Nghiên cứu có mục tiêu nhằm mô tả vận động thể lực và hoạt động tĩnh của học sinh cấp 2 Thành phố Hồ Chí Minh. Nghiên cứu được thực hiện trong tháng 11 và 12, năm 2004, 2715 học sinh cấp 2 tại địa bàn TP.HCM.
Trang 1THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Tăng Kim Hồng*
TÓM TẮT
Mục tiêu: Mô tả vận động thể lực và hoạt động tĩnh của học sinh cấp 2 TPHCM.
Phương pháp: Một nghiên cứu cắt ngang được thực hiện trong tháng 11 và 12, năm 2004. 2715 học sinh cấp 2 được chọn vào mẫu nghiên cứu bằng phương pháp chọn mẫu cụm nhiều bậc theo PPS và được phỏng vấn bằng bảng câu hỏi. Thời gian dành cho hoạt động thể lực với cường độ trung bình tới nặng, việc di chuyển đi lại cũng như thời gian dành cho màn ảnh nhỏ được tính cho mỗi học sinh theo số phút/ngày và sau đó được phân loại dựa theo khuyến cáo dành cho vận động thể lực và hoạt động tĩnh. Hồi quy logistic đa biến được áp dụng để khảo sát mối liên quan giữa thời gian dành vận động thể lực, xem tivi/chơi game và việc đi đến trường/về nhà với các yếu tố kinh tế‐xã hội.
Kết quả: Học sinh dành ít thời gian cho hoạt động thể lực trong lúc nghỉ hè hơn lúc đi học (35 phút/ngày
với 43 phút/ngày). Nam sinh dành nhiều thời gian cho vận động thể lực (40,2 đến 48,2 phút/ngày) hơn nữ (29,4 đến 31,6 phút/ngày) cả trong lúc đi học lẫn lúc nghỉ hè. Thời gian dành cho việc học ngoài giờ (làm bài tập ở nhà hay đi học thêm) vào khoảng 135 phút/ngày. Nữ sinh và nhóm trẻ lớn có xu hướng dành nhiều thời gian cho việc học. Phân tích hồi quy logistic đa biến cho thấy khả năng di chuyển chủ động ở nam và nữ đều tăng lên theo tuổi, cao nhất ở nhóm tuổi lớn (≥ 14 tuổi) (OR nam = 2,9, KTC 95%: 1,4, 6,0; OR nữ = 3,2, KTC 95%: 1,3, 4,1). Ngược lại với tuổi, khả năng di chuyển chủ động ở nam và nữ đều giảm ở trẻ có kinh tế gia đình khá giả và thấp nhất ở nhóm trẻ có kinh tế gia đình gia đình khá giả nhất (OR nam = 0,5, KTC 95%: 0,2, 1,1, OR nữ = 0,3, KTC 95%: 0,2, 0,5).
Kết luận: Nam sinh hoạt động thể lực nhiều hơn nữ. Trẻ ở những gia đình khá giả càng ít vận động thể lực
hơn.
Từ khóa: Vận động thể lực, Hoạt động tĩnh, Di chuyển, Yếu tố kinh tế‐xã hội
ABSTRACT
PHYSICAL ACTIVITY AND SEDENTARY BEHAVIORS AMONG JUNIOR HIGH SCHOOL
STUDENTS OF HOCHIMINH CITY Tang Kim Hong * Y Hoc TP. Ho Chi Minh * Vol. 17 ‐ Supplement of No 3 ‐ 2013: 191 ‐ 200
Objective: To describe PA and sedentary behaviors of junior high school students of Ho Chi Minh City
(HCMC).
Methods: A cross‐sectional study was conducted between November and December 2004. 2715 junior high
school students were selected using multistage cluster sampling with PPS method and were interviewed by questionnaires. Time spent in moderate to vigorous physical activities, transportation as well as small screen view were calculated for each student in minutes per day, and then were categorized based on the recommendations on PA and sedentary behaviors. Multiple logistic regressions were used to examine associations between levels of time spent for sedentary, physical activity, transportation and socio‐demographic factors.
