1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Nghiên cứu hoạt động thông tin, tư vấn sử dụng thuốc tại các cơ sở bán lẻ thuốc trên địa bàn Thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai

9 119 2

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 9
Dung lượng 606,45 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bài viết nghiên cứu hoạt động thông tin, tư vấn sử dụng thuốc (TVSDT) tại 48 nhà thuốc, 97 quầy thuốc đạt tiêu chuẩn GPP và 417 người mua thuốc tại Thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai từ tháng 05 đến 11 - 2012, bằng phương pháp mô tả cắt ngang, dùng phiếu phỏng vấn.

Trang 1

11

NGHIÊN CỨU HOẠT ĐỘNG THÔNG TIN, TƢ VẤN

SỬ DỤNG THUỐC TẠI CÁC CƠ SỞ BÁN LẺ THUỐC TRÊN ĐỊA BÀNTHÀNH PHỐ BIÊN HÕA, TỈNH ĐỒNG NAI

Trịnh Hồng Minh*; Phạm Đình Luyến; Phan Văn Bình***

TÓM TẮT

Nghiên cứu hoạt động thông tin, tư vấn sử dụng thuốc (TVSDT) tại 48 nhà thuốc, 97 quầy thuốc

đạt tiêu chuẩn GPP và 417 người mua thuốc tại Thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai từ tháng 05 đến

11 - 2012, bằng phương pháp mô tả cắt ngang, dùng phiếu phỏng vấn, đã thu được một số kết quả:

Người mua thuốc rất quan tâm đến hoạt động thông tin, TVSDT (81% có nhu cầu thông tin và

51,8% có nhu cầu tư vấn), nhưng chỉ có 8,3% người làm nhiệm vụ này là dược sü đại học, còn lại là

dược sü trung cấp Trong khi cả hai nhóm đều xác định việc thực hiện hoạt động này tại các cơ sở

bán lẻ là cần thiết, yếu tố ảnh hưởng nhất đến hiệu quả hoạt động thông tin, TVSDT là trình độ

chuyên môn của người bán lẻ (74%/71%) Hiệu quả của hoạt động tư vấn tại các cơ sở bán lẻ chưa

cao (chỉ có 37,6% người mua thuốc đánh giá tốt)

* Từ khóa: Thuốc; Thông tin vµ tư vấn sử dụng thuốc; Cơ sở bán lẻ thuốc

The servey of activities information and

consultation of using medicine in medicnie

retails in Bienhoa city, Dongnai provine

Summary

The survey of activities information and consultation of using medicine from 48 drugstores and 97

chemist’s counter having standard GPP and 417 medicine buyers in the Bienhoa City, Dongnai

province from May to November, 2012 with cross-sectional descriptive methods, data collection using

questionnaires, has achieved some results:

The medicine buyers are very interested in activity information and consultation of using medicine

(81% have information and 51.8% consultation of using medicine), but only 8.3% of pharmacists,

others are intermediate pharmacists Both retailers and medicine buyers are determined to make this

work in retail establishments be necessary (ratio 91%/89.2%), the most influential factors activities

information and consultation of using medicine is qualifications of retailers (74%/71%), the effect of

this activity on the outlets is not high (only 37.6% of medicine buyers with good reviews)

* Key words: Pharmacy; Information and consultation of using medicine; Medicine retail

* Trường Cao đẳng Y tế Đồng Nai

** Trường Đại học Y - Dược TP.Hồ Chí Minh

*** Bệnh viện 103

Người phản hồi (Corresponding): Trịnh Hồng Minh

hongminh@cyd.edu.vn

Trang 2

ĐẶT VẤN ĐỀ

Hoạt động bán lẻ thuốc đóng vai trò quan

trọng trong toàn bộ hoạt động của Ngành

Dược, vì là khâu trực tiếp cung cấp thuốc

đến người bệnh Thực hiện theo tiêu chuẩn

GPP (thực hành tốt nhà thuốc), các cơ sở

bán lẻ phải thực hiện cùng lúc hai nhiệm vụ:

một là hoạt động cung ứng thuốc thu lợi

nhuận, hai là hoạt động thông tin, TVSDT

để giúp cho người sử dụng thuốc có những

kiến thức cơ bản trong việc sử dụng thuốc,

đảm bảo an toàn, hợp lý và hiệu quả Từ khi

bắt đầu triển khai tiêu chuẩn GPP ở Đồng

Nai đến nay (2007 - 2012) đã có một số đề

tài đánh giá về hoạt động của nhà thuốc đạt

tiêu chuẩn GPP, nhưng chưa có đề tài nào

đánh giá việc thực hiện nhiệm vụ thông tin

TVSDT tại các cơ sở bán lẻ [7]

