1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Vận động thể lực và hoạt động tĩnh ở học sinh cấp 2 Thành phố Hồ Chí Minh

10 100 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 10
Dung lượng 451,52 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nghiên cứu có mục tiêu nhằm mô tả vận động thể lực và hoạt động tĩnh của học sinh cấp 2 Thành phố Hồ Chí Minh. Nghiên cứu được thực hiện trong tháng 11 và 12, năm 2004, 2715 học sinh cấp 2 tại địa bàn TP.HCM.

Trang 1

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH  

Tăng Kim Hồng*  

TÓM TẮT 

Mục tiêu: Mô tả vận động thể lực và hoạt động tĩnh của học sinh cấp 2 TPHCM. 

Phương pháp: Một nghiên cứu cắt ngang được thực hiện trong tháng 11 và 12, năm 2004. 2715 học sinh  cấp 2 được chọn vào mẫu nghiên cứu bằng phương pháp chọn mẫu cụm nhiều bậc theo PPS và được phỏng vấn  bằng bảng câu hỏi. Thời gian dành cho hoạt động thể lực với cường độ trung bình tới nặng, việc di chuyển đi lại  cũng như thời gian dành cho màn ảnh nhỏ được tính cho mỗi học sinh theo số phút/ngày và sau đó được phân  loại dựa theo khuyến cáo dành cho vận động thể lực và hoạt động tĩnh. Hồi quy logistic đa biến được áp dụng để  khảo sát mối liên quan giữa thời gian dành vận động thể lực, xem tivi/chơi game và việc đi đến trường/về nhà  với các yếu tố kinh tế‐xã hội. 

Kết quả: Học sinh dành ít thời gian cho hoạt động thể lực trong lúc nghỉ hè hơn lúc đi học (35 phút/ngày 

với 43 phút/ngày). Nam sinh dành nhiều thời gian cho vận động thể lực (40,2 đến 48,2 phút/ngày) hơn nữ (29,4  đến 31,6 phút/ngày) cả trong lúc đi học lẫn lúc nghỉ hè. Thời gian dành cho việc học ngoài giờ (làm bài tập ở nhà  hay đi học thêm) vào khoảng 135 phút/ngày. Nữ sinh và nhóm trẻ lớn có xu hướng dành nhiều thời gian cho việc  học. Phân tích hồi quy logistic đa biến cho thấy khả năng di chuyển chủ động ở nam và nữ đều tăng lên theo tuổi,  cao nhất ở nhóm tuổi lớn (≥ 14 tuổi) (OR nam  = 2,9, KTC 95%: 1,4, 6,0; OR nữ  = 3,2, KTC 95%: 1,3, 4,1). Ngược  lại với tuổi, khả năng di chuyển chủ động ở nam và nữ đều giảm ở trẻ có kinh tế gia đình khá giả và thấp nhất ở  nhóm trẻ có kinh tế gia đình gia đình khá giả nhất (OR nam  = 0,5, KTC 95%: 0,2, 1,1, OR nữ  = 0,3, KTC 95%: 0,2,  0,5). 

Kết luận: Nam sinh hoạt động thể lực nhiều hơn nữ. Trẻ ở những gia đình khá giả càng ít vận động thể lực 

hơn.  

Từ khóa: Vận động thể lực, Hoạt động tĩnh, Di chuyển, Yếu tố kinh tế‐xã hội 

ABSTRACT 

PHYSICAL ACTIVITY AND SEDENTARY BEHAVIORS AMONG JUNIOR HIGH SCHOOL 

STUDENTS OF HOCHIMINH CITY   Tang Kim Hong * Y Hoc TP. Ho Chi Minh * Vol. 17 ‐ Supplement of No 3 ‐ 2013: 191 ‐ 200 

Objective:  To  describe  PA  and  sedentary  behaviors  of  junior  high  school  students  of  Ho  Chi  Minh  City 

(HCMC). 

Methods: A cross‐sectional study was conducted between November and December 2004. 2715 junior high 

school  students  were  selected  using  multistage  cluster  sampling  with  PPS  method  and  were  interviewed  by  questionnaires.  Time  spent  in  moderate  to  vigorous  physical  activities,  transportation  as  well  as  small  screen  view  were  calculated  for  each  student  in  minutes  per  day,  and  then  were  categorized  based  on  the  recommendations  on  PA  and  sedentary  behaviors.  Multiple  logistic  regressions  were  used  to  examine  associations between levels of time spent for sedentary, physical activity, transportation and socio‐demographic  factors. 

* Bộ môn Dịch tễ học Cơ bản – Dân số học, Đại học Y khoa Phạm Ngọc Thạch 

Trang 2

Results:  Students  spent  less  time  in  physical  activities  in  summer  holidays  than  in  school  term  (35 

mins/day vs. 43 mins/day). Boys spent more physical activities time (40.2 to 48.2 mins/day) than girls (29.4 to  31.6  mins/day)  both  in  summer  holidays  and  school  term.  Time  spent  studying  after  class  (homework  and  attending extra tutorials) was on average 135 minutes per day. Girls and the older age group tended to spend  more time studying. Multiple logistic regression showed that the odds of active transportation in boys and girls  were increased as the age increased and the highest was found in the oldest age group (≥ 14 years old) (OR male  =  2.9,  95%  CI:  1.4,  6.0;  OR female   =  3.2,  95%  CI:  1.3,  4.1,  respectively).  In  contrast  to  age,  the  odds  of  active  transportation in boys and girls were decreased as the wealth index increased and lowest in the richest group:  (OR male  = 0.5, 95% CI: 0.2, 1.1, OR female  = 0.3, 95% CI: 0.2, 0.5, respectively). 

