1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Hiệu quả của bảo tồn bó mạch thần kinh trong phẫu thuật cắt tuyến tiền liệt tận gốc

8 61 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 8
Dung lượng 718,11 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nghiên cứu với mục tiêu nhằm đánh giá hiệu quả của kỹ thuật bảo tồn bó mạch thần kinh trên chất lượng sống của bệnh nhân sau phẫu thuật dựa trên 2 tiêu chí: Tiểu không kiểm soát và rối loạn cương. Mời các bạn cùng tham khảo bài viết.

Trang 1

HIỆU QUẢ CỦA BẢO TỒN BÓ MẠCH THẦN KINH   TRONG PHẪU THUẬT CẮT TUYẾN TIỀN LIỆT TẬN GỐC  

Đào Quang Oánh*, Vũ văn Ty** 

TÓM TẮT 

Đặt  vấn  đề:  Ung thư tuyến tiền liệt (TTL) bệnh lý ác tính hàng đầu trên hệ tiết niệu ở nam giới. Phẫu 

thuật triệt căn thường là một chọn lựa đối với giai đoạn còn khu trú trên những bệnh nhân có dự hậu sống còn  trên 10 năm.Vấn đề hiện nay là chú trọng đến chất lượng điều trị. Tiểu không kiểm soát và rối loạn cương sau 

mổ là 2 vấn đề chính cần giải quyết. Bảo tồn bó mạch – thần kinh là kỹ thuật góp phần giảm những biến chứng  trên. 

Mục tiêu: Đánh giá hiệu quả của kỹ thuật bảo tồn bó mạch thần kinh trên chất lượng sống của bệnh nhân 

sau phẫu thuật dựa trên 2 tiêu chí: tiểu không kiểm soát và rối loạn cương. 

Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu lâm sàng mô tả hàng loạt ca. Phẫu thuật có bảo tồn bó mạch‐thần 

kinh được thực hiện trên những trường hợp (TH) ung thư TTL giai đoạn khu trú T1‐2. Chức năng cương được  ghi nhận trước và sau mổ. Sự hồi phục của chức năng đi tiểu và chức năng cương được theo dõi và đánh giá sau 

mổ 6 tháng. Ghi nhận riêng sự phục hồi với bảo tồn 1 bên và 2 bên. 

Kết quả: Tổng cộng 14 TH trong đó 3 TH (21,4%) bảo tồn 1 bên và 11 TH (78,6%) bảo tồn 2 bên. Chức 

năng kiểm soát đi tiểu sau cắt TTL: 12 TH (85,7%) không rối loạn và 2 TH (14,3%) rối loạn đi tiểu độ 1. Chức  năng tình dục sau phẫu thuật: 11 TH (78,6%) phục hồi chức năng cương tốt và khá, 3 TH (21,4%) phục hồi  trung bình. 

Kết luận: Bảo tồn bó mạch thần kinh góp phần tăng hiệu quả kiểm soát nước tiểu và phục hồi chức năng  cương sau mổ. Bảo tồn 2 bên hiệu quả hơn bảo tồn một bên. 

Từ khóa: cắt tuyến tiền liệt tận gốc, bảo tồn bó mạch – thần kinh 

ABSTRACT 

EVALUATION OF NEURO‐VASCULAR BUNDLES PRESERVATION IN RADICAL 

PROSTATECTOMY  

Dao Quang Oanh, Vu Van Ty  

* Y Hoc TP. Ho Chi Minh * Vol. 17 ‐ Supplement of No 3 ‐ 2013: 320 ‐ 327 

Introduction:  Prostate  cancer  is  the  first  malignant  tumor  of  the  urinary  system  in  male.  Radical 

prostatectomy is a choice for the localized stages in patients with life expectancy more than 10 years. Nowadays,  treatment is focused on quality of life. Urinary incontinence and erectile dysfunction after surgery are the two  main problems to be solved. Neuro‐vascular preservation techniques help reduce these complications. 

Objectives:  Evaluation the effectiveness of neuro‐vascular bundles preservation on the quality of life after 

surgery based on two criteria: urinary continence and erectile dysfunction. 

Patients and methods: Serial cases, descriptive clinical study. Neuro‐vascular bundles preservation were 

performed in localized prostate  cancer  (stage  T1‐2).  Erectile  function  were  evaluated  and  compared  before  and  after surgery. The urinary continence and erectile function gradually recovered after 6 months. We noticed the  difference between unilateral and bilateral nerve preservation. 

Results: In total, 14 cases of nerve preservation including 3 cases (21.4%) of unilateral preservation and 11 

*  Khoa Niệu B, BV Bình Dân  ** Phòng Nghiên cứu Khoa học và Chỉ đạo tuyến, BV Bình Dân  

Trang 2

cases  (78.6%)  of  bilateral  preservation.  Urinary  continence  after  surgery:  12  cases  (85.7%)  of  complete  continence and 2 cases (14.3%) of incontinence grade 1. Sexual function after surgery: 11 cases (78.6%) good  and fairly good, 3 cases (21.4%) average results. 

