuốc vừa hướng dẫn bằng lời 93/300
= 3,11
Bán thuốc và hướng dẫn sử dụng trên bao bì 42/69
= 10,46
= 11,558
Đánh giá về khả năng
thực hiện nhiệm vụ thông
tin, TVSDT tại cơ sở bán
lẻ thuốc
Tốt 89/157
= 24,61
Bình thường 53/188
= 1,12
Chưa tốt 3/72
= 21,48
= 131,63
- 11,3% người mua thuốc hiểu sai về nội
dung hoạt động thông tin thuốc là quảng
cáo giới thiệu sản phẩm so với 2% ở người
bán lẻ
nội dung hoạt động TVSDT là được thay
thế thuốc trong đơn so với 4,8% ở người
bán lẻ
TVSDT so với 39,3% nhận định ở người
bán lẻ, sự chênh lệch này cho thấy người
mua thuốc có nhu cầu, nhưng còn ngại tiếp
xúc với người bán lẻ
- Khi đi mua thuốc theo đơn, 54% người
mua thuốc đánh giá cơ sở đã hướng dẫn kỹ
cách dùng thuốc theo đơn so với 67% người
bán lẻ
- Khi mua thuốc không theo đơn, chỉ có
16,5% người mua thuốc đánh giá việc ghi
hướng dẫn dùng thuốc lên bao bì đựng thuốc
so với 29% người bán lẻ tự đánh gi¸
việc thực hiện nhiệm vụ thông tin, TVSDT
so với 61,3% của người bán lẻ tự đánh giá
Tỷ lệ này cho thấy việc thực hiện nhiệm vụ này còn hạn chế, chưa mang lại sự hài lòng cho người mua thuốc
* So sánh các số liệu bằng thang đo khoảng
có xếp hạng:
Đánh giá mức độ phù hợp của 05 yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động thông tin, TVSDT tại các cơ sở bán lẻ trên 02 đối tượng phỏng vấn là người bán lẻ và người mua thuốc bằng phép kiểm chi bình phương (n = 3,4; p = 0,05); hệ số chi-square như sau [6]
22
khác nhau có ý nghĩa thống kê
22
khác nhau có ý nghĩa thống kê
Trang 718
Bảng 5: So sỏnh biến số bằng thang đo khoảng cú xếp hạng
XếP THEO MứC độ
2
0,05
0,05 (3) =3,85
0,05 (3) = 3,17
0,05 (4) = 163,8 Trang phục, tỏc phong
0,05 (4) = 0,7
0,05 (4) = 245,9
- Khi đỏnh giỏ 05 yếu tố ảnh hưởng đến
hiệu quả hoạt động thụng tin, TVSDT cú sự
khụng khỏc biệt và khỏc biệt cú ý nghĩa
thống kờ như sau:
+ Yếu tố kiến thức chuyờn mụn đều được
hai nhúm lựa chọn ở vị trớ thứ nhất (74%
người bỏn lẻ/71% người mua thuốc)
+ Yếu tố trang thiết bị của cơ sở bỏn lẻ
phục vụ cho hiệu quả hoạt động thụng tin,
TVSDT đều được hai nhúm lựa chọn ở mức
3 (72% người bỏn lẻ/69,8% người mua
thuốc)
+ Yếu tố trang phục, tỏc phong của người
bỏn lẻ đối với hiệu quả hoạt động thụng tin,
TVSDT đều được hai nhúm lựa chọn ở mức
năm (77% người bỏn lẻ/80% người mua
thuốc)
+ Cú sự khỏc biệt về yếu tố tớnh tỡnh của
người bỏn lẻ đối với hiệu quả hoạt động
thụng tin, TVSDT Yếu tố này người bỏn lẻ
chọn ở mức 4 (67%), trong khi người mua
thuốc lại chọn ở mức 2 (49%) Điều này cho
thấy người mua thuốc rất quan tõm đến thỏi
độ của người bỏn lẻ
+ Cú sự khỏc biệt về yếu tố khả năng
giao tiếp của người bỏn lẻ đối với hiệu quả