Conclusions: Male did more PA than female and students in more wealthy families were less active than 

students from the less wealthy ones. 

Key words: Physical activity, sedentary behaviors, Transportation, Socio‐economic factors 

ĐẶT VẤN ĐỀ 

Trong  vài  năm  qua,  ở  Thành  phố  Hồ  Chí 

Minh  (TPHCM),  thừa  cân‐béo  phì  đang  ngày 

càng tăng lên ở mọi độ tuổi, đặc biệt là ở trẻ vị 

thành niên(12,17), do sự phát triển nhanh chóng về 

mọi mặt, đặc biệt là kinh tế‐xã hội. Vận động thể 

lực đóng vai trò quan trọng trong việc gia tăng 

tỷ lệ thừa cân‐béo phì. Tuy nhiên, vận động thể 

lực  và  hoạt  động  tĩnh  của  trẻ  vị  thành  niên 

TPHCM chưa được khảo sát và công bố nhiều. 

Kết  quả  nghiên  cứu  từ  nhiều  nước  châu  Á 

khác nhau đã cho chúng ta thấy một bức tranh 

mô  tả  mức  độ  thiếu  hoạt  động  thể  lực  ở  trẻ  vị 

thành  niên  và  đã  chứng  minh  được  mối  liên 

quan giữa vận động thể lực với tuổi, giới và các 

yếu tố kinh tế‐xã hội(22,19,20,21). Rõ ràng, có một xu 

hướng giảm vận động thể lực và tăng việc thiếu 

vận  động  ở  nhiều  nước(6,7,10)  và  các  yếu  tố  môi 

trường  sống  ở  nhà,  ở  trường  đặc  biệt  có  liên 

quan với hoạt động thể lực của trẻ em(8).  

Mục đích của bài báo này là nhằm mô tả vận 

động thể lực, hoạt động tĩnh và việc di  chuyển 

(đi  học)  đến  trường/về  nhà  của  học  sinh  cấp  2 

TPHCM và khảo sát sự khác biệt theo các yếu tố 

kinh tế‐xã hội. 

PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 

Thiết kế nghiên cứu 

Một  nghiên  cứu  cắt  ngang  được  thực  hiện 

trong tháng 11 và 12 năm 2004, với mẫu đại diện 

là học sinh từ lớp 6 đến lớp 9 (tuổi từ 11 đến 16) 

thuộc các trường cấp II nội thành TPHCM. Mẫu  được  chọn  bằng  phương  pháp  chọn  mẫu  cụm  nhiều bậc với xác suất tỷ lệ với độ lớn của cụm  (Propability Proportionate to Size – PPS). Khung  chọn  mẫu  là  140  trường  cấp  II  thuộc  các  quận  nội thành TPHCM, bao gồm 47 trường thuộc các  quận  nội  thành  giàu  và  93  trường  thuộc  các  quận  nội  thành  còn  lại.  Nghiên  cứu  được  Hội  đồng  Khoa  học  trường  Đại  học  Y  khoa  Phạm  Ngọc  Thạch  và  Hội  đồng  y  đức  của  Đại  học  Newcastle thông qua. Tất cả học sinh đều được  phỏng vấn với bảng câu hỏi soạn sẵn trong vòng 

15  phút  tại  lớp  học.  Ngoài  ra,  1  bảng  câu  hỏi  khảo  sát  môi  trường  sinh  hoạt  tại  trường  cũng  được gởi cho đại diện nhà trường trả lời. Các số  liệu  thu  thập  trong  bảng  câu  hỏi  này  bao  gồm:  diện  tích  sân  trường,  số  tiết  học,  môn  thể  thao  được dạy/chơi tại trường, phòng tập/sân chơi và  điều  kiện  sử  dụng  các  phòng  tập/sân  chơi  ở  trường,  loại  thực  phẩm  được  bán  tại  căn  tin  v.v… Phụ huynh cũng được gởi 1 bảng câu hỏi 

để trả lời về 14 loại vật dụng có trong nhà nhằm  đánh  giá  tình  trạng  kinh  tế  gia  đình  (bao  gồm  điện thoại, radio, đầu máy video, đầu máy CD,  đầu máy DVD, máy lạnh, tủ lạnh, máy tính, bếp 

ga, lò vi sóng xe đạp, xe gắn máy, xe hơi, tivi), số  người  trong  gia  đình,  nghề  nghiệp  và  trình  độ  học vấn cha mẹ.  

Vận động thể lực 

Bảng câu hỏi khảo sát vận động thể lực của  trẻ vị thành niên Việt Nam được phát triển dựa  trên bảng câu hỏi về hoạt động thể lực của trẻ vị 

Trang 3

thành  niên  Úc(3) và  được  định  giá  trước  khi  áp 

dụng tại Việt Nam(18). Học sinh được hỏi về các 

hoạt  động  thể  lực  có  tổ  chức  và  không  tổ  chức 

trong một tuần bình thường. Với mỗi hoạt động, 

học sinh sẽ trả lời về tần suất và thời gian thực 

hiện. Hoạt động thể lực của học sinh cũng được 

chia  ra  trong  năm  học  (9  tháng)  và  trong  lúc 

nghỉ  hè  (3  tháng).  Phương  tiện  và  thời  gian  di 

chuyển  từ  nhà  đến  trường  và  ngược  lại  trong 

một tuần bình thường cũng được ghi nhận.  

