Nghiên cứu này được thực hiện nhằm xác định mối liên quan giữa một số yếu tố về thói quen ăn uống và dinh dưỡng đối với tình trạng nhạy cảm ngà răng. Nghiên cứu khảo sát trên 871 người trưởng thành tại nội thành/ngoại thành Thành phố Hồ Chí Minh.
Trang 1MỘT SỐ YẾU TỐ VỀ THÓI QUEN ĂN UỐNG
VÀ DINH DƯỠNG LIÊN QUAN ĐẾN NHẠY CẢM NGÀ RĂNG
Nguyễn Thị Thư *, Bùi Tuấn Anh **, Hoàng Đạo Bảo Trâm*
TÓM TẮT
Mục tiêu: Nghiên cứu này được thực hiện nhằm xác định mối liên quan giữa một số yếu tố về thói quen ăn
uống và dinh dưỡng đối với tình trạng nhạy cảm ngà răng
Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu cắt ngang mô tả khảo sát trên 871 người trưởng thành tại nội
thành/ngoại thành thành phố Hồ Chí Minh Khảo sát một số đặc điểm về dinh dưỡng và thói quen ăn uống bằng bảng câu hỏi và khám lâm sàng đánh giá tình trạng nhạy cảm ngà bằng kích thích cọ xát và kích thích thổi hơi
Kết quả: Tỷ lệ nhạy cảm ngà răng ở nhóm sử dụng thường xuyên thực phẩm nhiều a-xít cao hơn so với
nhóm đối tượng không sử dụng thường xuyên, khác biệt có ý nghĩa thống kê (p<0,001) Tỷ lệ nhạy cảm ngà răng
ở các nhóm sử dụng thường xuyên sữa và sản phẩm từ sữa thấp hơn so với nhóm không sử dụng thường xuyên khi xét ở ngoại thành (p<0,05) và trên toàn bộ mẫu nghiên cứu Không thấy khác biệt có ý nghĩa thống kê về tỷ lệ nhạy cảm ngà giữa nhóm có và không bổ sung can-xi, có và không hút thuốc lá Tỷ lệ nhạy cảm ngà răng ở nhóm
nữ chưa sinh con thấp hơn so với nhóm đã sinh 1 đến 2 con, và sinh 3 đến 5 con, khác biệt có ý nghĩa thống kê
Kết luận: Thói quen ăn uống và dinh dưỡng có ảnh hưởng đến tình trạng nhạy cảm ngà răng Người
thường xuyên sử dụng thực phẩm nhiều a-xít có nguy cơ nhạy cảm ngà cao gấp 3,4 lần so với người không thường xuyên sử dụng thực phẩm nhiều a-xít [KTC95%: 1,8-6,5] Mức nguy cơ nhạy cảm ngà của đối tượng nữ
có sinh con cao gấp 2,6 lần so với đối tượng nữ chưa sinh con [KTC95%: 1,8-5,8]
Từ khóa: nhạy cảm ngà, thói quen ăn uống, dinh dưỡng
ABSTRACT
NUTRITION AND ALIMENTATION HABITS RELATED TO DENTINE HYPERSENSITIVITY
Nguyen Thi Thu, Bui Tuan Anh, Hoang Dao Bao Tram
* Y Hoc TP Ho Chi Minh * Vol 19 - Supplement of No 2 - 2015: 150 - 156
Objectives: The study was perfomed to determine the relationship between nutrition factors and alimention
habits and dentine hypersensitivity
Methods: This cross-sectional study was realized on 871 adults living in the urbal/rural of HCM city
Subjects were clinically examined the dentine hypersensitivity by applying tactile and evaporative stimuli Some nutrition factors and alimention habits were recorded by a questionnaire
Results: The dentine hypersensitivity was significantly higher in the groups with high-frequency of acidic
alimentation (p<0.001) The dentine hypersensitivity was lower in the groups with high-frequency of milk products consuming at rural area (p<0.05) and in the whole samples There was no significant difference between groups in related to consumption of calcium supplementaion and smoking The dentine hypersensitivity was significantly lower in women who has not passed a delivery than women with 1-2, and 3-5 children
