1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Kết quả điều trị cong dương vật bẩm sinh bằng phẫu thuật khâu gấp bao trắng tại khoa nam học Bệnh viện Bình Dân

7 115 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 7
Dung lượng 492,34 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tình hình nghiên cứu và mục tiêu của đề tài trình bày về hiện tượng cong dương vật bẩm sinh không những gây ảnh hưởng về mặt chức năng của dương vật mà còn gây ảnh hưởng về mặt tâm lý. Đề tài nhằm mô tả đặc điểm lâm sàng và đánh giá kết quả điều trị cong dương vật bẩm sinh bằng phẫu thuật khâu gấp bao trắng.

Trang 1

KẾT QUẢ ĐIỀU TRỊ CONG DƯƠNG VẬT BẨM SINH BẰNG PHẪU THUẬT KHÂU GẤP BAO TRẮNG TẠI KHOA NAM HỌC BỆNH VIỆN BÌNH DÂN

Võ Hoàng Tâm*, Nguyễn Thành Như**, Mai Bá Tiến Dũng**, Đặng Quang Tuấn**

TÓM TẮT

Đặt vấn đề: cong dương vật bẩm sinh không những gây ảnh hưởng về mặt chức năng của dương vật mà

còn gây ảnh hưởng về mặt tâm lý Chúng tôi tiến hành đề tài nhằm mô tả đặc điểm lâm sàng và đánh giá kết quả điều trị cong dương vật bẩm sinh bằng phẫu thuật khâu gấp bao trắng

Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: tiền cứu mô tả, những bệnh nhân cong dương vật bẩm sinh

được phẫu thuật bằng phương pháp khâu gấp bao trắng, tại Khoa Nam học bệnh viện Bình Dân từ tháng 10/2008 đến 3/2010

Kết quả: 36 trường hợp được phẫu thuật Tuổi trung bình 26,58 ± 6,35 tuổi (19-40 tuổi) Trong 27 trường

hợp có giao hợp: 63% giao hợp khó, 14,8% không giao hợp được, 40,7% bạn tình than đau Trong 36 trường hợp: 3/36 (8,3%) tiểu khó khi cương, 6/36 (16,7%) có vấn đề thẩm mỹ, 24/36 (66,7%) có rối loạn tâm lý 27/36 trường hợp (75%) cong một hướng 9/36 trường hợp (25%) cong kết hợp 91,7% trường hợp (33/36) được theo dõi sau phẫu thuật Kết quả thành công của phẫu thuật là 90,9% (30/33) Sự hài lòng của bệnh nhân và sự hài lòng của bạn tình với kết quả phẫu thuật là 100% trường hợp

Kết luận: lý do chính các bệnh nhân cong dương vật bẩm sinh yêu cầu được phẫu thuật là các rối loạn giao

hợp và rối loạn tâm lý Phẫu thuật khâu gấp bao trắng đơn giản, hiệu quả, tỷ lệ hài lòng của bệnh nhân và bạn tình cao

Từ khóa: cong dương vật bẩm sinh, khâu gấp bao trắng

ABSTRACT

RESULTS OF TUNICA ALBUGINEA PLICATION FOR CONGENITAL PENILE CURVATURE AT

DEPARTMENT OF ANDROLOGY, BINH DAN HOSPITAL

Vo Hoang Tam, Nguyen Thanh Nhu, Mai Ba Tien Dung, Dang Quang Tuan

* Y Hoc TP Ho Chi Minh * Vol 15 - Supplement of No 1 - 2011: 200 - 206

Background: congenital penile curvature affects negatively not only penile function but also psychological

problems We carried out this study to identify the characterictics of congenital penile curvature patients and to evaluate the outcome of congenital penile curvature correction by tunica albuginea plication

Methods: a descriptive prospective study of patients with congenital penile curvature underwent surgery at

Department of Andrology, Binh Dan Hospital from October 2008 to March 2010

Results: 36 cases underwent surgery The average patient age was 26.58 ± 6.35 years old (19-40) Of these,