* Bộ môn Dịch tễ học Cơ bản – Dân số học, Đại học Y khoa Phạm Ngọc Thạch
Trang 2Results: Students spent less time in physical activities in summer holidays than in school term (35
mins/day vs. 43 mins/day). Boys spent more physical activities time (40.2 to 48.2 mins/day) than girls (29.4 to 31.6 mins/day) both in summer holidays and school term. Time spent studying after class (homework and attending extra tutorials) was on average 135 minutes per day. Girls and the older age group tended to spend more time studying. Multiple logistic regression showed that the odds of active transportation in boys and girls were increased as the age increased and the highest was found in the oldest age group (≥ 14 years old) (OR male = 2.9, 95% CI: 1.4, 6.0; OR female = 3.2, 95% CI: 1.3, 4.1, respectively). In contrast to age, the odds of active transportation in boys and girls were decreased as the wealth index increased and lowest in the richest group: (OR male = 0.5, 95% CI: 0.2, 1.1, OR female = 0.3, 95% CI: 0.2, 0.5, respectively).
Conclusions: Male did more PA than female and students in more wealthy families were less active than
students from the less wealthy ones.
Key words: Physical activity, sedentary behaviors, Transportation, Socio‐economic factors
ĐẶT VẤN ĐỀ
Trong vài năm qua, ở Thành phố Hồ Chí
Minh (TPHCM), thừa cân‐béo phì đang ngày
càng tăng lên ở mọi độ tuổi, đặc biệt là ở trẻ vị
thành niên(12,17), do sự phát triển nhanh chóng về
mọi mặt, đặc biệt là kinh tế‐xã hội. Vận động thể
lực đóng vai trò quan trọng trong việc gia tăng
tỷ lệ thừa cân‐béo phì. Tuy nhiên, vận động thể
lực và hoạt động tĩnh của trẻ vị thành niên
TPHCM chưa được khảo sát và công bố nhiều.
Kết quả nghiên cứu từ nhiều nước châu Á
khác nhau đã cho chúng ta thấy một bức tranh
mô tả mức độ thiếu hoạt động thể lực ở trẻ vị
thành niên và đã chứng minh được mối liên
quan giữa vận động thể lực với tuổi, giới và các
yếu tố kinh tế‐xã hội(22,19,20,21). Rõ ràng, có một xu
hướng giảm vận động thể lực và tăng việc thiếu
vận động ở nhiều nước(6,7,10) và các yếu tố môi
trường sống ở nhà, ở trường đặc biệt có liên
quan với hoạt động thể lực của trẻ em(8).
Mục đích của bài báo này là nhằm mô tả vận
động thể lực, hoạt động tĩnh và việc di chuyển
(đi học) đến trường/về nhà của học sinh cấp 2
TPHCM và khảo sát sự khác biệt theo các yếu tố
kinh tế‐xã hội.
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Thiết kế nghiên cứu
Một nghiên cứu cắt ngang được thực hiện
trong tháng 11 và 12 năm 2004, với mẫu đại diện
là học sinh từ lớp 6 đến lớp 9 (tuổi từ 11 đến 16)
thuộc các trường cấp II nội thành TPHCM. Mẫu được chọn bằng phương pháp chọn mẫu cụm nhiều bậc với xác suất tỷ lệ với độ lớn của cụm (Propability Proportionate to Size – PPS). Khung chọn mẫu là 140 trường cấp II thuộc các quận nội thành TPHCM, bao gồm 47 trường thuộc các quận nội thành giàu và 93 trường thuộc các quận nội thành còn lại. Nghiên cứu được Hội đồng Khoa học trường Đại học Y khoa Phạm Ngọc Thạch và Hội đồng y đức của Đại học Newcastle thông qua. Tất cả học sinh đều được phỏng vấn với bảng câu hỏi soạn sẵn trong vòng
15 phút tại lớp học. Ngoài ra, 1 bảng câu hỏi khảo sát môi trường sinh hoạt tại trường cũng được gởi cho đại diện nhà trường trả lời. Các số liệu thu thập trong bảng câu hỏi này bao gồm: diện tích sân trường, số tiết học, môn thể thao được dạy/chơi tại trường, phòng tập/sân chơi và điều kiện sử dụng các phòng tập/sân chơi ở trường, loại thực phẩm được bán tại căn tin v.v… Phụ huynh cũng được gởi 1 bảng câu hỏi
để trả lời về 14 loại vật dụng có trong nhà nhằm đánh giá tình trạng kinh tế gia đình (bao gồm điện thoại, radio, đầu máy video, đầu máy CD, đầu máy DVD, máy lạnh, tủ lạnh, máy tính, bếp
ga, lò vi sóng xe đạp, xe gắn máy, xe hơi, tivi), số người trong gia đình, nghề nghiệp và trình độ học vấn cha mẹ.