Conclusions: Nutrition and alimention habits had impacts on the dentine hypersensitivity The risk of dentine
* Bộ môn NKCS - Khoa RHM, Đại học Y Dược TP.HCM
** Học viên Cao học Khóa 2008-2010, Khoa RHM, Đại học Y Dược TP.HCM
Trang 2hypersensitivity was 3.4 times higher in acidic alimentation consumers than ordinary subjects [CI 95%: 1.8-6.5], and 2.6 times higher in women who has given births than whom not passed a delivery [CI 95%: 1.8-5.8]
Key words: dentine hypersensitivity, alimentation habits, nutrition
ĐẶT VẤN ĐỀ
Nhạy cảm ngà răng là một tình trạng phổ
biến Cảm giác đau nhói đặc trưng của nhạy cảm
ngà chân răng xảy ra khi có kích thích cơ học,
nhiệt độ, hóa chất hoặc áp lực thẩm thấu tác
động lên vùng ngà răng bị lộ Tình trạng này
thường là kết quả của quá trình men răng bị
mòn do tác động ăn mòn hóa học, mài mòn do
tiếp xúc khớp cắn, và cọ mòn do ma xát với các
yếu tố ngoại lai, hoặc bề mặt chân răng bị lộ do
tụt nướu hoặc sau điều trị nha chu Nhiều yếu tố
có thể có liên quan đến nhạy cảm ngà, trong đó
có các yếu tố về tình trạng của răng và nha chu,
chế độ ăn uống, thói quen vệ sinh và chăm sóc
răng miệng…
Cân bằng thành phần khoáng của răng ở bề
mặt tiếp xúc với môi trường miệng có thể bị tác
động, khi có sự tiếp xúc tái diễn với các chất có
tính a-xít vượt quá ngưỡng sửa chữa và/hoặc
đệm của hệ thống bảo vệ Mỗi cá thể có một
ngưỡng ở đó hiện tượng mòn răng khởi phát,
phụ thuộc mức độ hoạt động của các yếu tố điều
hòa, bảo vệ hay yếu tố nguy cơ
Nhiều bằng chứng thực nghiệm và dịch tễ
cho thấy thức ăn và đồ uống có tính a-xít là
những yếu tố dẫn đến ăn mòn răng Y văn ghi
nhận tỷ lệ mòn răng tăng lên liên quan đến
những thay đổi về chế độ thức ăn, đặc biệt ở
người trẻ và trẻ em, với mức tăng số lượng và
tần suất sử dụng nước trái cây, đồ uống có ga (có
đường hoặc không đường), đồ uống bồi phụ
nước sử dụng trong thể thao Trong khi đó, các
loại thực phẩm khác có tính truyền thống hơn
như trái cây, chanh (sử dụng trực tiếp), đồ hộp
có dấm, rau trộn… được xác định là những yếu
tố nguy cơ làm tăng mức độ mòn răng Rượu
vang cũng là một yếu tố có tính a-xít; các trường
hợp ăn mòn răng quan sát được ở người sử
dụng rượu vang thường xuyên Một số thuốc,
đặc biệt khi tự ý sử dụng trong thời gian dài, có
tiềm năng gây ra sự tấn công của a-xít, đặc biệt là a-xít ascorbic (vitamin C) dạng viên, và một số dung dịch súc miệng Sử dụng thuốc an thần (3,4 methylendioxy-methamphetamine) làm giảm tiết nước bọt; sử dụng phối hợp các đồ uống có tính a-xít với một khối lượng lớn nhằm đạt cân bằng nước có thể là yếu tố liên quan đến hiện
tượng ăn mòn răng
Bên cạnh nguồn a-xít ngoại sinh, nguồn a-xít nội sinh đáng kể duy nhất là dịch trào ngược từ
dạ dày lên khoang miệng, tuy nhiên nguyên nhân khá đa dạng
Tại Việt Nam, một số nghiên cứu về tình trạng nhạy cảm ngà đã được thực hiện, trong đó
có nghiên cứu của Tống Minh Sơn khảo sát tình trạng nhạy cảm ngà răng và một số yếu tố liên quan ở nhân viên công ty Bảo hiểm Nhân thọ tại
Hà Nội(5) Nghiên cứu này được thực hiện nhằm xác định mối liên quan giữa một số yếu tố về thói quen ăn uống và dinh dưỡng đối với tình trạng nhạy cảm ngà răng