Conclusions:  Neuro‐vascular  bundles  preservation  contribute  to  the  recovery  of  urinary  continence  and 

erectile function after surgery. Bilateral is more effective than unilateral preservation. 

Keywords: Radical prostatectomy, nerve‐sparing. 

ĐẶT VẤN ĐỀ 

Ung thư tuyến tiền liệt là loại ung thư diễn 

tiến chậm, chọn lựa phẫu thuật còn được bàn cãi 

nhiều và chỉ dành cho bệnh nhân bị ung thư giai 

đoạn  khu  trú,  có  triển  vọng  sống  >10  năm.  Để 

nâng  cao  hiệu  quả  của  phẫu  thuật,  quan  điểm 

mới đặt ra hai vấn đề liên quan đến chất lượng 

sống  sau  mổ  là:  tiểu  không  kiểm  soát  và  đời 

sống tình dục (chủ yếu là rối loạn cương (RLC). 

Mục  đích  của  kỹ  thuật  bảo  tồn  bó  mạch  thần 

kinh  là  để  giải  quyết  hai  vấn  đề  trên.  Kỹ  thuật 

bảo  tồn  bó  mạch  thần  kinh  áp  dụng  đầu  tiên 

trong phẫu thuật cắt tuyến tiền liệt tận gốc. Hiện 

vẫn còn nhiều đề nghị để  cải tiến kỹ  thuật  này 

để tăng hiệu quả. 

Hiện nay trong các công trình nghiên cứu về 

cắt tuyến tiền liệt tận gốc (mổ mở cũng như nội 

soi) tại BV Bình Dân, kỹ thuật bảo tồn bó mạch‐

thần  kinh  vẫn  chưa  được  triển  khai  một  cách 

thường  qui.  Chúng  tôi  thực  hiện  nghiên  cứu 

đánh giá hiệu quả của kỹ thuật bảo tồn bó mạch 

thần  kinh  trên  chất  lượng  sống  của  bệnh  nhân 

sau  phẫu  thuật  dựa  trên  2  tiêu  chí:  tiểu  không 

kiểm soát và rối loạn cương (có so sánh trước và 

sau mổ).  

Mục tiêu 

Đánh  giá  hiệu  quả  của  kỹ  thuật  bảo  tồn  bó 

mạch  thần  kinh  trên  chất  lượng  sống  của  bệnh 

nhân  sau  phẫu  thuật  dựa  trên  2  tiêu  chí:  tiểu 

không kiểm soát và rối loạn cương. 

Giải phẫu học 

Mạng thần kinh (TK) hỗn hợp giao cảm và 

phó giao  cảm  gồm  TK  chậu  và  TK  thiêng,  chi 

phối trực tràng, bàng quang, tuyến tiền liệt, túi 

tinh,  thể  hang.  Xuống  vùng  chậu  bé,  các  dây 

TK  gồm  những  nhánh  nhỏ,  kèm  huyết  quản, 

đi sát 2 bên túi tinh và tuyến tiền liệt trước khi 

đến  tận  cùng  tại  hoành  niệu‐dục,  cơ  thắt,  thể  hang hai bên. 

 

Hình 1: Phân bố TK vùng chậu ở nam giới 

(Kessler (8) ) 

Cơ chế kiểm soát đi tiểu: TK thẹn (somatic), 

vận  động  chủ  động:  Nhánh  nội  chậu  và  ngoại  chậu  (từ  nhân  Onuf  S2‐4)  đến  chi  phối  cơ  thắt  ngoài (vân). 

Sợi TK không phải từ TK thẹn, nội chậu (S2– 3), đến cơ thắt vân. 

TK  chậu,  vận  động  tự  động:  đóng  cổ  bàng  quang khi xuất tinh, thì chứa đựng. 

Sợi cảm giác từ niệu đạo màng, cảm giác vô 

ý thức và có ý thức: khi nước tiểu kích thích gây  phản xạ đóng mở cổ bàng quang. 

Chức năng tình dục 

TK  thiêng,  phó  giao  cảm  (S2–4):  máu  đến  vùng chậu và cơ quan sinh dục, cương. 

TK giao cảm: xuất tinh. 

Trang 3

Sát bờ ngoài và nửa dưới tuyến tiền liệt‐ túi 

tinh trên nam giới. Trên nữ giới, sự phân bố và 

đường  đi  của  bó  mạch‐thần  kinh  rộng  hơn,  ở 

ranh giới bàng quang‐tử cung‐trực tràng. 