27 patients have had sexual intercourses: 63% of them complaining of penetration difficutlty, 14.8% with impossible coitus, 40.7% with partners presenting dyspareunia Of 36 patients: 3/36 (8.3%) complaining of dysuria when erection, 6/36 (16.7%) having cosmetic problems, 24/36 (66.7%) having psychological troubles

∗ Học viện khoa Nam học, Bệnh viện Bình Dân

** Khoa Nam học, Bệnh viện Bình Dân

Tác giả liên lạc: ThS Võ Hoàng Tâm ĐT: 0989756979 Email: vhtam2005@yahoo.com

Trang 2

27/36 of cases (75%) with simple deviation Combined curvature accounted for 9/36 (25%) patients Correction successful rate was of 90,9% (30/33) Satisfaction rates of patients and their partners with the resuls was of 100%

Conclusions: the major reasons that congenital penile curvature patients demanding surgery were sexual

intercourse and psychological problems Tunica albuginea plication was a simple and effective procedure with a high satisfaction rate of the patients and their partners

Keywords: congenital penile curvature, tunica albugenia plication

ĐẶT VẤN ĐỀ

Cong dương vật (CDV) bẩm sinh là do sự

phát triển bất cân xứng của bao trắng thể hang

gây ra dương vật (DV) cong khi ở trạng thái

cương CDV bẩm sinh chiếm tỷ lệ 0,04%-0,6%

nam giới(3,20) DV cong không chỉ gây ảnh hưởng

về mặt chức năng như giao hợp khó, giao hợp

đau, không thể giao hợp, mà còn gây ảnh hưởng

về mặt tâm lý của bệnh nhân (BN), dẫn đến lẫn

tránh việc quan hệ tình dục(7,17)

Lược qua lịch sử phẫu thuật điều trị CDV,

Nesbit (1965)(13) là tác giả đầu tiên mô tả kỹ

thuật cắt nhiều hình êlíp trên bao trắng điều trị

CDV bẩm sinh Essed và Schroeder (1985)(4)

dùng kỹ thuật khâu gấp bao trắng kèm bóc tách

bó mạch thần kinh lưng DV để điều trị CDV do

bệnh Peyronie và kỹ thuật này sau đó được

dùng để điều trị CDV bẩm sinh (5, 9) Để tránh

bóc tách bó mạch thần kinh lưng DV, Baskin và

Lue (1998)(2) chỉ khâu gấp nhiều đường song

song trên bao trắng thể hang dài, với mũi khâu

dấu mối bằng chỉ 2.0 không tan Lee (2004)(12) và

Salem (2009)(18) áp dụng phẫu thuật này có cải

biên điều trị CDV bẩm sinh với tỷ lệ thành công

từ 80-100%, tỷ lệ hài lòng cao 97%, không có

trường hợp nào rối loạn cương sau phẫu thuật,

tỷ lệ cong tái phát từ 1,5-5%

Chúng tôi tiến hành đề tài nhằm đánh giá

kết quả điều trị cong DV bẩm sinh bằng phẫu

thuật khâu gấp bao trắng theo kỹ thuật Baskin

và Lue

ĐỐI TƯỢNG - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Tiền cứu mô tả các trường hợp CDV bẩm

sinh được phẫu thuật khâu gấp bao trắng tại

Khoa Nam học bệnh viện Bình Dân từ tháng

10/2008 đến tháng 3/2010 Phẫu thuật được thực

hiện bởi Nguyễn Thành Như, Mai Bá Tiến Dũng

và Đặng Quang Tuấn Độ cong của DV được đo trực tiếp bằng thước khi DV cương hay đo trên hình chụp Các triệu chứng cơ năng được khảo sát bằng bản câu hỏi Các chỉ định phẫu thuật là:

DV cong ≥ 30 độ; rối loạn chức năng tình dục của bản thân BN và bạn tình, các ảnh hưởng tâm

lý, ảnh hưởng thẩm mỹ Theo dõi sau mổ ít nhất

là 2 tháng: tình trạng cong DV khi cương, sự cải thiện chức năng tình dục và sự hài lòng của BN

và bạn tình

KẾT QUẢ

- 36 trường hợp được ghi nhận Tuổi trung bình của BN khi nhập viện là 26,58 ± 6,35 tuổi (19-40), tuổi BN phát hiện CDV trung bình là 17 tuổi (14-26)