Vì vậy, chúng tôi tiến hành nghiên cứu này

nhằm mục tiêu:

- Mô tả một số đặc điểm của cơ sở bán

lẻ thuốc và người mua thuốc tại Thành phố

Biên Hòa, Đồng Nai (năm 2012)

- Tìm hiểu sự khác biệt giữa người bán

lẻ và người mua thuốc khi đánh giá hoạt

động thông tin, TVSDT tại các cơ sở bán lẻ

ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP

NGHIÊN CỨU

1 Đối tượng nghiên cứu

- Người bán lẻ tại 48 nhà thuốc, 97 quầy

thuốc trên địa bàn TP Biên Hòa, tỉnh Đồng

Nai [5]

- 417 người mua thuốc tại TP Biên Hòa,

tỉnh Đồng Nai

* Cỡ mẫu:

- Người bán lẻ:

Áp dụng công thức tính cỡ mẫu với quần

thể hữu hạn n = 482 (tổng số cơ sở bán lẻ

thuốc đang hoạt động trên địa bàn thành

phố Biên Hòa)

N Z21-α/2 P (1-P)

n 1 = = 141 (x 10%) = 155 người

d2.N + Z21-α/2 P (1-P) (Z = 1,96; p = 0,9; d = 3% để tăng cỡ mẫu); 145 phiếu đạt yêu cầu đưa vào nghiên cứu [2]

- Người mua thuốc:

Áp dụng công thức thống kê cho quần thể không xác định:

Z21-α/2 P (1-P)

n2 = = 384 (x 10%) = 422 người

d2 (Z = 1,96; P = 0,5; d = 5%); 417 phiếu đạt yêu cầu đưa vào nghiên cứu [2]

* Địa điểm nghiên cứu: tại các nhà thuốc

và quầy thuốc đã đạt tiêu chuẩn GPP (chọn ngẫu nhiên theo danh sách của Sở Y tế)

* Thời gian nghiên cứu: từ tháng 05 - 2012

đến 11 - 2012

2 Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu mô tả cắt ngang, kết hợp nghiên cứu định tính và định lượng [2]

* Thu thập số liệu:

Phương pháp phỏng vấn thông qua bộ câu hỏi đã được xây dựng sẵn

+ Phiếu số 1: áp dụng cho người trực tiếp bán lẻ, gồm 18 biến số, 03 thang đo (01 biến với thang đo định danh, 16 biến với thang

đo khoảng, 01 biến thang đo thứ tự) [4] + Phiếu số 2: áp dụng cho người mua thuốc, gồm 19 biến số, 03 thang đo (01 biến với thang đo định danh, 17 biến với thang

đo khoảng, 01 biến thang đo thứ tự) [4]

* Phân tích và xử lý số liệu: sử dụng phần

mềm SPSS 18.0, tính hệ số Cronbach's alpha

để xác định độ tin cậy của phiếu phỏng vấn, kiểm chứng kết quả thu thập được bằng phép kiểm khi bình phương cho từng cặp

số liệu (thang đo khoảng) và cho một dãy

số liệu (thang đo thứ tự) [3]

Đánh giá kết quả: theo tiêu chuẩn GPP [1]

Trang 3

14

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ BÀN LUẬN

1 Một số đặc điểm của cơ sở bán lẻ thuốc và người mua thuốc tại TP Biên Hòa, Đồng Nai

Bảng 1: Một số đặc điểm của cơ sở bán lẻ thuốc

48/143 (33%)

Quầy thuốc 97/339 (67%) Trình độ chuyên môn

của người thông tin,

TVSDT

Dược sỹ đại học

12 (8,3%)

Dược sỹ trung cấp

133 (92,7%)

Cơ sở vật chất phục

vụ cho hoạt động

thông tin, TVSDT

Có khu vực tiếp xúc

145 (100%)

Có bàn tư vấn

50 (34,5%)

Có phòng tư vấn

11 (7,6%)

Internet

62 (42,8%) Người bán lẻ được

đào tạo về nhiệm vụ

thông tin-tư vấn

Đào tạo chuyên sâu

36 (24,8%)

Đào tạo cơ bản

94 (64,8%)

Đào tạo sơ bộ

15 (10,4%)