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Nghiên cứu cắt ngang mô tả thực hiện từ 6/2013 đến 6/2014, khảo sát trên 871 người trưởng thành từ 18 tuổi trở lên sinh sống tại nội thành/ngoại thành thành phố Hồ Chí Minh
Tiêu chí chọn mẫu
Từ 18 tuổi trở lên
Đang cư trú tại thành phố Hồ Chí Minh liên tục từ 24 tháng trở lên
Sức khỏe toàn thân và tâm thần ổn định Đồng ý tham gia nghiên cứu
Có từ 20 răng trở lên không thuộc tiêu chí răng bị loại khỏi mẫu
Tiêu chí loại ra
Đối với đối tượng nghiên cứu
Trang 3Không có khả năng tự trả lời câu hỏi hoặc
đang điều trị tâm lý
Đang có thai hoặc cho con bú
Đang điều trị nhạy cảm ngà trong vòng 2
tuần
Đang dùng thuốc kháng viêm, giảm đau
trong vòng 2 tuần
Trám răng, phẫu thuật nha chu, chỉnh nha
trong vòng 3 tháng
Đối với răng nghiên cứu
Răng sâu, bể/vỡ, có phục hồi lớn hơn 1/4
thân răng
Răng có phục hồi ở mặt ngoài hay vùng cổ
răng
Răng chết tủy hoặc đã điều trị nội nha
Răng bọc mão hoặc mang các phần tựa của
phục hình
Phương tiện nghiên cứu
Bảng câu hỏi
Phiếu khám
Bộ đồ khám: khay, gương, kẹp gắp, thám
trâm
Đầu xịt hơi và máy nén hơi nha khoa
Các phương tiện và hóa chất khử trùng
Phương pháp thu thập số liệu
Hỏi bằng bảng câu hỏi soạn sẵn
Khảo sát một số đặc điểm về tiền sử toàn thân,
dinh dưỡng và thói quen ăn uống liên quan đến
hiện tượng mòn răng và nhạy cảm ngà
Khám lâm sàng
Bệnh nhân được hướng dẫn chải sạch răng
bằng bàn chải lông mềm và kem đánh răng thông
thường, không có chất chống nhạy cảm ngà
Khám đánh giá tình trạng răng miệng tổng
quát của bệnh nhân
Số liệu thu thập cho nghiên cứu được ghi
nhận trên tất cả 28 răng trên hai cung hàm (trừ
các răng khôn và các răng không đạt tiêu chuẩn đánh giá, bị loại khỏi mẫu)
Nhạy cảm ngà được đánh giá bằng hai phương pháp là kích thích cọ xát và kích thích thổi hơi, ghi nhận mức độ nhạy cảm ngà theo thang điểm từ 0-3
Phương pháp xử lý số liệu
Bảng câu hỏi sau khi được thu thập sẽ được nhập và làm sạch bằng phần mềm Epi Data 3.2 Phân tích số liệu bằng phần mềm Stata 10
Thống kê mô tả: Các biến định tính được mô
tả bằng tần số và tỷ lệ phần trăm Các biến định lượng được mô tả bằng giá trị trung bình và độ lệch chuẩn
Thống kê phân tích
Dùng phép kiểm χ² để so sánh tỷ lệ phần trăm của các biến định tính
Dùng kiểm định t, phép kiểm Anova để so sánh giá trị trung bình
Sử dụng mô hình hồi quy logistic đa biến để đánh giá mối liên quan giữa các yếu tố và nhạy cảm ngà
KẾT QUẢ
Nghiên cứu khảo sát tình trạng nhạy cảm ngà răng và một số yếu tố liên quan, thực hiện từ tháng 6 năm 2013 đến tháng 6 năm 2014 Mẫu nghiên cứu gồm 871 người trưởng thành, tuổi từ
18 đến 79 (35,92 ± 12,43), trong đó có 625 người ở nội thành (71,8%) và 246 (28,2%) người ở ngoại thành thành phố Hồ Chí Minh
Một số thói quen ăn uống, dinh dưỡng và tình trạng toàn thân liên quan
Bảng 1 mô tả tỷ lệ các đối tượng sử dụng thường xuyên hay không thường xuyên một số loại thực phẩm có tính a-xít bao gồm nước có ga, nước trái cây, trái cây, các loại thực phẩm là nguồn bổ sung can-xi theo đường toàn thân là sữa và các sản phẩm từ sữa, và uống bổ sung can-xi
Bảng 1 Một số thói quen ăn uống và dinh dưỡng của người trưởng thành tại TpHCM (n;%)