 

 

Hình 2: Tương quan vị trí giải phẫu bó mạch‐thần 

kinh (Girgi  (7) ). 

Các  công  trình  về  bảo  tồn  bó  mạch‐thần 

kinh trong cắt tuyến tiền liệt tận gốc 

Catalona(2)  là  tác  giả  có  nghiên  cứu  báo  cáo 

đầu  tiên  về  bảo  tồn  bó  mạch‐thần  kinh,  nhưng 

Walsh(14) thuộc ĐH Johns Hopkins mới là người 

đặt  nền  móng  về  áp  dụng  giải  phẫu  học  hệ 

thống thần kinh vùng chậu trong phẫu thuật cắt 

tuyến  tiền  liệt  tận  gốc  nhằm  mục  đích  bảo  tồn 

chức năng cương. 

Catalona  và  cs  tại  ĐH  Y  Khoa  Washington 

(1985):  phẫu  thuật  trên  52  bệnh  nhân  ung  thư 

tuyến tiền liệt giai đoạn A‐B1, 42 bệnh nhân còn 

hoạt động tình dục. 41/42 (98%) bệnh nhân còn 

có thể cương nhưng chỉ 22/42 (52%) đủ để có thể 

giao hợp (67% < 60t và 33% > 60t). Báo cáo với số 

lượng bệnh nhân nhiều hơn (1990): kết quả trên 

250  bệnh  nhân,  theo  dõi  tối  thiểu  6  tháng  sau 

mổ, 71/112 (63%) phục hồi chức năng cương khi  bảo tồn 2 bên trong khi chỉ có 13/33 (39%) phục  hồi  nếu  bảo  tồn  1  bên.  Lựa  chọn  bệnh  nhân,  trong đó yếu tố giai đoạn tiến triển bướu là rất  quan trọng. Catalona nhấn mạnh quan điểm này  trong một bài báo  (1999)(2):  bệnh  nhân  lý  tưởng 

là  tuổi  còn  trẻ  (<60t),  giai  đoạn  khu  trú  (A1‐2,  B1), biệt hóa cao. 

Walsh  và  cs(14)  đặt  vấn  đề  mâu  thuẫn  giữa  lấy  hết  mô  bướu  và  bảo  tồn  chức  năng  cương:  tương  quan  giữa  khối  lượng  bướu,  vị  trí  bướu 

và  bó  mạch‐thần  kinh.  Tương  quan  này  có  thể  xác  định  qua  sinh  thiết.  Có  thể  còn  chức  năng  cương  nếu  khi  phẫu  thuật  chỉ  phạm  bó  mạch‐ thần kinh 1 bên ? Ông giải thích, sau khi nghiên  cứu trên 312 mẫu bệnh phẩm cắt tuyến tiền liệt:  trong đa số trường hợp, bướu thường chỉ ở một  bên  khi  xâm  lấn  ra  ngoài  vỏ  bao.  Do  đó  có  thể  bảo  tồn  bó  mạch‐thần  kinh  1  bên  mà  không  vi  phạm  nguyên  tắc  lấy  hết  mô  bướu.  Kết  quả  phục hồi còn tùy bệnh nhân thuộc lứa tuổi nào:  100% (40‐49t), 80% (50‐59t), 50% (60‐69t). 

Quinlan  và  cs(10)  với  kết  quả  trên  503/600  bệnh  nhân  không  rối  loạn  cương  trước  mổ  và  thời gian theo dõi tối thiểu 18 tháng, cho thấy có  342/503  (68%)  còn  hoạt  động  tình  dục  sau  mổ. 

Ba  yếu  tố  cần  được  chú  ý  là:  (1)  tuổi,  (2)  giai  đoạn của bướu, (3) kỹ thuật bảo tồn. Ở lứa tuổi <  50t,  bảo  tồn  2  bên  hay  1  bên  đêu  có  tỷ  lệ  còn  cương  cao  và  tương  đương  (90‐91%),  nhưng  ở  lứa tuổi ≥ 50t thì phải bảo tồn cả 2 bên để được 

tỷ lệ tốt cao hơn. 

Đa  số  các  công  trình  từ  những  năm  1980‐

1990(10,14) và cả gần đây(1,4,8,13,15) đều cho thấy bảo  tồn  bó  mạch‐thần  kinh  là  việc  nên  được  thực  hiện  khi  cắt  tuyến  tiền  liệt  tận  gốc  và  điều  này  giúp  cải  thiện  chất  lượng  sống  sau  mổ.  Một  số  tác  giả(3)  còn  cho  thấy  có  thể  biết  trước  kết  quả  của  kỹ  thuật  bảo  tồn  khi  kích  thích  dây  thần  kinh trong lúc mổ. 