Hoạt động tĩnh 

Học  sinh  cũng  được  hỏi  về  thời  gian  dành 

các hoạt động tĩnh vào mỗi ngày trong tuần và 

ngày cuối tuần, bao gồm thời gian xem tivi, chơi 

game, học thêm v.v… 

Phân tích số liệu 

Số  liệu  được  phân  tích  bằng  phần  mềm 

STATA 12 và lệnh “svy” (lệnh dành cho điều tra 

cắt ngang) được sử dụng để hiệu chỉnh cho ảnh 

hưởng của thiết kế chọn mẫu cụm. Để đánh giá 

kinh tế gia đình, phương pháp phân tích thành 

phần chủ yếu được áp dụng để tính hệ số riêng 

cho mỗi loại đồ vật(9). Điểm số kinh tế gia đình 

của  mỗi  học  sinh  là  tổng  điểm  có  được  từ  các 

loại đồ vật trong nhà cộng lại. Chỉ số khối cơ thể 

(BMI) được tính bằng công thức cân nặng/(chiều 

cao)2 và được phân nhóm thành thừa cân và béo 

phì  theo  định  nghĩa  của  IOTF( 14 )  và  thiếu  cân 

được  phân  loại  theo  Tim  Cole(4).  Tóm  lại,  BMI 

được  chia  thành  3  nhóm:  thiếu  cân,  cân  nặng 

bình thường, và thừa cân‐béo phì. 

Trung  vị  và  khoảng  tứ  phân  vị  (IQR)  được 

dùng  để  trình  bày  cho  thời  gian  dành  cho  vận 

động  thể  lực  và  hoạt  động  tĩnh  (phút/ngày). 

Thời gian dành cho mỗi hoạt động sẽ được tính 

bằng  cách  nhân  số  lần  tham  gia  với  thời  gian 

mỗi  lần  tham  gia  và  với  “hệ  số  điều  chỉnh” 

(được  tính  từ  thời  gian  trong  lúc  đi  học‐36/54 

hay lúc nghỉ hè‐18/54). Mỗi hoạt động đều có 1 

MET nhất định (kcals/kg/phút) theo bảng liệt kê 

METs của các hoạt động thể lực dành cho trẻ vị 

thành niên(1). Vận động thể lực được xem là đủ 

khi mỗi ngày trẻ dành ít nhất 60 phút cho hoạt 

động cường độ trung bình (3,5 – 5,9 METs) đến  nặng (VPA) (METs ≥ 6,0)(16). Thời gian dành cho  màn  ảnh  nhỏ  (xem  tivi/chơi  game)  được  chia  thành 2 nhóm < 2giờ và ≥ 2 giờ(2). Trẻ được xem 

là di chuyển chủ động khi trẻ đi đến trường/về  nhà  bằng  xe  đạp  hay  đi  bộ  hoặc  cả  2  phương  tiện ít nhất 4 ngày/tuần. 

Sự khác biệt về thời gian dành cho vận động  thể lực và hoạt động tĩnh theo giới, nhóm tuổi,  kinh tế gia đình và phân loại BMI được so sánh  bằng  test  Mann‐Whitney  hay  Krusal‐Wallis,  do  thời  gian  dành  cho  vận  động  thể  lực  và  hoạt  động  tĩnh  không  có  phân  phối  bình  thường  (normal  distribution).  Phương  trình  hồi  qui  logistic đa biến được áp dụng để đánh giá mối  liên  quan  giữa  việc  vận  động  thể  lực  đủ/thiếu,  xem  tivi,  chơi  game  nhiều/ít,  và  đi  đến  trường/về  nhà  thụ  động  hay  chủ  động  với  các  yếu tố dân số‐xã hội. Chỉ những biến số có liên  quan  một  cách  có  ý  nghĩa  trong  phân  tích  đơn  biến (p < 0,25) mới được giữ lại đưa vào mô hình 

đa biến. 

KẾT QUẢ 

Điều tra được thực hiện trên 2.715 học sinh 

từ 31 trường, với số học sinh lớp 6, lớp 7, lớp 8,  lớp 9 lần lượt là 618, 755, 822 và 520, trong đó có  2.684 có đầy đủ số liệu (chiếm tỷ lệ 98,9%).   Thời  gian  dành  cho  việc  xem  màn  ảnh  nhỏ  được mô tả ở bảng 1. Nam dành nhiều thời gian  xem  tivi,  chơi  game  hơn  nữ  (85,7  phút/ngày  so  với 43,3 phút/ngày, p<0,001). Thời gian dành cho  xem  tivi,  chơi  game  vi  tính  khác  biệt  giữa  các  nhóm tuổi, tình trạng kinh tế gia đình, và phân  loại  BMI  trong  mỗi  giới.  Thời  gian  dành  cho  màn ảnh nhỏ nhiều (hơn 2giờ/ngày) có liên quan  với  tình  trạng  kinh  tế  gia  đình  ở  cả  2  giới  (p=0,002  và  0,013  cho  nam  và  nữ).  Ở  nữ,  thời  gian  dành  cho  màn  ảnh  nhỏ  còn  liên  quan  với  tình trạng thừa cân‐béo phì (ORhiệu chỉnh = 1,8, KTC  95%:  1,1,  3,1).  Ở  nam,  kinh  tế  gia  đình  có  liên  quan  với  thời  gian  dành  cho  màn  ảnh  nhỏ  (ORhiệu chỉnh = 2,1, KTC 95: 1,3, 3,1). 