Trang 4Sử dụng thực phẩm nhiều a-xít Nội thành
625 (71,8%)
Ngoại thành
246 (28,2%)
TpHCM
871 (100%)
Nước có ga/ nước trái cây /
trái cây
Thường xuyên 580 (92,8) 227 (92,3) 807 (92,6) Không th/xuyên 45 (7,2) 19 (7,7) 64 (7,4) Sữa /sản phẩm sữa Thường xuyên 356 (57) 66 (26,8) 422 (48,5)
Không th/xuyên 269 (43) 180 (73,2) 449 (51,5)
Bổ sung can-xi Thường xuyên 80 (12,8) 7 (2,9) 57 (6,5)
Không th/xuyên 545 (87,2) 239 (97,1) 814 (93,5)
Không 443 (70,9) 189 (76,8) 632 (72,6) Phân tích tình trạng nhạy cảm ngà răng ở các
nhóm đối tượng có thói quen sử dụng thực
phẩm khác nhau, kết quả ghi nhận tỷ lệ nhạy
cảm ngà răng ở nhóm sử dụng thường xuyên
thực phẩm nhiều a-xít (nước có ga và/hoặc nước
trái cây và/hoặc trái cây) cao hơn so với nhóm
đối tượng không sử dụng thường xuyên, khác
biệt có ý nghĩa thống kê ở cả nội thành, ngoại
thành và ở toàn bộ mẫu nghiên cứu (p<0,001)
(Bảng 2)
Đối với việc sử dụng sữa và sản phẩm từ
sữa, tỷ lệ nhạy cảm ngà răng ở các nhóm sử
dụng thường xuyên thấp hơn so với nhóm
không sử dụng thường xuyên khi xét ở các đối
tượng ngoại thành và khi xét trên toàn bộ mẫu nghiên cứu, trong đó khác biệt có ý nghĩa thống kê ghi nhận được ở vùng ngoại thành (p<0,05) Không có khác biệt có ý nghĩa thống
kê khi xét ở nội thành (Bảng 3)
Bảng 2 Tỷ lệ nhạy cảm ngà răng xét theo tần suất sử
dụng thực phẩm a-xít
Nước có ga/
Nước trái cây/
Trái cây
xuyên
p Nhạy
cảm ngà
Không nhạy cảm ngà
Nhạy cảm ngà
Không nhạy cảm ngà
Nội thành 86% 14% 64,4% 35,6% <0,001
Ngoại thành 90,8% 9,2% 68,4% 31,6% <0,005
Tp HCM 87,4% 12,6% 65,6% 34,4% <0,001
Bảng 3 Tỷ lệ nhạy cảm ngà răng xét theo tần suất sử dụng sữa / sản phẩm sữa
Sữa / Sản phẩm từ
sữa
p
Về chế độ bổ sung can-xi, không thấy khác
biệt có ý nghĩa thống kê giữa nhóm có và không
bổ sung can-xi, khi xét ở mỗi vùng nội thành và
ngoại thành (p>0,05) Khi xét trên toàn bộ mẫu
nghiên cứu, tỷ lệ nhạy cảm ngà ở nhóm có bổ sung can-xi cao hơn so với nhóm không bổ sung can-xi, khác biệt có ý nghĩa thống kê (p<0,05) (Bảng 4)
Bảng 4 Tỷ lệ nhạy cảm ngà răng ở nhóm đối tượng có và không bổ sung can-xi thường xuyên
Khi đánh giá tỷ lệ nhạy cảm ngà trên các ghi nhận được khác biệt có ý nghĩa thống kê
Trang 5Bảng 5 Tỷ lệ nhạy cảm ngà răng ở đối tượng có và không hút thuốc lá
p
Khi xét theo tần suất sinh con trên đối tượng
nữ, tỷ lệ nhạy cảm ngà răng ở nhóm nữ chưa
sinh con thấp hơn so với nhóm đã sinh 1 đến 2
con, và sinh 3 đến 5 con, khác biệt có ý nghĩa
thống kê (p<0,001) (Bảng 6)
Bảng 6 Tỷ lệ nhạy cảm ngà răng xét theo tần suất sinh con ở nữ
Tần suất sinh con
p
Không nhạy
Không nhạy cảm
Nội thành 76,7% 23,3 93,2% 6,8% 91,3% 8,7% <0,001
Phân tích hồi quy logistic cho thấy tuổi là
yếu tố gây nhiễu trong mối liên quan giữa biến
số tần suất sinh con và tình trạng nhạy cảm ngà
ở nữ Mức nguy cơ nhạy cảm ngà của đối tượng
nữ có sinh con, sau khi đã hiệu chỉnh khi xét yếu
tố tuổi, cao gấp 2,6 lần so với đối tượng nữ chưa
sinh con [KTC 95%: 1,8-5,8]
Mô hình hồi quy logistic đa biến cho thấy
yếu tố có liên quan có ý nghĩa với tình trạng
nhạy cảm ngà răng là sử dụng thực phẩm nhiều
a-xít thường xuyên Người thường xuyên sử
dụng thực phẩm nhiều a-xít có nguy cơ nhạy