Triệu chứng lâm sàng Trong 36 trường hợp, DV cương cứng đạt

100% trường hợp Trong đó có 27 trường hợp đã

có giao hợp: 63% giao hợp khó, 14,8% không giao hợp được, 40,7% bạn tình than đau 9 trường hợp chưa giao hợp than phiền bị rối loạn tâm lý, trong đó, 4/9 trường hợp (44%) than phiền về thẩm mỹ Trong 36 trường hợp: 3 bệnh nhân (8,3%) tiểu khó khi cương, 6 trường hợp (16,7%) than phiền về thẩm mỹ, 24 trường hợp (66,7%) có các rối loạn tâm lý

Độ cong: trung bình là 37,5 ± 10,6 độ (30 - 90

độ) 3/36 (8,3%) trường hợp có DV xoay, xuất hiện trong cong kết hợp, độ xoay từ 15-45 độ

H ớng cong: 27/36 trường hợp (75%) DV

cong một hướng: 15 trường hợp (41,7%) cong trái, 10 trường hợp (27,8%) cong xuống (hình 1),

2 trường hợp (5,5%) cong phải, không có trường hợp nào cong lên 9/36 trường hợp (25%) cong

DV kết hợp (hình 2)

Trang 3

Hình 1: Dương vật cong xuống Hình 2: Dương vật cong trái và xoay

Hình 3: Khâu gấp bao trắng với chỉ prolene 2.0, trên

mặt lưng hai thể hang điều trị cong DV xuống

Hình 4 Kiểm tra độ thẳng của dương vật sau phẫu

thuật

Chiều dài DV khi c ơng: trung bình là

12,69 ± 0,69 cm (11-14 cm)

Vị trí cong DV: cong ở đoạn 1/3 giữa thân

DV chiếm tỷ lệ nhiều nhất (30/36 trường hợp,

83,3%), kế đến là đoạn 1/3 trong thân DV (5/36

trường hợp, 13,9%), đoạn 1/3 ngoài thân DV chỉ

có 1/36 trường hợp (2,8%), chiếm tỷ lệ thấp nhất

Kết quả phẫu thuật

Thời gian phẫu thuật trung bình là 63,18 ±

14,72 phút (50-110 phút) Số ngày nằm viện

trung bình là 1,58 ± 0,73 ngày (1-4 ngày)

91,7% BN tái khám (33/36) Thời gian theo dõi

hậu phẫu trung bình là 7,4 ± 4 tháng (2-15

tháng) DV thẳng hoàn toàn (hình 3 và 4)

chiếm 45,5% trường hợp (15/33), độ cong còn

lại ≤ 10 chiếm 39,4% (13/33), độ cong còn lại

từ > 100 đến ≤ 150 chiếm 6% (2/33), từ >15 đến

200 chiếm 9,1% (3/33)

- 1 trường hợp bị tụ máu dưới da phải phẫu thuật dẫn lưu Các biến chứng khác như

sờ cộm nốt chỉ dưới da DV, có 18,2% BN (6/33) than đau khi giao hợp do cộm nốt chỉ dưới da DV, mức độ đau chịu được, không ảnh hưởng đến giao hợp Không có trường hợp nào rối loạn cảm giác DV, rối loạn cương Ngắn DV trung bình từ 0,5 đến 1,5 cm: 34,4% trường hợp (11/33) ngắn 0,5 cm; 12,1% BN (4/33) ngắn 1 cm và 3,1% BN (1/33) ngắn 1,5

cm Không trường hợp nào than phiền do ngắn DV Không trường hợp nào cong tái phát

Về chức năng tình dục, có 27 BN đã có giao hợp thì trước phẫu thuật 77,8% BN (21/27) than phiền giao hợp khó và không giao hợp được, sau phẫu thuật tỷ lệ cải thiện là 100% 22 BN có rối loạn tâm lý trước phẫu thuật thì sau phẫu thuật 100% trường hợp có cải thiện tâm lý: cải