Trang 4

Đối tượng nghiên cứu 

Tiêu chuẩn chọn bệnh 

Tất cả bệnh nhân ung thư tuyến tiền liệt có 

chỉ định cắt tận gốc (ung thư tuyến tiền liệt giai 

đoạn  T1,  T2;  dự  hậu  sống  còn  trên  10  năm)  có 

chức năng cương đạt tổng số IIEF‐5 từ 17 điểm 

trở lên (không RLC hoặc chỉ RLC nhẹ). 

Tiêu chuẩn loại trừ 

Bệnh nhân bị RLC từ trung bình nhẹ đến nặng: 

có tổng số điểm IIEF‐5 từ 16 điểm trở xuống. 

Phương pháp nghiên cứu 

Nghiên cứu tiền cứu mô tả, có can thiệp lâm 

sàng và không có nhóm chứng. 

Ghi nhận những đặc điểm tiền phẫu 

Chất lượng đi tiểu của bệnh nhân. 

Đời  sống  tình  dục  của  bệnh  nhân  (tổng  số 

điểm IIEF‐5). 

Khảo sát về thể trạng chung của bệnh nhân 

để  xác  định  bệnh  nhân  có  thể  chịu  đựng  được 

cuộc phẫu thuật. 

Ghi nhận trong lúc phẫu thuật 

Bảo tồn bó mạch thần kinh 1 bên hoặc 2 bên.  Phẫu thuật viên sẽ đánh giá về kích thước, vị trí 

và giai đoạn bướu để tiến hành phẫu thuật bảo  tồn 1 hoặc 2 bên. 

Chức năng kiểm soát nước tiểu 

Bệnh  nhân  có  rối  loạn  đi  tiểu  hay  không?  Nếu có rối loạn thì dựa trên số tã giấy phải thay  mỗi ngày, có 3 mức độ rối loạn đi tiểu. 

Bảng 1: Phân độ rối loạn đi tiểu. 

Thay từ 1 đến 2 tã giấy

Thay từ 3 đến 4 tã giấy

Nhiều hơn 4 tã giấy

Chức năng tình dục 

Áp dụng bảng câu hỏi quốc tế về chức năng  tình dục (IIEF‐5)(11) để đánh giá chức năng cương  của bệnh nhân trước và sau khi phẫu thuật. Loại  trừ  nếu  như  bệnh  nhân  thuộc  nhóm  rối  loạn  cương nặng, trung bình, trung bình nhẹ. Mức độ  RLC được xếp theo tổng số điểm IIEF‐5. 

Bảng 2: Câu hỏi IIEF – 5 (International Index of Erectile Function). 

1/ Mức độ tin tưởng của bạn về khả năng dương vật bạn có thể cương được?

Rất thấp

1

Thấp

2

Trung bình

3

Tốt

4

Rất tốt

5 2/ Khi dương vật cương khi kích thích tình dục Số lần dương vật cương đủ cứng để giao hợp được?

Không bao giờ hay gần như không

bao giờ đạt

1

Chỉ vài lần (<1/2 số lần)

2

Đôi khi (1/2 số lần)

3

Đa số (>1/2 số lần)

4

Luôn luôn hay gần như luôn

luôn đạt

5 3/ Trong lúc đang giao hợp, số lần bạn giữ dương vật cương được?

Không bao giờ hay gần như không

bao giờ đạt

1

Chỉ vài lần (<1/2 số lần)

2

Đôi khi (1/2 số lần)

3

Đa số (>1/2 số lần)

4

Luôn luôn hay gần như luôn

luôn đạt

5 4/ Trong lúc đang giao hợp, mức độ khó khăn để giữ dương vật cương cho tới khi giao hợp xong?

Vô cùng khó

1

Rất khó

2

Khó

3

Hơi khó

4

Không khó

5 5/ Khi giao hợp, bạn có thường thỏa mãn không? (nếu bạn muốn giao hợp nhưng không giao hợp được vì dương vật cương

không đạt thì chọn câu trả lời số 1) Không bao giờ hay gần như không

bao giờ đạt

1

Chỉ vài lần (<1/2 số lần)

2

Đôi khi (1/2 số lần)

3

Đa số (>1/2 số lần)

4

Luôn luôn hay gần như luôn

luôn đạt

5

So sánh khả năng cương trước và sau khi phẫu thuật. Phân làm 4 mức độ: tốt, khá, trung bình,  xấu. Kết quả được đánh giá 6 tháng sau mổ. 

Trang 5

Tốt Khá Trung bình Xấu

Giữ nguyên

hoặc tốt hơn Giảm một bậc RLC trung bình nhẹ)Giảm hai bậc (trừ Giảm nhiều hơn

Xử lí số liệu 

Sử dụng phần mềm thống kê và phần mềm 

xử lí số liệu SPSS phiên bản 18.0. 

KẾT QUẢ 

Số liệu chung: 14 bệnh nhân. 