hoạt động thụng tin, TVSDT Yếu tố này,
người bỏn lẻ chọn ở mức 2 (62%), trong khi
người mua thuốc lại chọn ở mức 4 (53%), cho thấy người mua thuốc chưa hiểu rừ vai trũ của hoạt động giao tiếp trong kinh doanh bỏn lẻ thuốc
KẾT LUẬN
Qua kết quả nghiờn cứu chỳng tụi rỳt ra kết luận sau:
cơ bản đó đỏp ứng yờu cầu của hoạt động
mụn của người thực hiện nhiệm vụ này cũn thấp (chỉ cú 8,3% là dược sỹ đại học, cũn lại là dược sỹ trung cấp), trong khi nhu cầu được thụng tin, TVSDT của người mua thuốc rất cao (81% cú nhu cầu thụng tin và 51,8%
cú nhu cầu TVSDT) vỡ khi bị bệnh thụng thường, họ thường đến cơ sở bỏn lẻ để mua thuốc (62,8%) Qua đỏnh giỏ của người mua thuốc, cỏc dược sỹ trung cấp cú khả thực hiện hoạt động thụng tin thuốc (76,3% người mua thuốc lựa chọn), nhưng chưa đủ khả năng đỏp ứng nhiệm vụ TVSDT (chỉ cú 18,2% người mua thuốc lựa chọn)
2 Tiến hành tỡm hiểu sự khỏc biệt khi đỏnh giỏ hoạt động thụng tin, TVSDT giữa người bỏn lẻ và người mua thuốc tại cỏc cơ
sở bỏn lẻ thuốc cho thấy: cả hai nhúm đều cho rằng nhiệm vụ thụng tin, TVSDT là cần thiết (91% người bỏn lẻ và 89,2% người mua thuốc lựa chọn), khả năng thực hiện nhiệm vụ thụng tin, TVSDT cũn hạn chế
Trang 8(61,3% người bán lẻ và 37,5% người mua
thuốc đánh giá tốt) Vì yếu tố ảnh hưởng
nhất đến hiệu quả hoạt động thông tin,
TVSDT là kiến thức chuyên môn của người
bán lẻ (74% người bán lẻ và 71% người
mua thuốc lựa chọn) nên biện pháp quan
trọng nhất để nâng cao hiệu quả hoạt động
thông tin, TVSDT là người bán lẻ phải tham
gia các khóa đào tạo (69% người bán lẻ và
71% người mua thuốc lựa chọn)
Kết quả này cho thấy hoạt động thông
tin, TVSDT tại các cơ sở bán lẻ thuốc đạt
tiêu chuẩn GPP trên địa bàn TP Biên Hòa,
Đồng Nai còn hạn chế Vì vậy cần có một
số biện pháp can thiệp phù hợp trong thời
gian tới
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 Bộ Y tế Thông tư 46/2011/TT-BYT, Ngày
21 tháng 12 năm 2011, Ban hành nguyên tắc, tiêu chuẩn “Thực hành tốt nhà thuốc” 2011
2 Đoàn Huy Hậu Phương pháp nghiên cứu
khoa học Học viện Quân y 2012
3 Phạm Lê Hồng Nhung Hướng dẫn thực hành
SPSS cơ bản Trường Đại học Kinh tế Luật 2012
4 Huỳnh Quang Minh Các loại thang đo, Tài
liệu giảng dạy môn marketing - Trường đại học Kinh tế TP Hồ Chí Minh 2006
5 Quốc hội Luật Dược 34/2205/QH11 ngày
14/06/2005 Quốc hội Nước CHXHCNVN khóa
XI, kỳ họp thứ 7 (từ 05 - 5 đến 14 - 06 - 2005)
6 Nguyễn Ngọc Rạng Phân phối và phép kiểm
chi bình phương-Website: bvag.com.vn 2012
7 Sở Y tế Đồng Nai Báo cáo hoạt động hành
nghề dược năm 2012
Ngày nhận bài: 25/3/2013 Ngày phản biện đánh giá bài báo: 15/5/2013 Ngày bài báo được đăng: 23/5/2013
Trang 920