Trang 4

thiện tốt là 9,1% (2/22), có cải thiện là 90,9%

(20/22) Trước phẫu thuật có 16,7% BN (6/36)

yêu cầu phẫu thuật với lý do thẩm mỹ, sau phẫu

thuật 100% trường hợp hài lòng với DV hiện tại

Tiểu khó khi cương trước phẫu thuật chiếm tỷ lệ

8,3% (3/36 trường hợp); sau phẫu thuật, các BN

này không còn triệu chứng tiểu khó

Về sự hài lòng của bạn tình, trước mổ có

11/27 trường hợp than đau khi giao hợp 10

trường hợp được đánh giá sau mổ và 100%

trường hợp không còn đau khi giao hợp

BÀN LUẬN

Tuổi

Tuổi trung bình trong nhóm nghiên cứu của

chúng tôi là 26 tuổi (19-40), đây là độ tuổi trưởng

thành và trong độ tuổi mà sinh lý về sinh dục

phát triển mạnh (20-40 tuổi), nên BN dễ nhận

biết sự bất thường của cơ quan sinh dục cũng

như những ảnh hưởng của CDV gây trở ngại

trong đời sống tình dục Các tác giả khác cũng

ghi nhận độ tuổi trung bình tương đương với

nghiên cứu này Nguyễn Thành Như (2006)(14),

tuổi trung bình của BN là 26,6 tuổi (18-49),

Baskin(2), tuổi trung bình khoảng 25 tuổi Tuổi

BN phát hiện CDV trung bình là 17 tuổi (14-26),

BN thường không chú ý đến bất thường của DV,

khi đến tuổi trưởng thành, phát hiện ra CDV bất

thường họ mới lo ngại dẫn đến rối loạn tâm lý

Các triệu chứng than phiền chính

Vấn đề giao hợp khó là một trở ngại lớn đối

với CDV và đây cũng là chỉ định phẫu thuật cho

hầu hết các BN đến nhập viện Bạn tình than

đau vừa ảnh hưởng đến giao hợp, và gây rối

loạn tâm lý của bệnh nhân CDV Ngoại trừ

Klevmark(11) báo cáo tỷ lệ 40% tương đương với nghiên cứu này (40,7%), không thấy các nghiên cứu khác đề cập đến than phiền của bạn tình khi giao hợp Tỷ lệ BN không thể giao hợp, được các tác giả báo cáo từ 11,3 - 33% (Bảng 1)

Bảng 1: So sánh triệu chứng lâm sàng

Tác giả Triệu

chứng lâm sàng Nooter (16) Klevmark (11) Andrews (1) Chúng tôi

Giao hợp

Không thể

Có 6/36 trường hợp (16,7%) yêu cầu được phẫu thuật vì lý do thẩm mỹ, trong đó có 4 BN chưa từng giao hợp và 02 BN lớn tuổi (40 tuổi)

dù CDV không ảnh hưởng tới giao hợp Các tác giả khác cũng đưa ra chỉ định phẫu thuật với lý

do thẩm mỹ (Andrews(1), Friedrich(5)) Các rối loạn về giao hợp, rối loạn tâm lý và vấn đề thẩm

mỹ cũng được các tác giả Popken(17), Hsieh(7) đề cập đến trong các nghiên cứu của họ Tiểu khó khi cương (chúng tôi chỉ ghi nhận triệu chứng cơ năng) chiếm tỷ lệ 3/36 trường hợp (8,3%); chiếm

tỷ lệ ít nhưng cũng là triệu chứng than phiền gây khó chịu cho bệnh nhân CDV

Độ cong và h ớng cong DV

Độ cong DV trong nghiên cứu của chúng tôi

từ 30-90 độ Độ cong lớn nhất là 90 độ, chiếm tỷ

lệ 2/36 trường hợp (5,5%) Các trường hợp có cong kết hợp, ngoài độ cong chính (30-90 độ), độ cong kèm theo giao động từ 10-15 độ, và độ xoay từ 15-45 độ