 

Biểu đồ 1. Phân phối tuổi của bệnh nhân cắt TTL 

tận gốc. 

Bệnh  nhân  trẻ  tuổi  nhất:  45  tuổi,  lớn  tuổi 

nhất: 72 tuổi. 

Tuổi trung bình = 66,3 ± 7,5 tuổi. 

Số lượng bệnh nhân đông nhất ở lứa tuổi 50 

‐ 70 tuổi. 

Chức năng tình dục trước phẫu thuật 

Bảng 4. Chức năng tình dục trước phẫu thuật cắt 

TTL tận gốc (theo độ tuổi). 

Chức năng

tình dục

Tuổi bệnh nhân

Tỷ lệ (%)

< 50 tuổi 50 – 70 tuổi > 70 tuổi

Kết  quả  bảo  tồn  bó  mạch  thần  kinh  đạt 

được 

Bảng 5. Số bên bó mạch thần kinh được bảo tồn. 

Số bên Số trường hợp (N = 31) Tỷ lệ (%)

Kết  quả  chất  lượng  cuộc  sống  sau  phẫu 

thuật 

Chức năng kiểm soát nước tiểu 

Bảng 6. Chức năng đi tiểu sau khi cắt TTL tận gốc. 

Chức năng kiểm soát

nước tiểu

Số bó mạch thần kinh được bảo tồn Tỷ lệ (%)

2 bên 1 bên

Không rối loạn đi tiểu 11 1 85,7%

Rối loạn đi tiểu độ 1 0 2 14,3%

2 trường hợp rối loạn đi tiểu độ 1 xuất hiện ở  bệnh nhân > 70 tuổi được phẫu thuật bảo tồn bó  mạch thần kinh 1 bên. 

Khi  kiểm  tra  mối  tương  quan  giữa  chức  năng đi tiểu và số bên bó mạch thần kinh được  bảo  tồn  bằng  phép  kiểm  Fisherʹs  (p  =  0,033  <  0,05),  ta  thấy  có  mối  liên  hệ  giữa  chức  năng  đi  tiểu và số bên bó mạch thần kinh được bảo tồn.  Chúng tôi nhận thấy bệnh nhân sẽ kiểm soát  nước  tiểu  tốt  hơn  khi  bảo  tồn  được  2  bên  bó  mạch thần kinh so với bảo tồn được 1 bên. 

Chức năng tình dục sau phẫu thuật 

Tổng  số  điểm  IIEF‐5  trung  bình  sau  phẫu  thuật  của  nhóm  cắt  TTL  tận  gốc  =  18,21  ±  4,1  điểm. 

Dùng phép kiểm T để so sánh tổng số điểm  IIEF‐5 trung bình trước và sau phẫu thuật. 

Kết quả sự khác biệt về tổng số điểm IIEF‐5  trung bình trước và sau phẫu thuật là 3,214 điểm  với khoảng tin cậy 95% là 1,532 điểm đến 4,897  điểm. Sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê (t13 =  4,128, p < 0,001). 

Dùng kiểm định Wilcoxon để kiểm định sự  thay đổi tổng số điểm IIEF‐5 trước và sau phẫu  thuật. Kết quả: sự thay đổi tổng số điểm IIEF‐5  trước và sau phẫu thuật có ý nghĩa thống kê (Z = 

‐ 2,949, p < 0,05). 

Bảng 7: Đánh giá chức năng tình dục sau phẫu thuật  cắt TTL tận gốc (số TH (%). 

Không RLC

8 (57,2%)

Không RLC = 4 (28,6%) Tốt

RLC nhẹ = 4 (28,6%) Khá

RLC nhẹ

6 (42,8%)

RLC nhẹ = 3 (21,4%) Tốt

RLC trung bình = 3 (21,4%) Trung bình Chúng  tôi  nhận  thấy  có  11/14  bệnh  nhân  (78,6%) phục hồi chức năng cương tốt và khá, có  3/14  bệnh  nhân  (21,4%)  phục  hồi  chức  năng  cương  trung  bình.  3  bệnh  nhân  này  phục  hồi  không  tốt  vì  bệnh  nhân  chỉ  được  bảo  tồn  bó  mạch thần kinh 1 bên và lớn tuổi (> 70 tuổi). 

Trang 6

Khi  kiểm  tra  mối  tương  quan  giữa  chức 

năng cương và số bó mạch thần kinh được bảo 

tồn bằng phép kiểm Chi bình phương (p = 0,001 

<  0,05),  thấy  có  mối  liên  hệ  với  nhau.  Những 

bệnh  nhân  được  bảo  tồn  bó  mạch  thần  kinh  2 

bên thì phục hồi chức năng cương tốt hơn được 

bảo tồn 1 bên. 