Vận động thể lực
Bảng câu hỏi khảo sát vận động thể lực của trẻ vị thành niên Việt Nam được phát triển dựa trên bảng câu hỏi về hoạt động thể lực của trẻ vị
Trang 3thành niên Úc(3) và được định giá trước khi áp
dụng tại Việt Nam(18). Học sinh được hỏi về các
hoạt động thể lực có tổ chức và không tổ chức
trong một tuần bình thường. Với mỗi hoạt động,
học sinh sẽ trả lời về tần suất và thời gian thực
hiện. Hoạt động thể lực của học sinh cũng được
chia ra trong năm học (9 tháng) và trong lúc
nghỉ hè (3 tháng). Phương tiện và thời gian di
chuyển từ nhà đến trường và ngược lại trong
một tuần bình thường cũng được ghi nhận.
Hoạt động tĩnh
Học sinh cũng được hỏi về thời gian dành
các hoạt động tĩnh vào mỗi ngày trong tuần và
ngày cuối tuần, bao gồm thời gian xem tivi, chơi
game, học thêm v.v…
Phân tích số liệu
Số liệu được phân tích bằng phần mềm
STATA 12 và lệnh “svy” (lệnh dành cho điều tra
cắt ngang) được sử dụng để hiệu chỉnh cho ảnh
hưởng của thiết kế chọn mẫu cụm. Để đánh giá
kinh tế gia đình, phương pháp phân tích thành
phần chủ yếu được áp dụng để tính hệ số riêng
cho mỗi loại đồ vật(9). Điểm số kinh tế gia đình
của mỗi học sinh là tổng điểm có được từ các
loại đồ vật trong nhà cộng lại. Chỉ số khối cơ thể
(BMI) được tính bằng công thức cân nặng/(chiều
cao)2 và được phân nhóm thành thừa cân và béo
phì theo định nghĩa của IOTF( 14 ) và thiếu cân
được phân loại theo Tim Cole(4). Tóm lại, BMI
được chia thành 3 nhóm: thiếu cân, cân nặng
bình thường, và thừa cân‐béo phì.
Trung vị và khoảng tứ phân vị (IQR) được
dùng để trình bày cho thời gian dành cho vận
động thể lực và hoạt động tĩnh (phút/ngày).
Thời gian dành cho mỗi hoạt động sẽ được tính
bằng cách nhân số lần tham gia với thời gian
mỗi lần tham gia và với “hệ số điều chỉnh”
(được tính từ thời gian trong lúc đi học‐36/54
hay lúc nghỉ hè‐18/54). Mỗi hoạt động đều có 1
MET nhất định (kcals/kg/phút) theo bảng liệt kê
METs của các hoạt động thể lực dành cho trẻ vị
thành niên(1). Vận động thể lực được xem là đủ
khi mỗi ngày trẻ dành ít nhất 60 phút cho hoạt
động cường độ trung bình (3,5 – 5,9 METs) đến nặng (VPA) (METs ≥ 6,0)(16). Thời gian dành cho màn ảnh nhỏ (xem tivi/chơi game) được chia thành 2 nhóm < 2giờ và ≥ 2 giờ(2). Trẻ được xem
là di chuyển chủ động khi trẻ đi đến trường/về nhà bằng xe đạp hay đi bộ hoặc cả 2 phương tiện ít nhất 4 ngày/tuần.
Sự khác biệt về thời gian dành cho vận động thể lực và hoạt động tĩnh theo giới, nhóm tuổi, kinh tế gia đình và phân loại BMI được so sánh bằng test Mann‐Whitney hay Krusal‐Wallis, do thời gian dành cho vận động thể lực và hoạt động tĩnh không có phân phối bình thường (normal distribution). Phương trình hồi qui logistic đa biến được áp dụng để đánh giá mối liên quan giữa việc vận động thể lực đủ/thiếu, xem tivi, chơi game nhiều/ít, và đi đến trường/về nhà thụ động hay chủ động với các yếu tố dân số‐xã hội. Chỉ những biến số có liên quan một cách có ý nghĩa trong phân tích đơn biến (p < 0,25) mới được giữ lại đưa vào mô hình
đa biến.