Bảng 2: So sánh hướng cong

Tác giả Lee (12) N=68 Toshihiko (19) N=49 Hseih (8) N=114 Baskin (1) N=10 Chúng tôi N=36

Hướng

cong

Chúng tôi chỉ định phẫu thuật cho những

trường hợp cong ≥ 30 độ Theo y văn chúng tôi

có được, các tác giả hầu hết chỉ định phẫu thuật khi DV cong ≥ 30 độ(8,12,17) Tuy nhiên có tác giả

Trang 5

chỉ định phẫu thuật với độ cong ít hơn là

Toshihiko (19), 15 độ Trong các trường hợp cong

một hướng, hướng cong của DV cũng khác

nhau, theo các tác giả báo cáo và nghiên cứu của

chúng tôi, các trường hợp cong trái và cong

xuống chiếm tỷ lệ nhiều nhất (Bảng 2) Dựa vào

bảng so sánh các hướng cong, có thể giải thích

trường hợp cong lên chiếm tỷ lệ ít nhất vì hướng

cong này không gây trở ngại nhiều về giao hợp

Chiều dài DV khi c ơng

Nguyễn Thành Như(15) đo chiều dài DV khi

cương ở người Việt Nam trưởng thành, trong

100 trường hợp tác giả báo cáo, chiều dài DV khi

cương trung bình là 11,2 ± 1,7 cm Chiều dài DV

khi cương ở bệnh nhân CDV bẩm sinh trong

nhóm nghiên cứu này là 12,69 ± 0,69 cm (11-14

cm) Andrews(1) nhận xét ở những bệnh nhân

CDV bẩm sinh, chiều dài DV khi cương dài hơn

chiều dài trung bình của nam giới, nên việc ngắn

DV do phẫu thuật khâu gấp sẽ không là vấn đề

lớn Dựa vào kết quả chiều dài DV khi cương

của nghiên cứu này là 12,69 cm so với chiều dài

DV trung bình của người Việt Nam báo cáo là

11,2 cm theo Nguyễn Thành Như, do đó có thể

kết luận những BN CDV bẩm sinh có chiều dài

DV khi cương tốt hơn dân số chung

Vị trí cong DV

Chúng tôi chia thân DV gồm ba phần: đoạn

1/3 trong thân DV, đoạn 1/3 giữa và đoạn 1/3

ngoài Trong 36 trường hợp chúng tôi quan sát

thấy DV cong ở đoạn 1/3 giữa thân DV chiếm tỷ

lệ nhiều nhất là 30/36 (83,3%), kế đến là đoạn 1/3

trong thân DV là 5/36 (13,9%), đoạn 1/3 ngoài

thân DV chỉ có 1/36 (2,8%) chiếm tỷ lệ thấp nhất

Kêlami (1987)(10) báo cáo 125 trường hợp với tỷ lệ

cong cho 03 vị trí lần lượt là 32% đoạn 1/3 trong,

60% đoạn 1/3 giữa, 8% đoạn 1/3 ngoài

Kết quả phẫu thuật

Phẫu thuật điều trị CDV được xem là thất

bại nếu độ cong của DV sau mổ > 15(5,6,9,12) Trong

nghiên cứu này, phẫu thuật khâu gấp bao trắng

thành công trong 90,9% trường hợp, với 45,5%

trường hợp DV thẳng và 39,4% trường hợp độ

cong còn lại ≤ 150, và thất bại trong 9,1% trường hợp (độ cong còn lại ≤ 20) Các trường hợp này, chúng tôi cho là mũi khâu chưa đủ để chỉnh thẳng DV, không nghĩ là cong tái phát Do đó, tỷ

lệ thành công của chúng tôi thấp hơn so với nghiên cứu của Lee(12) và Sale(18)

Chúng tôi chọn phẫu thuật theo Baskin và Lue(2), vì phẫu thuật này có ưu điểm là đơn giản, chỉ khâu gấp, không bóc tách bó mạch thần kinh vùng lưng (trong trường hợp chỉnh DV cong xuống), vì thế hạn chế được tổn thương thần kinh vùng lưng và không làm tổn thương mô cương như các phẫu thuật Nesbit(13) hay phẫu thuật Yachia(21) Tuy nhiên có nhược điểm là cộm nốt chỉ khâu, đôi khi gây đau cho BN khi giao hợp