Trang 4

trạng vận động thể lực  

Số

lượng

Xem tivi (phút/

ngày)

Chơi game (phút/

ngày)

Toàn bộ thời gian cho màn ảnh nhỏ a (phút/ ngày)

OR * (dành ≥

120 phút/

ngày cho xem màn ảnh nhỏ (KTC 95%)

Số lượng

Xem tivi (phút/

ngày)

Chơi game (phút/

ngày)

Toàn bộ thời gian cho màn ảnh nhỏ a (phút/ngày)

OR * (dành ≥

120 phút/ ngày cho xem màn ảnh nhỏ (KTC 95%)

Trung vị (IQR)

Trung vị (IQR)

Trung vị (IQR)

Trung vị (IQR)

Trung vị (IQR)

Trung vị (IQR)

Tổng

(13,6, 42,9)

(25,7,

Tuổi

≤ 11

(13,6,

12

(13,6, 42,9)

(25,7,

13

(13,6, 42,9)

(21,4,

(17,1,

≥ 14

(13,6,

Kinh tế gia đình

Nghèo

nhất

(Ngũ

phân vị

thứ 1)

(13,1, 32,1)

(8,6,

Ngũ

phân vị

thứ 2

(13,6,

Ngũ

phân vị

thứ 3

(13,6, 42,9)

(27,9,

Ngũ

phân vị

thứ 4

(13,6, 25,7)

(25,7,

(17,1,

Giàu

nhất

(Ngũ

phân vị

thứ 5)

(23,6, 77,1)

(25,7,

(18,2,

Phân loại BMI

Bình

thường

(13,6,

Thiếu

cân

(13,6,

Thừa

cân-béo

Trang 5

Nam Nữ

Số

lượng

Xem tivi (phút/

ngày)

Chơi game (phút/

ngày)

Toàn bộ thời gian cho màn ảnh nhỏ a (phút/ ngày)

OR * (dành ≥

120 phút/

ngày cho xem màn ảnh nhỏ (KTC 95%)

Số lượng

Xem tivi (phút/

ngày)

Chơi game (phút/

ngày)

Toàn bộ thời gian cho màn ảnh nhỏ a (phút/ngày)

OR * (dành ≥

120 phút/

ngày cho xem màn ảnh nhỏ (KTC 95%)

Trung vị (IQR)

Trung vị (IQR)

Trung vị (IQR)

Trung vị (IQR)

Trung vị (IQR)

Trung vị (IQR)

MVPA

< 60

phút/

ngày

(13,6, 42,9)

(30,0,

≥ 60

phút/

ngày

(13,6, 60,0) 110,0) (25,7, (81,4, 187,1) (0,5, 1,8) (13,6, 43,6) (10,0, 83,6) (57,9, 158,6) (0,7, 1,5)

IQR = tứ phân vị; MVPA = Thời gian hoạt động thể lực cường độ trung bình đến nặng  a  Thời gian dành cho xem tivi, chơi 

game,  *  Hiệu chỉnh cho các yếu tố khác trong bảng 

Bảng 2: Thời gian dành cho hoạt động thể lực cường độ trung bình đến nặng hàng ngày (MVPA) của nam 

và nữ theo giới, kinh tế gia đình, phân loại BMI và mức độ thời gian dành cho xem màn ảnh nhỏ trong năm 

học và trong lúc nghỉ hè 

Số

học

sinh

Trong năm học

Lúc nghỉ hè OR* cho

HĐTL ≥ 60 phút/ ngày (KTC 95%)

Số học sinh

Trong năm học

Lúc nghỉ hè HĐTL ≥ 60 OR* cho

phút/

ngày (KTC 95%)

Số học sinh

Trong năm học

Lúc nghỉ

OR* cho HĐTL ≥

60 phút/

ngày (KTC 95%)

Trung vị (IQR)

Trung vị (IQR)

Trung vị (IQR)

Trung vị (IQR)

Trung vị (IQR)

Trung vị (IQR)

Chung

(34,5,

Tuổi

≤ 11 tuổi

(53,9,

12 tuổi

(31,5, 58,4)

(25,3, 60,4) (3,5, 30,1)

(19,9, 65,9)

(23,1, 56,2) (0,7, 1,8)

(23,4, 59,5)

(24,8, 58,5) (1,0, 2,2)

13 tuổi

(30,6, 51,0)

(18,4, 52,4) (6,3, 59,7)

(13,4, 52,3)

(17,8, 53,1) (1,5, 3,3)

(16,2, 51,2)

(18,0, 52,7) (1,9, 14,0)

≥ 14 tuổi

(30,2, 47,8) (13,8, 44,2) (14,2, 108,9) (11,7, 35,9) (16,4, 77,1) (1,8, 7,1) (14,3, 47,1) (11,9, 44,2) (3,4, 8,9)

Kinh tế gia đình

Nghèo

nhất

(Ngũ

phân vị

thứ 1)

(37,8, 58,0)

(25,3,

(15,3, 55,3)

(17,7,

(21,0, 57,1)

(21.0,

Ngũ

phân vị

thứ 2

(34,2, 58,8)

(22,6,

(19,9, 53,0)

(16,5, 54,1) (0,4, 1,7)

(26,0, 57,2)

(18.7, 55.8) (0,5, 1,4) Ngũ

phân vị

Trang 6

Nam Nữ Chung

Số

học

sinh

Trong năm học

Lúc nghỉ hè OR* cho

HĐTL ≥ 60 phút/ ngày (KTC 95%)

Số học sinh

Trong năm học

Lúc nghỉ hè HĐTL ≥ 60 OR* cho

phút/

ngày (KTC 95%)

Số học sinh

Trong năm học

Lúc nghỉ

OR* cho HĐTL ≥

60 phút/

ngày (KTC 95%)

Trung vị (IQR)

Trung vị (IQR)

Trung vị (IQR)

Trung vị (IQR)

Trung vị (IQR)

Trung vị (IQR)

Ngũ

phân vị

thứ 4

(32,8, 59,9)