Không được đào tạo

0 Khả năng hiểu biết của

người bán lẻ về nhiệm

vụ thông tin và TVSDT

Chỉ là một hoạt động duy nhất

7 (4,8%)

Là hai hoạt động riêng biệt

25 (17,2%)

Là hai hoạt động riêng nhưng có sự liên hệ chặt chẽ với nhau

113 (78%) Nhu cầu đào tạo nâng

cao trong hoạt động

thông tin, TVSDT

Rất cần

77 (53,1%)

Cần

64 (44,1%)

Bình thường

4 (2,8%)

Không có nhu cầu

0 (0%)

- Tỷ lệ khảo sát nhà thuốc/quầy thuốc

(33%/67%) tương ứng với số lượng và loại

hình các cơ sở bán lẻ đang hoạt động trên

địa bàn TP Biên Hòa

- Chỉ có 12 dược sỹ đại học vừa là người

quản lý chuyên môn nhà thuốc, vừa là người

thực hiện nhiệm vụ thông tin, TVSDT (25/48

nhà thuốc)

- Đa số các cơ sở bán lẻ đều đầu tư về

cơ sở vật chất phục vụ cho nhiệm vụ thông

tin, TVSDT Tuy nhiên, hệ thống mạng còn

thấp (42,8%) Đây cũng là một yếu tố cần

được đầu tư góp phần làm nâng cao hiệu

quả hoạt động thông tin, TVSDT

- Tỷ lệ người bán lẻ đã qua đào tạo về kiến thức và kỹ năng thông tin, TVSDT trong nhà trường là 100%, tuy nhiên chủ yếu là đào tạo sơ bộ và cơ bản, tỷ lệ đào tạo chuyên sâu mới đạt 24,8%

ràng hai hoạt động thông tin thuốc và hoạt động TVSDT tại các cơ sở bán lẻ

- Mặc dù đã được đào tạo trong nhà trường, nhưng nhu cầu trang bị kiến thức

và kỹ năng thông tin, TVSDT của người bán

lẻ rất lớn (97,2%) Qua đây, giúp cho việc định hướng mới trong đào tạo lại và đào tạo nâng cao về thông tin và TVSDT

Bảng 2: Một số đặc điểm về người mua thuốc

Trang 4

NỘI DUNG TỶ LỆ, n (%)

Sự lựa chọn của

người mua thuốc

khi bị bệnh thông

thường

Đi khám và mua thuốc ở nhà thuốc bệnh viện

75 (18%)

Đi khám và mua thuốc ở nhà thuốc phòng khám

70 (16,8%)

Đi khám và mua thuốc ở cơ sở bán lẻ

262 (62,8%)

Các biện pháp khác

10 (2,4%)

Mức độ mua thuốc

trong /tháng

1 - 2 lần/tháng

239 (57,3%)

3 - 4 lần/tháng

132 (31,7%)

5 - 6 lần/tháng

33 (7,9%)

> 6 lần/tháng

13 (3,1%) Cách thức đi mua

thuốc

Tự đi mua

296 (71%)

Nhờ người khác đi mua

121 (29%) Lựa chọn cơ sở bán

lẻ để mua thuốc

Nhà thuốc tư nhân

179 (42,9%)

Quầy thuốc

214 (51,3%)

Nơi khác

5 (1,2%)

Không để ý

19 (4,6%) Trình độ chuyên môn

của người thông tin

thuốc mà người mua

thuốc mong muốn

Dược trung cấp

318 (76,3%)

Cao đẳng dược

71 (17%)

Đại học dược

28 (6,7%)

Sau đại học

0 (0%)

Trình độ chuyên môn

của người TVSDT

mà người mua thuốc

mong muốn

Dược trung cấp

76 (18,2%)

Cao đẳng d-ợc

202 (48,4%)

Đại học dược

108 (26%)

Sau đại học

31 (7,4%)

- Khi bị bệnh thông thường, bệnh nhân

đã lựa chọn hình thức đi khám bệnh và chủ

yếu đến cơ sở bán lẻ để mua thuốc

(62,8%), điều này cho thấy vai trò của các

cơ sở bán lẻ rất quan trọng trong việc bán

và hướng dẫn sử dụng thuốc cho người

mua thuốc, đảm bảo an toàn, hợp lý và hiệu

quả

- Mức độ mua thuốc 1 - 2 lần/tháng chiếm

tỷ lệ cao (57,3%) so với những người mua

3 - 4 lần/tháng và nhiều hơn

- Đa số người mua thuốc tự đi mua thuốc

khi bị bệnh và mua cho những đối tượng

không tự đi mua thuốc được (trẻ em, người

già yếu ) (71,5%)