Biến chứng Trong nghiên cứu này, có 01 trường hợp tụ máu vết mổ (2,8%), máu tụ dưới da DV Đây là

biến chứng hiếm gặp trong phẫu thuật khâu gấp bao trắng, do không cắt hay rạch trên cân bao trắng như phẫu thuật Nesbit Vì vậy khi phẫu thuật bóc tách các lớp da và mạc nông DV, cần chú ý cầm máu cẩn thận, khi khâu gấp nên chú

ý để tránh mũi kim làm tổn thương các mạch máu và sau khi kết thúc phẫu thuật nên băng ép

DV để cầm máu giúp hạn chế được biến chứng trên

Ngắn DV

Là một bất lợi của nhóm phẫu thuật làm ngắn bên dài trong đó có phẫu thuật khâu gấp bao trắng Tất cả các y văn công bố về phẫu thuật khâu gấp bao trắng đều báo cáo có ngắn dương DV, tỷ lệ thay đổi tùy theo tác giả từ 38% (Lee(12)) đến 65% (Hauck(6)) Tỷ lệ ngắn DV trong nghiên cứu này là 51,2%, ngắn trung bình từ 0,5-1,5 cm Ngắn DV không gây ảnh hưởng đến giao hợp Salem (2009)(18) báo cáo độ ngắn DV tương tự với nghiên cứu của chúng tôi và ngắn

DV cũng không ảnh hưởng đến giao hợp Có lẽ những BN cong DV có ưu tư rất lớn về DV cong nên việc DV bị ngắn đi từ 0,5-1,5 cm không làm

họ bận tâm, miễn là DV thẳng và giao hợp được

Trang 6

Sờ cộm nốt chỉ d ới da DV

Do phẫu thuật dùng chỉ không tan Prolene

đôi khi gây đau cho BN khi giao hợp, do nốt chỉ

cọ sát vào da DV Tuy nhiên mức độ đau BN

chịu được và không ảnh hưởng đến giao hợp;

trong nghiên cứu này, không có trường hợp nào

yêu cầu phẫu thuật lại do nốt chỉ cộm gây đau

So với các tác giả đã báo cáo, tỷ lệ này từ

15-31,8%(9,14,18) Theo chúng tôi, ngoài kỹ thuật khâu

mũi dấu mối, để hạn chế nốt chỉ cộm gây đau

khi giao hợp cần cắt sát mối chỉ khâu sau khi kết

thúc mối khâu

CDV tái phát

Chúng tôi không có trường hợp nào CDV tái

phát sau thời gian theo dõi trung bình 7,4 tháng

(2-15 tháng) CDV được xem là tái phát nếu

trong phẫu thuật DV được chỉnh thẳng, nhưng

sau vài tuần DV xuất hiện cong lại và nguyên

nhân là do đứt chỉ khâu(6) Chúng tôi có 01

trường hợp giao hợp lại sau phẫu thuật 03 tuần,

kết quả giao hợp bình thường và không cong tái

phát Đây là ưu điểm của chỉ Prolene 2.0, BN có

thể giao hợp sớm khoảng 2-3 tuần sau mổ

Nguyễn Thành Như (2006)(14) báo cáo kinh

nghiệm điều trị CDV bẩm sinh bằng phẫu thuật

khâu gấp bao trắng theo Horton và Devine,

trong 29 trường hợp được tác giả phẫu thuật có

2 trường hợp cong tái phát do tuột mối chỉ khâu

Các biến chứng khác

Trong nghiên của chúng tôi, không có

trường hợp nào rối loạn cương sau phẫu thuật

Biến chứng về giảm cảm giác hay cảm giác tê ở

qui đầu trong nghiên cứu của chúng tôi cũng

không có trường hợp nào được ghi nhận Có tác

giả báo cáo có biến chứng này là Van Der

Horst(9) là 8% Điều này có thể giải thích vì tác

giả áp dụng kỹ thuật Essed-Schroeder có bóc

tách bó mạch thần kinh lưng DV, đưa đến ảnh

hưởng đến cảm giác ở qui đầu nếu thần kinh

lưng DV bị tổn thương

Sự hài lòng của BN và bạn tình

Phẫu thuật đã mang lại sự hài lòng rõ rệt cho

các BN trong nghiên cứu này Cũng dùng phẫu

thuật khâu gấp bao trắng như nghiên cứu này, Lee(12) phẫu thuật 68 trường hợp, tỷ lệ hài lòng của BN là 98,5% (67/68) trường hợp,