Khi  kiểm  tra  mối  tương  quan  giữa  chức 

năng cương và độ tuổi bằng phép kiểm Chi bình 

phương (p = 0,017 < 0,05), thấy có mối liên hệ với 

nhau. Những bệnh nhân có độ tuổi càng nhỏ thì 

phục hồi chức năng tình dục rất tốt, những bệnh 

nhân lớn tuổi có khả năng phục hồi chậm hơn. 

BÀN LUẬN 

Rối loạn chức năng kiểm soát nước tiểu và 

rối loạn chức năng cương là những biến chứng 

thường  gặp  sau  phẫu  thuật  cắt  tuyến  tiền  liệt 

tận gốc. 

Chức năng kiểm soát nước tiểu 

Bảo tồn bó mạch‐thần kinh có hiệu quả rõ 

ràng  đối  với  chức  năng  kiểm  soát  nước  tiểu 

sau  mổ.  Những  bệnh  nhân  được  bảo  tồn  bó 

mạch  thần  kinh  2  bên  kiểm  soát  nước  tiểu  tốt 

hơn  1  bên.  Chúng  tôi  cũng  ghi  nhận  được 

những  người  có  độ  tuổi  thấp  (<  70  tuổi)  thì 

kiểm  soát  tốt  hơn  những  trường  hợp  có  độ 

tuổi cao hơn (> 70 tuổi). 

Bảng 8. Tham khảo chức năng đi tiểu sau cắt TTL 

tận gốc của các tác giả khác. 

Tác giả

Tỷ lệ không

có rối loạn

đi tiểu

Số bệnh nhân

Thời gian theo dõi (tháng)

Kessler TM (8)

Stanford JL(12) 91,6% 1291 18

Catalona WJ (2)

Tham khảo nghiên cứu của các tác giả trên, 

kết quả không có rối loạn đi tiểu của chúng tôi 

có hơi thấp hơn nhưng có thể chấp nhận được vì 

số lượng mẫu của chúng tôi còn ít và thời gian 

theo dõi còn ngắn. Theo thời gian, với tập luyện, 

thì khả năng kiểm soát đi tiểu sẽ cải thiện hơn. 

Tác giả có tỷ lệ không rối loạn đi tiểu thấp nhất 

(Stolzenburg  =  87,5%)(13),  có  thời  gian  theo  dõi  ngắn  (6  tháng)  và  tỷ  lệ  này  gần  với  tỷ  lệ  mà  chúng tôi đạt được. 

Chúng  tôi  nhận  thấy  khi  phẫu  thuật  bảo  tồn  bó  mạch  thần  kinh  được  2  bên  thì  bệnh  nhân sẽ kiểm soát nước tiểu tốt hơn tuy nhiên  vẫn có tác giả như Kessler TM(8) cho thấy ngay 

cả khi bảo tồn được cả 2 bên vẫn còn một tỷ lệ  rối loạn đi tiểu. 

Các kết quả trên chỉ có tính chất tham khảo 

vì còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố như: tuổi tác, 

kỹ thuật mổ, thời gian theo dõi  Điều kiện thực 

tế giữa các nghiên cứu là không giống nhau và  đặc  điểm  phân  bố  bệnh  nhân  của  từng  nghiên  cứu  cũng  không  tương  đồng.  Nhưng  từ  các  nghiên  cứu  này,  chúng  tôi  rút  ra  một  điểm  chung  là  kỹ  thuật  bảo  tồn  bó  mạch  thần  kinh  góp phần kiểm soát chức năng đi tiểu hiệu quả  hơn. 

Tình trạng đi tiểu sau mổ còn bị ảnh hưởng  bởi  các  yếu  tố  như  cơ  thắt  vân  không  bị  tổn  thương, bảo tồn được tối đa đoạn niệu đạo chức  năng(1,3). Hai yếu tố cần chú ý là việc bảo tồn bó  mạch thần kinh và tuổi tác. Phần thần kinh quan  trọng gồm các nhánh vùng chậu và nhánh thẹn  trong có ảnh hưởng nhiều đến tình trạng đi tiểu  sau này(4). Tuy nhiên không chỉ các nhánh thần  kinh đến phân bố vận động cho cơ thắt niệu đạo 

mà ngay cả các nhánh hướng tâm đến niệu đạo  màng cũng quan trọng không kém. Điều này đã  được  chứng  minh  trong  các  trường  hợp  giảm  cảm giác tại niệu đạo màng dễ bị rối loạn đi tiểu  sau mổ(1). 

Khi thao tác tại đám rối Santorini, các nút chỉ  cầm máu không nên cột quá xa chỗ nối niệu đạo 

và tuyến tiền liệt để tránh tổn thương cơ thắt. Để  cầm máu chỗ này chỉ cần 1 mối chỉ cột theo mặt  phẳng  ngang  giữa  đám  rối  tĩnh  mạch  và  niệu  đạo,  vuông  góc  với  củ  mu  để  cột  hết  đám  rối  Santorini nhưng không chạm đến cơ thắt ngoài. 