(4,3,

(18,0, 61,0)

(21,4, 107,1) (0,7, 2,2)

(22,0, 60,0)

(1.1, 47.1) (0,9, 12,3) Giàu

nhất

(Ngũ

phân vị

thứ 5)

(34,6, 58,5)

(1,1,

(15,2, 67,8)

(26,4, 111,4) (0,5, 1,2)

(24,5, 60,6)

(1.1, 42.9) (0,6, 1,1)

Phân loại BMI

Bình

thường

(33,0, 57,5)

(22,6,

(16,6, 59,1)

(16,8,

(22,0, 58,0)

(18,7,

Thiếu

cân

(33,7, 57,0)

(24,1,

(14,5, 34,5)

(25,7, 49,2) (0,5, 4,5)

(18,7, 52,7)

(24,2, 49,9) (0,7, 2,8) Thừa

cân-béo

phì

(40,7, 66,0) (27,2, 62,5) (0,5, 1,5) (18.6, 65,9) (16,8, 47,7) (0,8, 1,9) (32,8, 66,0) (23,2, 59,7) (0,5, 1,6)

Thời gian dành cho màn ảnh nhỏ

< 120

phút/

ngày

(33,7,

≥ 120

phút/

ngày

(36,7, 58,1) (22,7, 61,8) (0,5, 1,5) (15,3, 60,6) (17,9, 49,2) (0,8, 1,4) (22,1, 58,8) (20,5, 56,8) (0,9, 1,8)

IQR = tứ phân vị 

*  Hiệu chỉnh cho các yếu tố khác trong bảng 

Bảng 2 cho thấy trung vị thời gian dành cho 

vận động thể lực cường độ trung bình đến nặng 

là  khoảng  88  và  78  phút/  ngày  ở  nam  và  nữ. 

Nam dành nhiều thời gian cho vận động thể lực 

hơn nữ cả trong thời gian đi học lẫn lúc nghỉ hè 

(nam: 48,2 và 40,2 phút/ngày trong thời gian đi 

học và trong lúc nghỉ hè so với nữ là 43,0 và 35,0 

phút/  ngày).  Thời  gian  dành  cho  vận  động  thể 

lực  ở  nam  luôn  cao  hơn  nữ  ở  mọi  độ  tuổi 

(p<0,001).  Trẻ  học  lớp  lớn  ít  vận  động  hơn  trẻ 

học lớp nhỏ, cả trong lúc đi học lẫn lúc nghỉ hè. 

Tuy nhiên, thời gian dành cho vận động thể lực  (cường độ trung bình đến nặng) thay đổi không 

có  ý  nghĩa  theo  mức  độ  kinh  tế  gia  đình,  phân  loại BMI, hay thời gian dành cho màn ảnh nhỏ  nhiều  hay  ít.  Mô  hình  hồi  quy  logistic  đa  biến  cho  thấy  sau  khi  kiểm  soát  cho  các  yếu  tố  gây  nhiễu khác, nhóm tuổi có liên quan một cách có 

ý nghĩa với thời gian dành cho vận động thể lực  cường độ trung bình đến nặng ở cả 2 giới.  

Bảng 3: Tỷ lệ di chuyển chủ động và thụ động của nam và nữ theo tuổi, kinh tế gia đình, phân loại BMI, tình 

trạng vận động thể lực và mức độ thời gian dành cho xem màn ảnh nhỏ 

Số học sinh

Tỷ lệ % di chuyển chủ động a

Tỷ lệ % di chuyển thụ động b

OR * cho di chuyển chủ động (KTC 95%)

Số học sinh

Tỷ lệ % di chuyển chủ động a

Tỷ lệ % di chuyển thụ động b

OR * cho di chuyển chủ động (KTC 95%)

Trang 7

Nam Nữ

Số học sinh

Tỷ lệ % di chuyển chủ động a

Tỷ lệ % di chuyển thụ động b

OR * cho di chuyển chủ động (KTC 95%)

Số học sinh

Tỷ lệ % di chuyển chủ động a

Tỷ lệ % di chuyển thụ động b

OR * cho di chuyển chủ động (KTC 95%)

Nghèo nhất

(Ngũ phân vị thứ 1)

Giàu nhất

(Ngũ phân vị thứ 5)

Thời gian dành cho màn ảnh nhỏ

IQR = tứ phân vị; MVPA = Thời gian hoạt động thể lực cường độ trung bình đến nặng. a Đi bộ/đạp xe b Được  chở bằng xe gắn máy/xe hơi.  *  Hiệu chỉnh cho các yếu tố khác trong bảng 

Bảng  3  mô  tả  tỷ  lệ  học  sinh  đi  đến 

trường/về  nhà  chủ  động.  Chỉ  30  đến  32%  trẻ 

nam và nữ di chuyển chủ động, trong đó tỷ lệ 

nam  sinh  đi  bộ,  đi  xe  đạp  hoặc  dùng  cả  2 

phương tiện lần lượt là 2%, 13%, và 15%, trong 

khi ở nữ sinh là 3%, 15% và 15%. Không có sự 

khác biệt có ý nghĩa trong các loại phương tiện 

di  chuyển  giữa  nam  sinh  và  nữ  sinh.  Trung  bình học sinh dành 15 phút mỗi ngày cho việc 

đi đến trường và về nhà (số liệu không trình bày  trong bài báo này). Nhóm học sinh lớp lớn có tỷ 

lệ di chuyển chủ động cao hơn nhóm học sinh  lớp nhỏ hơn. Bảng 3 cũng cho thấy ở cả 2 giới,  học sinh từ các gia đình kinh tế khó khăn hơn 

Trang 8

thì  thường  đi  bộ  hay  đi  xe  đạp  đến  trường. 