cảm ngà cao gấp 3,4 lần so với người không
thường xuyên sử dụng thực phẩm nhiều a-xít
[KTC 95%: 1,8-6,5]
BÀN LUẬN
Các tổn thương mòn cổ răng thường là kết
quả của một quá trình tích lũy nhiều yếu tố tác
động phối hợp Cơ chế mòn răng do cọ xát liên
quan đến chế độ ăn và thói quan vệ sinh răng
miệng Tuy nhiên mòn răng không chỉ là kết quả
của quá trình mài mòn do tiếp xúc mà còn phụ
thuộc cường độ ăn mòn hóa học Yếu tố này liên
quan đến chế độ ăn, chức năng nước bọt và sự
hiện diện của dịch có tính a-xít
Tốc độ của quá trình mòn răng chịu ảnh hưởng của các yếu tố làm trầm trọng và các yếu
tố bảo vệ Khác với mặt nhai, mức độ mòn mặt ngoài và mặt trong, đặc biệt ở một phần ba cổ răng, không chịu ảnh hưởng của một yếu tố chủ yếu Mỗi cá thể có một ngưỡng ở đó hiện tượng mòn răng khởi phát, phụ thuộc mức độ hoạt động của các yếu tố điều hòa, bảo vệ hay yếu tố nguy cơ
Khi khảo sát một số thói quen và chế độ ăn uống
có thể liên quan đến tình trạng nhạy cảm ngà răng, kết quả cho thấy tỷ lệ người có nhạy cảm ngà răng cao hơn một cách có ý nghĩa thống kê ở
nhóm thường xuyên sử dụng nước có ga và/hoặc
nước trái cây và/hoặc trái cây Kết quả này phù hợp
với kết quả nghiên cứu của Tống Minh Sơn và nhiều tác giả trên thế giới(1,5)
Có thể thấy các yếu tố tại chỗ tác động đến môi trường miệng có ảnh hưởng rõ ràng đến tình trạng nhạy cảm ngà răng Môi trường miệng có ảnh hưởng thường xuyên và lâu dài đối với sức khỏe răng miệng Cân bằng thành phần khoáng của răng ở bề mặt tiếp xúc với môi trường miệng có thể bị tác động khi có sự tiếp xúc tái diễn với các chất có tính a-xít vượt quá
Trang 6khả năng đệm của nước bọt và ngưỡng hồi phục
hoàn nguyên của mô răng Nhiều tác giả dự
đoán rằng trong tương lai, tỷ lệ nhạy cảm ngà sẽ
tăng lên ở nhóm đối tượng trẻ tuổi hơn do việc
tăng sử dụng thực phẩm có nhiều a-xít, và tăng ý
thức và các biện pháp vệ sinh răng miệng(2,3)
Ngoài nguồn a-xít từ thực phẩm, một số
nguồn khác cũng có thể có tác động đến môi
trường miệng như sử dụng thuốc, nước, không
khí Tuy nhiên, các yếu tố này thường thể hiện
trong những điều kiện đặc thù như đối tượng có
bệnh toàn thân, mãn tính, phơi nhiễm nghề
nghiệp, và do đó không nằm trong mục tiêu và
đối tượng được khảo sát trong nghiên cứu
Sử dụng sữa và bổ sung can-xi thường xuyên
cũng có thể là một yếu tố tác động có ý nghĩa với
vai trò cung cấp nguồn chất khoáng theo đường
toàn thân ở người trưởng thành đã qua giai đoạn
hình thành răng Trong nghiên cứu này, khi xét
chế độ sử dụng sữa / sản phẩm từ sữa và bổ sung
can-xi theo đường toàn thân, kết quả cho thấy tỷ
lệ nhạy cảm ngà răng thấp hơn ở nhóm sử dụng
thương xuyên sữa và sản phẩm từ sữa (khác biệt
có ý nghĩa ở ngoại thành), và nhóm bổ sung can-xi
thường xuyên (khác biệt có ý nghĩa khi xét toàn
bộ mẫu nghiên cứu)
Khi xét theo yếu tố có và không hút thuốc lá,
trong nghiên cứu này, không ghi nhận được
khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa các nhóm
nhóm đối tượng có và không hút thuốc lá Kết
quả nghiên cứu của Rees và cộng sự cũng ghi
nhận không có khác biệt có ý nghĩa về tỷ lệ nhạy
cảm ngà giữa nhóm đối tượng không hút thuốc,
có hút thuốc và đã từng hút thuốc(4) Trong một