KẾT QUẢ
Điều tra được thực hiện trên 2.715 học sinh
từ 31 trường, với số học sinh lớp 6, lớp 7, lớp 8, lớp 9 lần lượt là 618, 755, 822 và 520, trong đó có 2.684 có đầy đủ số liệu (chiếm tỷ lệ 98,9%). Thời gian dành cho việc xem màn ảnh nhỏ được mô tả ở bảng 1. Nam dành nhiều thời gian xem tivi, chơi game hơn nữ (85,7 phút/ngày so với 43,3 phút/ngày, p<0,001). Thời gian dành cho xem tivi, chơi game vi tính khác biệt giữa các nhóm tuổi, tình trạng kinh tế gia đình, và phân loại BMI trong mỗi giới. Thời gian dành cho màn ảnh nhỏ nhiều (hơn 2giờ/ngày) có liên quan với tình trạng kinh tế gia đình ở cả 2 giới (p=0,002 và 0,013 cho nam và nữ). Ở nữ, thời gian dành cho màn ảnh nhỏ còn liên quan với tình trạng thừa cân‐béo phì (ORhiệu chỉnh = 1,8, KTC 95%: 1,1, 3,1). Ở nam, kinh tế gia đình có liên quan với thời gian dành cho màn ảnh nhỏ (ORhiệu chỉnh = 2,1, KTC 95: 1,3, 3,1).
Trang 4trạng vận động thể lực
Số
lượng
Xem tivi (phút/
ngày)
Chơi game (phút/
ngày)
Toàn bộ thời gian cho màn ảnh nhỏ a (phút/ ngày)
OR * (dành ≥
120 phút/
ngày cho xem màn ảnh nhỏ (KTC 95%)
Số lượng
Xem tivi (phút/
ngày)
Chơi game (phút/
ngày)
Toàn bộ thời gian cho màn ảnh nhỏ a (phút/ngày)
OR * (dành ≥
120 phút/ ngày cho xem màn ảnh nhỏ (KTC 95%)
Trung vị (IQR)
Trung vị (IQR)
Trung vị (IQR)
Trung vị (IQR)
Trung vị (IQR)
Trung vị (IQR)
Tổng
(13,6, 42,9)
(25,7,
Tuổi
≤ 11
(13,6,
12
(13,6, 42,9)
(25,7,
13
(13,6, 42,9)
(21,4,
(17,1,
≥ 14
(13,6,
Kinh tế gia đình
Nghèo
nhất
(Ngũ
phân vị
thứ 1)
(13,1, 32,1)
(8,6,
Ngũ
phân vị
thứ 2
(13,6,
Ngũ
phân vị
thứ 3
(13,6, 42,9)
(27,9,
Ngũ
phân vị
thứ 4
(13,6, 25,7)
(25,7,
(17,1,
Giàu
nhất
(Ngũ
phân vị
thứ 5)
(23,6, 77,1)
(25,7,
(18,2,
Phân loại BMI
Bình
thường
(13,6,
Thiếu
cân
(13,6,
Thừa
cân-béo
Trang 5Nam Nữ
Số
lượng
Xem tivi (phút/
ngày)
Chơi game (phút/
ngày)
Toàn bộ thời gian cho màn ảnh nhỏ a (phút/ ngày)
OR * (dành ≥
120 phút/
ngày cho xem màn ảnh nhỏ (KTC 95%)
Số lượng
Xem tivi (phút/
ngày)
Chơi game (phút/
ngày)
Toàn bộ thời gian cho màn ảnh nhỏ a (phút/ngày)
OR * (dành ≥
120 phút/
ngày cho xem màn ảnh nhỏ (KTC 95%)
Trung vị (IQR)
Trung vị (IQR)
Trung vị (IQR)
Trung vị (IQR)
Trung vị (IQR)
Trung vị (IQR)
MVPA
< 60
phút/
ngày
(13,6, 42,9)
(30,0,
≥ 60
phút/
ngày
(13,6, 60,0) 110,0) (25,7, (81,4, 187,1) (0,5, 1,8) (13,6, 43,6) (10,0, 83,6) (57,9, 158,6) (0,7, 1,5)
IQR = tứ phân vị; MVPA = Thời gian hoạt động thể lực cường độ trung bình đến nặng a Thời gian dành cho xem tivi, chơi
game, * Hiệu chỉnh cho các yếu tố khác trong bảng