Tuy nhiên, sự khác biệt này không có ý nghĩa 

về  mặt  thống  kê.  Ngoài  ra,  trẻ  thừa  cân  thì 

được cha mẹ đưa đi học bằng xe gắn máy hay 

xe hơi nhiều hơn trẻ có cân nặng bình thường 

(75,2%  so  với  68,4%  ở  nam  và  65,8%  so  với 

67,6%  ở  nữ).  Cả  2  mô  hình  ở  nam  và  nữ  đều 

cho  thấy  nhóm  tuổi  và  tình  trạng  kinh  tế  gia 

đình liên quan một cách có ý nghĩa với việc di 

chuyển  chủ  động.  Khả  năng  di  chuyển  chủ 

động đều tăng khi tuổi tăng ở cả nam lẫn nữ, 

trong đó khả năng cao nhất được thấy ở nhóm 

tuổi  lớn  nhất  (≥  14  tuổi)  (OR  =  2,9,  KTC  95%: 

1,4, 6,0 ở nam và OR = 3,2, KTC 95%: 1,3, 4,1 ở 

nữ). Ngược lại, khả năng di chuyển chủ động 

ở nam và nữ đều giảm trong nhóm kinh tế gia 

đình  khá  giả,  trong  đó  khả  năng  thấp  nhất 

được thấy ở nhóm có kinh tế gia đình khá nhất 

(OR = 0,5, KTC 95%: 0,2, 1,1 ở nam và OR = 0,3, 

KTC 95%: 0,2, 0,5 ở nữ). 

BÀN LUẬN VÀ KẾT LUẬN 

Trong  nghiên  cứu  này,  chúng  tôi  ghi  nhận 

thời  gian  dành  cho  học  ngoài  giờ  (làm  bài  tập 

hay đi học thêm) là khoảng 135 phút/ngày. Nữ 

sinh và trẻ học lớp lớn có xu hướng dành nhiều 

thời  gian  cho  việc  học  ngoài  giờ  hơn  nam  sinh 

và trẻ lớp nhỏ. Xét riêng ở trẻ nữ, nhóm trẻ lớn 

tuổi  hơn  càng  ít  vận  động  thể  lực  hơn.  Ở  trẻ 

nam,  trình  độ  học  vấn  cao  của  cha  mẹ  có  liên 

quan với việc vận động thể lực ít của trẻ. 

Mức độ vận động thể lực thấp và các yếu tố 

dân số‐xã hội có liên quan của trẻ vị thành niên 

TPHCM tương tự như kết quả được tìm thấy ở 

tỉnh  Tứ  Xuyên,  Trung  quốc(15).  Cũng  như  Việt 

Nam,  học  sinh  Trung  Quốc  cũng  được  cho  là 

phải  chịu  áp  lực  về  thành  tích  học  tập,  và  đó 

cũng là lý do giải thích việc dành nhiều thời gian 

hơn cho việc học tập và ít xem tivi ở trẻ. Trong 

nghiên  cứu  của  chúng  tôi,  thời  gian  dành  cho 

việc  xem  tivi  và  chơi  game  của  học  sinh  cấp  II 

TPHCM ít hơn kết quả khảo sát ở trẻ Mã lai và 

Philippines (33,5% trẻ em trong nghiên cứu này 

xem  tivi  hơn  2  giờ  mỗi  ngày  trong  khi  con  số 

này  ở  trẻ  em  Mã  lai  là  44,8%  và  ở  trẻ  em 

Philippines là 48%)(20,21). Điều này có thể là do trẻ 

em Việt Nam dành nhiều thời gian cho việc học  ngoài giờ hơn. Kết quả này cho thấy thực sự trẻ 

em Việt Nam đang chịu một gánh nặng rất lớn 

về việc học và loại “hoạt động tĩnh” này dường  như là một yếu tố góp phần đáng kể vào vấn đề  thừa cân‐béo phì của trẻ em Việt Nam.  

Việc di chuyển đến trường/về nhà một cách  thụ  động  chiếm  khá  đông  (69%)  trong  nghiên  cứu  này.  Vì  học  sinh  Việt  Nam  chịu  áp  lực  rất  lớn  và  phải  dành  nhiều  thời  gian  cho  việc  học  ngoài  giờ,  cho  nên  để  tiết  kiệm  thời  gian  di  chuyển cha mẹ thường đưa con em đi học bằng 

xe  máy/xe  hơi.  Điều  này  càng  làm  giảm  thời  gian  dành  cho  vận  động  thể  lực  và  càng  làm  tăng  mức  độ  không  vận  động  ở  trẻ.  Hơn  nữa,  cha  mẹ  có  trình  độ  học  vấn  cao  càng  có  xu  hướng  chú  ý  đến  việc  học  của  con  và  càng  khuyến  khích  con  học  thêm,  hơn  là  dành  thời  gian  cho  việc  vận  động,  chơi  thể  thao.  Chính  điều  này  giải  thích  lý  do  tại  sao  tỷ  lệ  trẻ  thiếu  hoạt động thể lực cao hơn ở nhóm có cha mẹ có  trình độ học vấn cao. Tương tự như kết quả từ  nghiên  cứu  bên  Trung  Quốc (19),  trong  nghiên  cứu của chúng tôi, trẻ học lớp lớn thì càng có xu  hướng  đi  bộ/đi  xe  đạp  đến  trường/về  nhà.  Có  thể vì cha mẹ cảm thấy không an tâm khi để trẻ  nhỏ tự đi học khi đường phố Việt Nam còn quá  nhiều  rủi  ro  và  tai  nạn  giao  thông  dường  như  chưa được kiểm soát tốt trong những năm vừa  qua.  