- Trong số các loại hình mà người mua

thuốc, tû lÖ lựa chọn mua thuốc ë quầy

thuốc chiếm cao hơn nhà thuốc (228/211),

con số nµy phù hợp vì trên địa bàn TP Biên

Hòa, tỷ lệ nhà thuốc cũng ít hơn so với quầy

thuốc (143/339)

- Đã có sự khác biệt khi người mua thuốc lựa chọn trình độ chuyên môn của người thực hiện thông tin thuốc và người TVSDT: trung cấp dược (321/86), cao đẳng (58/212), đại học (48/118) và sau đại học (0/54), cho thấy người mua thuốc đã nhận thức được tầm quan trọng của việc cần phải có tư vấn hướng dẫn của dược sỹ tại các cơ sở bán lẻ, mà chủ yếu

là trình độ chuyên môn của người tư vấn

2 Sự khác biệt giữa người bán lẻ và người mua thuốc

* Nh ững số liệu không có sự khác biệt:

Với cùng một câu hỏi phỏng vấn trên hai đối tượng là người bán lẻ và người mua thuốc, bằng phép kiểm khi bình phương cho từng cặp số liệu (n = 1; p = 0,05; hệ số

ý nghĩa thống kê và một dãy số liệu (n = 2;

< 5,991) không

có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê [6]

Trang 5

16

Bảng 3: Các số liệu không có sự khác biệt giữa người bán lẻ và người mua thuốc

DÃY SỐ LIỆU

Tầm quan trọng của hoạt

động thông tin, TVSDT

Cần thiết 132/372

= 0,387

Bình thường 9/34

= 0,576

Không cần thiết 4/11

= 0,006

= 0,579

Sự quan tâm của người

mua thuốc đến thông tin,

TVSDT

Quan tâm 116/352

= 0,48

Bình thường 23/52

= 1,07

Không quan tâm 6/13

= 0,34

= 1,377

Nhu cầu cần thông tin

thuốc của người mua

thuốc

Thường xuyên 115/336

= 0,10

Thỉnh thoảng 28/72

= 0,307

Không có nhu cầu 2/9

= 0,34

Biện pháp quan trọng nhất

để nâng cao hiệu quả hoạt

động thông tin, TVSDT

của người bán lẻ

Tham gia các chương trình đào tạo 100/298

= 0,32

Trao đổi kinh nghiệm khi làm việc 23/67

= 0,003

Tự học qua sách, tài liệu, Internet 22/52

= 0,69

= 0,694

- Cả hai nhóm đều cho rằng hoạt động thông tin, TVSDT của cơ sở bán lẻ là cần thiết (91% người bán lẻ/89,2% người mua thuốc)

- Cả hai nhóm đều đánh giá người mua thuốc rất quan tâm đến hoạt động thông tin, TVSDT (80% người bán lẻ/84% người mua thuốc)

- Cả hai nhóm đều đánh giá về nhu cầu cần thông tin thuốc của người mua thuốc tại các cơ sở bán lẻ ở mức độ thường xuyên cao (79% người bán lẻ/81% người mua thuốc)

- Cả hai nhóm đều chọn biện pháp tham gia các chương trình đào tạo là biện pháp tốt nhất để nâng cao hiệu quả hoạt động thông tin, TVSDT cho người bán lẻ (69% người bán lẻ/71% người mua thuốc)

* Những số liệu có sự khác biệt:

Bảng 4: Các số liệu có sự khác biệt giữa người bán lẻ và người mua thuốc

SỐ LIỆU

Đánh giá về nội dung của

nhiệm vụ thông tin thuốc

Cung cấp thông tin 35/95

= 0,11

Hướng dẫn sử dụng thuốc 107/275

= 3,04

Quảng cáo giới thiệu sản phẩm 3/47

= 11,24

= 11,3

Đánh giá về nội dung của

nhiệm vụ TVSDT

Các tác dụng phụ của thuốc 103/288

= 0,19

Tình trạng bệnh tật 35/77

= 2,16

Thay thế thuốc trong đơn 7/52

= 6,68

= 7,783

Trang 6

(1) (2) (3) (4) 