Tỷ  lệ  phục  hồi  sau  mổ  ở  những  bệnh  nhân  lớn  tuổi  thấp.  Các  nghiên  cứu  về  chức  năng  cơ  thắt của người lớn tuổi, độ dài cơ thắt và áp lực  đóng niệu đạo tối đa lúc nghỉ ngơi và trong lúc 

Trang 7

co  thắt  có  tự  chủ  giảm  dần  theo  tuổi.  Mặc  dù 

không  rõ  là  các  dữ  liệu  này  phản  ảnh  sự  thay 

đổi  bình  thường  theo  tuổi  tác  hay  một  bệnh  lý 

đường tiểu dưới đi kèm nhưng tầm quan trọng 

của tuổi đã được chứng minh bởi tuổi tác có liên 

quan  đến  việc  giảm  phân  bố  các  sợi  thần  kinh 

đến cơ chóp bàng quang(5,6). 

Chức năng tình dục 

Tổng số điểm IIEF‐5 trung bình trước mổ là 

21,43  ±  2,3  điểm.  Sau  phẫu  thuật  tổng  số  điểm 

IIEF‐5 trung bình là 18,21 ± 4,1 điểm. Sự thay đổi 

này  có  ý  nghĩa  thống  kê.  11/14  bệnh  nhân 

(78,6%)  còn  có  thể  cương  nhưng  chỉ  có  7/14 

(50%) phục hồi tốt: giữ nguyên khả năng cương 

như lúc đầu với tổng số điểm IIEF‐5 trung bình 

là 20,86 điểm, 4/14 bệnh nhân (28,6%) phục hồi 

chức  năng  cương  khá,  3/14  bệnh  nhân  (21,4%) 

phục hồi chức năng cương trung bình. 

Tham  khảo  các  nghiên  cứu  của  các  tác  giả 

khác về chức năng tình dục sau khi phẫu thuật 

cắt  tuyến  tiền  liệt  tận  gốc  có  bảo  tồn  bó  mạch 

thần kinh. 

Bảng 9. Tỷ lệ cương sau cắt TTL tận gốc của các tác giả. 

Tác giả Tỷ lệ cương sau

phẫu thuật

Thời gian theo dõi

Chang SS (3)

Catalona WJ(2) 98% 12 tháng

Nghiên cứu này 78,6% 6 tháng

Chúng  tôi  nhận  thấy  kết  quả  nghiên  của 

chúng  tôi  thấp  hơn  với  nghiên  cứu  của  các  tác 

giả trên là vì số lượng mẫu của chúng tôi còn ít 

và  thời  gian  theo  dõi  ngắn.  Những  bệnh  nhân 

được bảo tồn bó mạch thần kinh 2 bên và có độ 

tuổi thấp thì chức năng tình dục được phục hồi 

tốt hơn những bệnh nhân chỉ được bảo tồn 1 bên 

và có độ tuổi lớn. Catalona WJ(2), Quinlan DM(10) 

và Geary ES(5) cũng có nhận định tương tự. 

Các yếu tố như tuổi tác và tình trạng cương 

trước  phẫu  thuật  cũng  ảnh  hưởng  đến  kết  quả 

sau phẫu thuật(6). Nguyên nhân dẫn đến rối loạn 

cương  là  đa  dạng,  tuy  nhiên  yếu  tố  thần  kinh 

được xem là quan trọng nhất(6). 

Ở những người đàn ông trong độ tuổi hoạt  động tình dục, bảo tồn bó mạch thần kinh 2 bên 

sẽ đảm bảo chức năng cương đạt tỷ lệ 32 – 86% 

và nếu bảo tồn bó mạch thần kinh 1 bên thì tỷ lệ  này là 13 – 56%(4,9). 

Tuy nhiên, yếu tố mạch máu cũng đóng một  vai  trò  quan  trọng.  Những  người  đàn  ông  lớn  tuổi có vấn đề về tim mạch và bên cạnh đó quá  trình  phẫu  thuật  cũng  có  thể  ảnh  hưởng  đến  mạch máu nuôi dương vật(9). 

KẾT LUẬN 

Chức  năng  kiểm  soát  đi  tiểu:  việc  bảo  tồn 

bó mạch thần kinh có hiệu quả rõ ràng về kiểm  soát  đi  tiểu  và  bảo  tồn  chức  năng  tình  dục.  Những bệnh nhân được bảo tồn bó mạch thần  kinh 2 bên cho tỷ lệ đạt kết quả tốt hơn những  trường hợp bảo tồn được 1 bên. Hiệu quả còn  phụ thuộc vào độ tuổi của bênh nhân: ở những  bệnh  nhân  có  độ  tuổi  càng  trẻ,  phục  hồi  sau  phẫu  thuật  tốt  hơn  những  bệnh  nhân  có  độ  tuổi lớn hơn mặc dù có thể chỉ bảo tồn được 1  bên bó mạch thần kinh. 