Một  số  nghiên  cứu  ở  những  nước  phương  Tây đã thấy rằng học sinh từ các gia đình có thu  thập thấp thường có xu hướng ít vận động. Đó 

là  vì  các  em  này  ít  có  tiền  để  tiếp  cận/chơi  thể  thao  ở  những  sân  tập/bãi  tập  (thường  phải  trả  tiền)(13,11). Ngược lại, ở Việt Nam trẻ em từ các gia  đình giàu có lại ít vận động hơn. Đó có thể là vì  cha mẹ của các em thường dễ dàng chu cấp cho  con  mình  một  cuốc  sống  đầy  đủ  tiện  nghi  với  những  phương  tiện  giải  trí  “thời  thượng”  như  tivi, máy chơi game, máy tính, điện thoại thông  minh, máy tính bảng có kết nối internet cùng với  những  dụng  cụ  làm  việc  nhà  “tiết  kiệm  công 

Trang 9

đến  trường  khiến  cho  trẻ  càng  ít  vận  động  thể 

lực hơn.  

Mối liên quan nghịch giữa tuổi và vận động 

thể lực tìm thấy trong nghiên cứu này tương tự 

như  kết  quả  từ  nghiên  cứu  ở  Trung  Quốc (15). 

Tương  tự  như  bài  tổng  quan  của  của  Sallis  và 

cộng sự (14) cho rằng vận động thể lực ở trẻ em 

và  trẻ  vị  thành  niên  là  một  hành  vi  phức  tạp 

được xác định bởi nhiều yếu tố, chúng tôi hoàn 

toàn đồng ý rằng các yếu tố môi trường, xã hội, 

và  cá  nhân  cần  phải  được  xem  xét  khi  nghiên 

cứu về vận động thể lực và hoạt động tĩnh của 

trẻ em.  

Điểm  mạnh  của  nghiên  cứu  này  chính  là 

mẫu được chọn đại diện, bao gồm một số lượng 

lớn trẻ và khảo sát rất nhiều yếu tố. Vì vậy, kết 

quả của nghiên cứu này phản ánh đúng mức độ 

của vấn đề thừa cân‐béo phì ở trẻ vị thành niên 

TPHCM. Tỷ lệ trả lời phỏng vấn cao (99%) cho 

thấy sự hợp tác tốt giữa người nghiên cứu, nhà 

trường và gia đình, và có lẽ là nhờ việc giải thích 

rõ  ràng  cho  phụ  huynh  và  học  sinh  hiểu  được 

mục đích và tầm quan trọng của nghiên cứu. Do 

đó, kết quả của nghiên cứu có thể áp dụng cho 

trẻ vị thành niên ở các vùng nội thành khác của 

Việt  Nam.  Tuy  nhiên,  nghiên  cứu  này  cũng  có 

một số hạn chế. Thứ nhất, học sinh có thể cũng 

gặp khó khăn khi mô tả lại chính xác vận động 

thể  lực  và  hoạt  động  tĩnh  hàng  tuần.  Thứ  hai, 

đây là thiết kế nghiên cứu cắt ngang nên không 

thể xác định được mối liên quan nhân‐quả giữa 

các yếu tố khảo sát. 

Tuy  có  vài  hạn  chế  nói  trên  nhưng  nhìn 

chung  nghiên  cứu  của  chúng  tôi  đã  cho  thấy 

một  cách  khái  quát  về  tình  hình  vận  động  thể 

lực  và  hoạt  động  tĩnh  của  trẻ  vị  thành  niên 

TPHCM  theo  các  nhóm  tuổi,  giới  tính,  và  tình 

trạnh  kinh  tế  gia  đình.  Rõ  ràng,  chúng  ta  cần 

phải có các khuyến cáo đầy đủ về mức độ hoạt 

động thể lực đủ cho trẻ vị thành niên Việt Nam 

để thúc đẩy tình hình vận động thể lực của tuổi 

trẻ.  

Tóm lại, sự phát triển kinh tế‐xã hội và sự đô  thị  hóa  ở  TPHCM  đang  ngày  càng  đưa  đến  lối  sống ít vận động ở tuổi trẻ. Vì vậy, những nỗ lực 

để làm giảm thừa cân‐béo phì ở trẻ vị thành niên  cần  chú  trọng  vào  việc  vận  động  nâng  mức  độ  hoạt động thể lực ở học sinh cấp II, đặc biệt là ở 

nữ,  học  sinh  lớp  lớn,  và  những  trẻ  từ  các  gia  đình khá giả, cha mẹ trình độ học vấn cao. 

Lời cảm ơn: Chúng tôi xin trân trọng cảm ơn sự ủng hộ của Ban 

Giám  hiệu  trường  Đại  học  Y  khoa  Phạm  Ngọc  Thạch  và  Ban  Giám đốc Trung tâm Dinh dưỡng TPHCM trong việc triển khai 

đề tài. Chúng tôi hết sức cám ơn sự hỗ trợ tích cực của các nhân  viên  khoa  Dinh  dưỡng  Cộng  đồng  –  Trung  tâm  Dinh  dưỡng  TPHCM, các bạn cộng tác viên của chương trình đã giúp chúng  tôi hoàn thành nghiên cứu. Xin chân thành cám ơn Sở Giáo dục  TPHCM, Ban Giám hiệu, Giáo viên chủ nhiệm các lớp thuộc 31  trường  PTCS  TPHCM  được  chọn  tham  gia  trong  nghiên  cứu  này. Nhóm nghiên cứu vô cùng cảm kích sự đồng hành của các  bậc phụ huynh và các em học sinh cùng với chúng tôi trong suốt  thời gian vừa qua. Số liệu thu thập trong nghiên cứu này được  thực hiện với sự tài trợ của Tổ Chức Nestle (Nestle Foundation) ‐  Thụy sĩ. 