khảo sát lâm sàng kết hợp phỏng vấn 104 đối
tượng nghiên cứu, Yoshikazu cũng không ghi
nhận sự khác biệt có ý nghĩa khi xét yếu tố hút
thuốc lá(6)
Khi xét ở đối tượng phụ nữ, kết quả nghiên
cứu cho thấy tỷ lệ nhạy cảm ngà răng thấp nhất
ở phụ nữ chưa sinh con, và tăng dần theo tần suất
sinh con, cao nhất ở nhóm đối tượng phụ nữ sinh
3 - 5 con; khác biệt có ý nghĩa thống kê Phân tích hồi quy logistic cho thấy mức nguy cơ nhạy cảm ngà của đối tượng nữ có sinh con trong nghiên cứu này, sau khi đã hiệu chỉnh khi xét yếu tố tuổi, cao gấp 2,6 lần so với đối tượng nữ chưa sinh con
Trong giai đoạn thai nghén và sau khi sinh con, sinh hoạt và thể trạng của người phụ nữ có nhiều thay đổi, như các yếu tố về dinh dưỡng, vệ sinh răng miệng, tình trạng răng và nha chu Một trong các yếu tố có thể kể đến là biểu hiện buồn nôn và nôn Nôn tự phát hoặc có nguyên nhân, như tình trạng thai nghén, có thể tác động đến quá trình ăn mòn răng Trong đó, cường độ, tần suất, và nhất là thời gian tích lũy tiếp xúc với a-xít là những yếu tố ảnh hưởng đến tiến triển mòn răng Bên cạnh đó, tuổi cũng có thể là một yếu tố liên quan đến tỷ lệ nhạy cảm ngà răng cao
ở phụ nữ sinh nhiều con
KẾT LUẬN
Nghiên cứu khảo sát trên 871 người trưởng thành tại nội thành và ngoại thành thành phố Hồ Chí Minh, từ tháng 6 năm 2013 đến tháng 6 năm
2014 Trong khuôn khổ của đề tài, kết quả nghiên cứu ghi nhận được một số yếu tố về thói quen ăn uống và dinh dưỡng có ảnh hưởng đến tình trạng nhạy cảm ngà răng Người thường xuyên sử dụng thực phẩm nhiều a-xít có nguy cơ nhạy cảm ngà cao gấp 3,4 lần so với người không thường xuyên sử dụng thực phẩm nhiều a-xít [KTC95%: 1,8-6,5] Mức nguy cơ nhạy cảm ngà của đối tượng nữ có sinh con cao gấp 2,6 lần
so với đối tượng nữ chưa sinh con [KTC95%: 1,8-5,8] Không thấy khác biệt về tỷ lệ nhạy cảm ngà giữa các nhóm đối tượng có và không sử dụng thường xuyên sữa / sản phẩm từ sữa, bổ sung can-xi, hút thuốc lá
Trang 7TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 Bartold PM et al (2006), Dentinal hypersensitivity: a review
Australian Dental Journal; 51:(3): 212-218
2 Clayton DR et al (2002), A study of the prevalence and
distribution of dentine sensitivity in a population of
17±58-year-old serving personnel on an RAF base in the Midlands Journal of
Oral Rehabilitation (29): 14-23
3 Chabanski MB et al (1996), Prevalence of cervical dentine
sensitivity in a population of patients referred to a specialist
periodontology department J Clin Periodontol; 23: 989-992
4 Rees JS et al (2004), A cross-sectional study of buccal cervical
sensitivity in UK general dental practice and a summary review
of prevalence studies Int J Dent Hygiene; 2: 64-69
5 Tống Minh Sơn (2013), Tình trạng nhạy cảm ngà răng của nhân
viên công ty Bảo hiểm Nhân thọ tại Hà Nội, Tạp chí Nghiên cứu
Y học, 85(5): 31-36
6 Yoshikazu F et al (2014), Association of gingival recession and other factors with the presence of dentin hypersensitivity
Odontology; 102: 42-49
Ngày nhận bài báo: 30/01/2015 Ngày phản biện nhận xét bài báo: 02/03/2015 Người phản biện: TS Trần Thu Thủy Ngày bài báo được đăng: 10/04/2015