Nhu cầu cần TVSDT của

người mua thuốc

Thường xuyên 57/216

= 6,71

Thỉnh thoảng 70/167

= 2,98

Không có nhu cầu 18/34

= 2,32

= 7,292

Cách thức tiến hành thông

tin khi bán thuốc thuộc

nhóm kê đơn

Không hướng dẫn 5/32

= 3,12

Có hướng dẫn nếu người mua yêu cầu 43/160

= 3,54

Giải thích kỹ đơn thuốc

và cách dùng thuốc 97/225

= 7,36

= 8,324

Cách thức tiến hành thông

tin khi bán thuốc thuộc

nhóm không kê đơn

Chỉ bán thuốc không hướng dẫn 10/48

= 2,47

Vừa bán thuốc vừa hướng dẫn bằng lời 93/300

= 3,11

Bán thuốc và hướng dẫn sử dụng trên bao bì 42/69

= 10,46

= 11,558

Đánh giá về khả năng

thực hiện nhiệm vụ thông

tin, TVSDT tại cơ sở bán

lẻ thuốc

Tốt 89/157

= 24,61

Bình thường 53/188

= 1,12

Chưa tốt 3/72

= 21,48

= 131,63

- 11,3% người mua thuốc hiểu sai về nội

dung hoạt động thông tin thuốc là quảng

cáo giới thiệu sản phẩm so với 2% ở người

bán lẻ

nội dung hoạt động TVSDT là được thay

thế thuốc trong đơn so với 4,8% ở người

bán lẻ

TVSDT so với 39,3% nhận định ở người

bán lẻ, sự chênh lệch này cho thấy người

mua thuốc có nhu cầu, nhưng còn ngại tiếp

xúc với người bán lẻ

- Khi đi mua thuốc theo đơn, 54% người

mua thuốc đánh giá cơ sở đã hướng dẫn kỹ

cách dùng thuốc theo đơn so với 67% người

bán lẻ

- Khi mua thuốc không theo đơn, chỉ có

16,5% người mua thuốc đánh giá việc ghi

hướng dẫn dùng thuốc lên bao bì đựng thuốc

so với 29% người bán lẻ tự đánh gi¸

việc thực hiện nhiệm vụ thông tin, TVSDT

so với 61,3% của người bán lẻ tự đánh giá

Tỷ lệ này cho thấy việc thực hiện nhiệm vụ này còn hạn chế, chưa mang lại sự hài lòng cho người mua thuốc

* So sánh các số liệu bằng thang đo khoảng

có xếp hạng:

Đánh giá mức độ phù hợp của 05 yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động thông tin, TVSDT tại các cơ sở bán lẻ trên 02 đối tượng phỏng vấn là người bán lẻ và người mua thuốc bằng phép kiểm chi bình phương (n = 3,4; p = 0,05); hệ số chi-square như sau [6]

22

khác nhau có ý nghĩa thống kê

22

khác nhau có ý nghĩa thống kê

Trang 7

18

Bảng 5: So sỏnh biến số bằng thang đo khoảng cú xếp hạng

XếP THEO MứC độ

2

0,05

0,05 (3) =3,85

0,05 (3) = 3,17

0,05 (4) = 163,8 Trang phục, tỏc phong

0,05 (4) = 0,7

0,05 (4) = 245,9

- Khi đỏnh giỏ 05 yếu tố ảnh hưởng đến

hiệu quả hoạt động thụng tin, TVSDT cú sự

khụng khỏc biệt và khỏc biệt cú ý nghĩa

thống kờ như sau:

+ Yếu tố kiến thức chuyờn mụn đều được

hai nhúm lựa chọn ở vị trớ thứ nhất (74%

người bỏn lẻ/71% người mua thuốc)

+ Yếu tố trang thiết bị của cơ sở bỏn lẻ

phục vụ cho hiệu quả hoạt động thụng tin,

TVSDT đều được hai nhúm lựa chọn ở mức

3 (72% người bỏn lẻ/69,8% người mua

thuốc)

+ Yếu tố trang phục, tỏc phong của người

bỏn lẻ đối với hiệu quả hoạt động thụng tin,

TVSDT đều được hai nhúm lựa chọn ở mức

năm (77% người bỏn lẻ/80% người mua

thuốc)