TÀI LIỆU THAM KHẢO 

1 Ainsworth  BE  et  al.,  (2011)  Compendium  of  Physical  Activities: a second update of codes and MET values. Med Sci  Sports Exerc, 2011. 43(8): p. 1575‐81. 

2 American  Academy  of  Pediatrics  (2001)  Children,  adolescents, and television. Pediatrics, 107(2): p. 423‐6. 

3 Booth  ML,  et  al.  (2002)  The  reliability  and  validity  of  the  Adolescent  Physical  Activity  Recall  Questionnaire.  Med  Sci  Sports Exerc,. 34(12): p. 1986‐95. 

4 Cole  TJ  et  al.  (2007)  Body  mass  index  cut  offs  to  define  thinness  in  children  and  adolescents:  international  survey.  BMJ, 335(7612): p. 194. 

5 Cole  TJ  et  al,  (2000)  Establishing  a  standard  definition  for  child  overweight  and  obesity  worldwide:  international  survey. BMJ, 320(7244): p. 1240‐3. 

6 Dollman  J,  Norton  K,  and  Norton  L  (2005)  Evidence  for  secular  trends  in  childrenʹs  physical  activity  behaviour.  Br  J  Sports Med, 39(12): p. 892‐7; discussion 897. 

7 Duncan  SC,  et  al.  (2007)  A  cohort‐sequential  latent  growth  model  of  physical  activity  from  ages  12  to  17  years.  Ann  Behav Med, 2007. 33(1): p. 80‐9. 

8 Ferreira  I,  et  al  (2007),  Environmental  correlates  of  physical  activity in youth ‐ a review and update. Obes Rev, 8(2): p. 129‐

54. 

9 Filmer  D  and  Pritchett  LH,  (2001)  Estimating  wealth  effects  without  expenditure  data‐‐or  tears:  an  application  to  educational enrollments in states of India. Demography 38(1): 

p. 115‐32. 

10 Goran  MI,  et  al.,  (1998)  Developmental  changes  in  energy  expenditure and physical activity in children: evidence for a  decline in physical activity in girls before puberty. Pediatrics.  101(5): p. 887‐91. 

Trang 10

11 Gordon‐Larsen P, McMurray P, et al (2000) Determinants of 

adolescent physical activity and inactivity patterns. Pediatrics, 

105(6): p. E83. 

12 Huynh Thi Thu Dieu, et al., (2009) Trends in overweight and 

obesity in pre‐school children in urban areas of Ho Chi Minh 

City, Vietnam, from 2002 to 2005. Public Health Nutr, 12(5): p. 

702‐9. 

13 Sallis  JF  et  al.,  (1996)  Ethnic,  socioeconomic,  and  sex 

differences  in  physical  activity  among  adolescents.  J  Clin 

Epidemiol, 49(2): p. 125‐34. 

14 Sallis  JF,  Prochaska  JJ,  and  Taylor  WC,  (2000)  A  review  of 

correlates  of  physical  activity  of  children  and  adolescents. 

Med Sci Sports Exerc. 32(5): p. 963‐75. 

15 Shi  Z  et  al.,  (2006)  Physical  activity  and  associated  socio‐

demographic  factors  among  school  adolescents  in  Jiangsu 

Province, China. Prev Med, 43(3): p. 218‐21. 

16 Strong WB, et al., (2005) Evidence based physical activity for 

school‐age youth. J Pediatr,. 146(6): p. 732‐7. 

17 Tang  Kim  Hong,  et  al.,  (2007)  Overweight  and  obesity  are 

rapidly  emerging  among  adolescents  in  Ho  Chi  Minh  City, 

Vietnam, 2002‐2004. Int J Pediatr Obes,. 2(4): p. 194‐201. 

18 Tang  Kim  Hong,  et  al.,  (2012)  Validity  and  reliability  of  a 

physical  activity  questionnaire  for  Vietnamese  adolescents. 

Int J Behav Nutr Phys Act,. 9: p. 93. 

19 Tudor‐Locke C, et al., (2003) Physical activity and inactivity in  Chinese  school‐aged  youth:  the  China  Health  and  Nutrition  Survey. Int J Obes Relat Metab Disord, 27(9): p. 1093‐9. 

20 Tudor‐Locke,  C.,  et  al.,  (2003)  Physical  activity  in  Filipino  youth:  the  Cebu  Longitudinal  Health  and  Nutrition  Survey.  Int J Obes Relat Metab Disord,. 27(2): p. 181‐90. 

21 Wan  PL,  Kandiah  M,  and  Taib  MNM,  (2004)  Body  Image  Perception,  Dietary  Practices  and  Phyical  Activity  of  Overweight  and  Normal  Weight  Malaysian  Female  Adolescents. Mal J Nutr, 10(2): p. 131‐47. 

22 Wu  TY  and  Pender  N,  (2002)  Determinants  of  physical  activity  among  Taiwanese  adolescents:  an  application  of  the  health promotion model. Res Nurs Health, 2002. 25(1): p. 25‐

36. 

  Ngày nhận bài báo      11‐05‐2013  Ngày phản biện nhận xét bài báo:  24‐06‐2013  Ngày bài báo được đăng:     25–09‐2013   

 

Ngày đăng: 22/01/2020, 01:42

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w