Bảng 2: Thời gian dành cho hoạt động thể lực cường độ trung bình đến nặng hàng ngày (MVPA) của nam
và nữ theo giới, kinh tế gia đình, phân loại BMI và mức độ thời gian dành cho xem màn ảnh nhỏ trong năm
học và trong lúc nghỉ hè
Số
học
sinh
Trong năm học
Lúc nghỉ hè OR* cho
HĐTL ≥ 60 phút/ ngày (KTC 95%)
Số học sinh
Trong năm học
Lúc nghỉ hè HĐTL ≥ 60 OR* cho
phút/
ngày (KTC 95%)
Số học sinh
Trong năm học
Lúc nghỉ
hè
OR* cho HĐTL ≥
60 phút/
ngày (KTC 95%)
Trung vị (IQR)
Trung vị (IQR)
Trung vị (IQR)
Trung vị (IQR)
Trung vị (IQR)
Trung vị (IQR)
Chung
(34,5,
Tuổi
≤ 11 tuổi
(53,9,
12 tuổi
(31,5, 58,4)
(25,3, 60,4) (3,5, 30,1)
(19,9, 65,9)
(23,1, 56,2) (0,7, 1,8)
(23,4, 59,5)
(24,8, 58,5) (1,0, 2,2)
13 tuổi
(30,6, 51,0)
(18,4, 52,4) (6,3, 59,7)
(13,4, 52,3)
(17,8, 53,1) (1,5, 3,3)
(16,2, 51,2)
(18,0, 52,7) (1,9, 14,0)
≥ 14 tuổi
(30,2, 47,8) (13,8, 44,2) (14,2, 108,9) (11,7, 35,9) (16,4, 77,1) (1,8, 7,1) (14,3, 47,1) (11,9, 44,2) (3,4, 8,9)
Kinh tế gia đình
Nghèo
nhất
(Ngũ
phân vị
thứ 1)
(37,8, 58,0)
(25,3,
(15,3, 55,3)
(17,7,
(21,0, 57,1)
(21.0,
Ngũ
phân vị
thứ 2
(34,2, 58,8)
(22,6,
(19,9, 53,0)
(16,5, 54,1) (0,4, 1,7)
(26,0, 57,2)
(18.7, 55.8) (0,5, 1,4) Ngũ
phân vị
Trang 6Nam Nữ Chung
Số
học
sinh
Trong năm học
Lúc nghỉ hè OR* cho
HĐTL ≥ 60 phút/ ngày (KTC 95%)
Số học sinh
Trong năm học
Lúc nghỉ hè HĐTL ≥ 60 OR* cho
phút/
ngày (KTC 95%)
Số học sinh
Trong năm học
Lúc nghỉ
hè
OR* cho HĐTL ≥
60 phút/
ngày (KTC 95%)
Trung vị (IQR)
Trung vị (IQR)
Trung vị (IQR)
Trung vị (IQR)
Trung vị (IQR)
Trung vị (IQR)
Ngũ
phân vị
thứ 4
(32,8, 59,9)
(4,3,
(18,0, 61,0)
(21,4, 107,1) (0,7, 2,2)
(22,0, 60,0)
(1.1, 47.1) (0,9, 12,3) Giàu
nhất
(Ngũ
phân vị
thứ 5)
(34,6, 58,5)
(1,1,
(15,2, 67,8)
(26,4, 111,4) (0,5, 1,2)
(24,5, 60,6)
(1.1, 42.9) (0,6, 1,1)
Phân loại BMI
Bình
thường
(33,0, 57,5)
(22,6,
(16,6, 59,1)
(16,8,
(22,0, 58,0)
(18,7,
Thiếu
cân
(33,7, 57,0)
(24,1,
(14,5, 34,5)
(25,7, 49,2) (0,5, 4,5)
(18,7, 52,7)
(24,2, 49,9) (0,7, 2,8) Thừa
cân-béo
phì
(40,7, 66,0) (27,2, 62,5) (0,5, 1,5) (18.6, 65,9) (16,8, 47,7) (0,8, 1,9) (32,8, 66,0) (23,2, 59,7) (0,5, 1,6)
Thời gian dành cho màn ảnh nhỏ
< 120
phút/
ngày
(33,7,
≥ 120
phút/
ngày
(36,7, 58,1) (22,7, 61,8) (0,5, 1,5) (15,3, 60,6) (17,9, 49,2) (0,8, 1,4) (22,1, 58,8) (20,5, 56,8) (0,9, 1,8)
IQR = tứ phân vị
* Hiệu chỉnh cho các yếu tố khác trong bảng
Bảng 2 cho thấy trung vị thời gian dành cho
vận động thể lực cường độ trung bình đến nặng
là khoảng 88 và 78 phút/ ngày ở nam và nữ.