+ Cú sự khỏc biệt về yếu tố tớnh tỡnh của

người bỏn lẻ đối với hiệu quả hoạt động

thụng tin, TVSDT Yếu tố này người bỏn lẻ

chọn ở mức 4 (67%), trong khi người mua

thuốc lại chọn ở mức 2 (49%) Điều này cho

thấy người mua thuốc rất quan tõm đến thỏi

độ của người bỏn lẻ

+ Cú sự khỏc biệt về yếu tố khả năng

giao tiếp của người bỏn lẻ đối với hiệu quả

hoạt động thụng tin, TVSDT Yếu tố này,

người bỏn lẻ chọn ở mức 2 (62%), trong khi

người mua thuốc lại chọn ở mức 4 (53%), cho thấy người mua thuốc chưa hiểu rừ vai trũ của hoạt động giao tiếp trong kinh doanh bỏn lẻ thuốc

KẾT LUẬN

Qua kết quả nghiờn cứu chỳng tụi rỳt ra kết luận sau:

cơ bản đó đỏp ứng yờu cầu của hoạt động

mụn của người thực hiện nhiệm vụ này cũn thấp (chỉ cú 8,3% là dược sỹ đại học, cũn lại là dược sỹ trung cấp), trong khi nhu cầu được thụng tin, TVSDT của người mua thuốc rất cao (81% cú nhu cầu thụng tin và 51,8%

cú nhu cầu TVSDT) vỡ khi bị bệnh thụng thường, họ thường đến cơ sở bỏn lẻ để mua thuốc (62,8%) Qua đỏnh giỏ của người mua thuốc, cỏc dược sỹ trung cấp cú khả thực hiện hoạt động thụng tin thuốc (76,3% người mua thuốc lựa chọn), nhưng chưa đủ khả năng đỏp ứng nhiệm vụ TVSDT (chỉ cú 18,2% người mua thuốc lựa chọn)

2 Tiến hành tỡm hiểu sự khỏc biệt khi đỏnh giỏ hoạt động thụng tin, TVSDT giữa người bỏn lẻ và người mua thuốc tại cỏc cơ

sở bỏn lẻ thuốc cho thấy: cả hai nhúm đều cho rằng nhiệm vụ thụng tin, TVSDT là cần thiết (91% người bỏn lẻ và 89,2% người mua thuốc lựa chọn), khả năng thực hiện nhiệm vụ thụng tin, TVSDT cũn hạn chế

Trang 8

(61,3% người bán lẻ và 37,5% người mua

thuốc đánh giá tốt) Vì yếu tố ảnh hưởng

nhất đến hiệu quả hoạt động thông tin,

TVSDT là kiến thức chuyên môn của người

bán lẻ (74% người bán lẻ và 71% người

mua thuốc lựa chọn) nên biện pháp quan

trọng nhất để nâng cao hiệu quả hoạt động

thông tin, TVSDT là người bán lẻ phải tham

gia các khóa đào tạo (69% người bán lẻ và

71% người mua thuốc lựa chọn)

Kết quả này cho thấy hoạt động thông

tin, TVSDT tại các cơ sở bán lẻ thuốc đạt

tiêu chuẩn GPP trên địa bàn TP Biên Hòa,

Đồng Nai còn hạn chế Vì vậy cần có một

số biện pháp can thiệp phù hợp trong thời

gian tới

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Bộ Y tế Thông tư 46/2011/TT-BYT, Ngày

21 tháng 12 năm 2011, Ban hành nguyên tắc, tiêu chuẩn “Thực hành tốt nhà thuốc” 2011

2 Đoàn Huy Hậu Phương pháp nghiên cứu

khoa học Học viện Quân y 2012

3 Phạm Lê Hồng Nhung Hướng dẫn thực hành

SPSS cơ bản Trường Đại học Kinh tế Luật 2012

4 Huỳnh Quang Minh Các loại thang đo, Tài

liệu giảng dạy môn marketing - Trường đại học Kinh tế TP Hồ Chí Minh 2006

5 Quốc hội Luật Dược 34/2205/QH11 ngày

14/06/2005 Quốc hội Nước CHXHCNVN khóa

XI, kỳ họp thứ 7 (từ 05 - 5 đến 14 - 06 - 2005)

6 Nguyễn Ngọc Rạng Phân phối và phép kiểm

chi bình phương-Website: bvag.com.vn 2012

7 Sở Y tế Đồng Nai Báo cáo hoạt động hành

nghề dược năm 2012

Ngày nhận bài: 25/3/2013 Ngày phản biện đánh giá bài báo: 15/5/2013 Ngày bài báo được đăng: 23/5/2013

Trang 9

20

Ngày đăng: 22/01/2020, 02:34

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w