Đây  mới  là  kết  quả  ban  đầu  của  việc  triển  khai kỹ thuật bảo tồn bó mạch‐thần kinh. Để có  kết quả thuyết phục cần phải tiến hành một thử  nghiệm với số lượng bệnh nhân lớn hơn và thời  gian theo dõi dài hơn. 

TÀI LIỆU THAM KHẢO 

1 Abel  EJ,  Masterson  TA,  Warner  JN,  Valentine  K,  Dechet  C.  Nerve‐sparing Prostatectomy and Urinary Function (2009). A  Prospective  Analysis  Using  Validated  Quality‐of‐life  Measures. Urology, 73(6): 1336‐1340. 

2 Catalona  WJ,  Carvalhal  GF,  Mager  DE,  Smith  DS  (1999).  Potency, continence and complication rates in 1870 consecutive 

radical retropubic prostatectomies. J Urol, 162(2): 433‐438. 

3 Chang SS, Peterson M, Smith JA Jr (2001). Intraoperative nerve 

stimulation predicts postoperative potency. Urology, 58(4): 594‐

597. 

4 Dubbelman  YD,  Dohle  GR,  Schroeder  FH  (2006).  Sexual  function  before  and  after  radical  retropubic  prostatectomy:  a  systematic  review  of  prognostic  indicators  for  a  successful 

outcome. Eur Urol, 50: 711‐720. 

5 Geary ES, Dendinger TE, Freiha FS, Stamey TA (1995). Nerve 

sparing  radical  prostatectomy:  a  different  view.  J  Urol,  154: 

145‐149. 

6 Gilpin  SA,  Gilpin  CJ,  Dixon  JS,  Gosling  JA  and  Kirby  RS  (1986).  The  effect  of  age  on  the  autonomic  innervation  of  the 

urinary bladder. BJU, 58: 378‐381. 

Trang 8

7 Girgin C, Oder M, Sahin MO, Sezer  A,  Berkmen  S,  Aydin  R, 

Dincel  C.  (2006).  Erection  and  Ejaculation‐Preserving 

Cystectomy With Orthotopic Urinary Diversion: Is It Feasible? 

J Androl, 27(2): 263‐267. 

8 Kessler  TM,  Burkhard  FC,  Studer  UE  (2007).  Nerve‐Sparing 

Open Radical Retropubic Prostatectomy. Eur Urol, 51: 90‐97. 

9 Michl  UH,  Friedrich  MG,  Graefen  M,  Haese  A,  Heinzer  H, 

Huland H  (2006).  Prediction  of  postoperative  sexual  function 

after  nerve  sparing  radical  retropubic  prostatectomy.  J  Urol, 

176: 227‐231. 

10 Quinlan  DM,  Epstein  JI,  Carter  BS,  Walsh  PC  (1991).  Sexual 

function  following  radical  prostatectomy:  influence  of 

preservation of neurovascular bundles. J Urol, 145(5): 998‐1002. 

11 Rosen RC, Cappelleri JC, SmithMD, et al (1999). Development 

and  evaluation  of  an  abridged,  5‐item  version  of  the 

International Index of Erectile Function (IIEF‐5) as a diagnostic 

tool for erectile dysfunction. Int J Impotence Res, 11: 319–326. 

12 Stanford  JL,  Feng  Z,  Hamilton  AS,  Gilliland  FD,  Stephenson 

RA,  Eley  JW,  Albertsen  PC,  Harlan  LC,  Potosky  AL  (2000). 

Urinary  and  sexual  function  after  radical  prostatectomy  for 

clinically localized prostate cancer. JAMA, 283(3): 354‐360. 

13 Stolzenburg  JU,  Liatsikos  EN,  Rabenalt  R,  Minh  D,  Sakelaropoulos G, Horn LC, Truss MC (2006). Nerve Sparing  Endoscopic  Extraperitoneal  Radical  Prostatectomy–  Effect  of  Puboprostatic Ligament Preservation on Early Continence and 

Positive Margins. Eur Urol, 49: 103‐112. 

14 Walsh  PC,  Donker  PJ  (1982).  Impotence  following  radical 

prostatectomy:  insight  into  etiology  and  prevention.  J  Urol, 

128: 492‐497. 

15 Walsh  PC,  Partin  AW  (2007).  Anatomic  radical  retropubic 

prostatectomy.  In  Campbell‐Walsh Urology,  9th   edition,  chapter 

97. 

 

 

Ngày đăng: 22/01/2020, 01:59

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w