có 01 trường hợp BN không hài lòng do biến chứng ngắn DV Salem(18) phẫu thuật 20 trường hợp, tỷ lệ hài lòng về mặt thẩm mỹ là 95% (19/20 trường hợp), 01 trường hợp BN không hài lòng do cộm nốt chỉ và BN sau đó được phẫu thuật lại để lấy nốt chỉ cộm

Phẫu thuật khâu gấp bao trắng này không chỉ đem đến sự hài lòng cho BN mà còn đem đến sự hài lòng cho bạn tình Tuy nhiên, chúng tôi đánh giá sự hài lòng của bạn tình thông qua

BN Đây là một hạn chế của đề tài này

KẾT LUẬN

Phẫu thuật khâu gấp bao trắng điều trị cong dương vật bẩm sinh là phẫu thuật đơn giản, hiệu quả, tỷ lệ thành công cao, đem đến cho bệnh nhân sự hài lòng về mặt chức năng và thẩm mỹ, cải thiện về mặt tâm lý và kể cả sự hài lòng của bạn tình

TÀI LIỆU THAM KHẢO

operation for congenital curvature of the penis”, International Journal of Impotence Research, 11: 1191-1122

penile curvature in young men”, British Journal of Urology, 81: 895–899

Urol 60(3): 264-266

Peyronie disease”,Urology, 25: 582-587

penile curvature with the Essed-Schroeder technique: a long-term follow-up assessing functional aspects and quality of life”, BJU International, 86: 1034-1038

Essed-Schroeder plication by the use of non-absorbable Goretex sutures for correcting congenital penile curvature”, Int J Impot Res, 14(3): 146-150

tunica albuginea in treating congenital penile curvature”, BJU International, 88: 236-240

curvature using modified tunical plication with absorbable sutures: the long-term outcome and patient satisfaction”, Eur Urol 52(1): 261-6

curvature with Essed-Schroder tunical plication: aspects of quality of life from the patients' perspective”, BJU Int, 93(1): 105-108

Trang 7

10 Kelâmi A (1987), “Congenital Penile Deviation and its

Treatment with the Nesbit - Kêlami Technique”, Britsh

Journal of Urology, 60: 261-263

curvature of the penis treated surgically by plication of the

tunica albuginea”, British Journal of Urology, 74(4): 501-506

long-term results of operative treatment using the plication

procedure”, Asian J Androl, 6(3): 273-276

3 cases with description of corrective operation”, J Urol, 93:

230-232

dương vật bẩm sinh bằng kỹ thuật khâu gấp bao trắng”, Báo

cáo tại hội nghị thường niên Hội tiết niệu – TP Hồ Chí Minh

lần thứ 6, TP Hồ Chí Minh

Dương Văn Hải (2008), “Kích thước dương vật trung bình ở

người Việt Nam trưởng thành”, Y học TP Hồ Chí Minh, tập

12, phụ bản số 1: 326-329

16 Nooter RI, Bosch JL, Schroeder FH (1994), “Peyronie’s disease and congenital penile curvature: long-term results of

operative treatment with the plication procedure”, British

)ournal of Urology, 74: 497-500

for treating congenital penile curvature and reducing the incidence of palpable indurations”, BJU International 83(1): 71-75

Correction of Congenital Penile Curvature”, UroToday Int J, 2(5)

the treatment of congenital penile curvature”, Reproductive Medicine and Biology 4(4): 255-258

curvature”, J Urol, 150(5): 1478-1479

penile curvature”, J Urol, 143: 80-82

Ngày đăng: 22/01/2020, 02:08

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w