Nam dành nhiều thời gian cho vận động thể lực
hơn nữ cả trong thời gian đi học lẫn lúc nghỉ hè
(nam: 48,2 và 40,2 phút/ngày trong thời gian đi
học và trong lúc nghỉ hè so với nữ là 43,0 và 35,0
phút/ ngày). Thời gian dành cho vận động thể
lực ở nam luôn cao hơn nữ ở mọi độ tuổi
(p<0,001). Trẻ học lớp lớn ít vận động hơn trẻ
học lớp nhỏ, cả trong lúc đi học lẫn lúc nghỉ hè.
Tuy nhiên, thời gian dành cho vận động thể lực (cường độ trung bình đến nặng) thay đổi không
có ý nghĩa theo mức độ kinh tế gia đình, phân loại BMI, hay thời gian dành cho màn ảnh nhỏ nhiều hay ít. Mô hình hồi quy logistic đa biến cho thấy sau khi kiểm soát cho các yếu tố gây nhiễu khác, nhóm tuổi có liên quan một cách có
ý nghĩa với thời gian dành cho vận động thể lực cường độ trung bình đến nặng ở cả 2 giới.
Bảng 3: Tỷ lệ di chuyển chủ động và thụ động của nam và nữ theo tuổi, kinh tế gia đình, phân loại BMI, tình
trạng vận động thể lực và mức độ thời gian dành cho xem màn ảnh nhỏ
Số học sinh
Tỷ lệ % di chuyển chủ động a
Tỷ lệ % di chuyển thụ động b
OR * cho di chuyển chủ động (KTC 95%)
Số học sinh
Tỷ lệ % di chuyển chủ động a
Tỷ lệ % di chuyển thụ động b
OR * cho di chuyển chủ động (KTC 95%)
Trang 7Nam Nữ
Số học sinh
Tỷ lệ % di chuyển chủ động a
Tỷ lệ % di chuyển thụ động b
OR * cho di chuyển chủ động (KTC 95%)
Số học sinh
Tỷ lệ % di chuyển chủ động a
Tỷ lệ % di chuyển thụ động b
OR * cho di chuyển chủ động (KTC 95%)
Nghèo nhất
(Ngũ phân vị thứ 1)
Giàu nhất
(Ngũ phân vị thứ 5)
Thời gian dành cho màn ảnh nhỏ
IQR = tứ phân vị; MVPA = Thời gian hoạt động thể lực cường độ trung bình đến nặng. a Đi bộ/đạp xe b Được chở bằng xe gắn máy/xe hơi. * Hiệu chỉnh cho các yếu tố khác trong bảng
Bảng 3 mô tả tỷ lệ học sinh đi đến
trường/về nhà chủ động. Chỉ 30 đến 32% trẻ
nam và nữ di chuyển chủ động, trong đó tỷ lệ
nam sinh đi bộ, đi xe đạp hoặc dùng cả 2
phương tiện lần lượt là 2%, 13%, và 15%, trong
khi ở nữ sinh là 3%, 15% và 15%. Không có sự
khác biệt có ý nghĩa trong các loại phương tiện
di chuyển giữa nam sinh và nữ sinh. Trung bình học sinh dành 15 phút mỗi ngày cho việc
đi đến trường và về nhà (số liệu không trình bày trong bài báo này). Nhóm học sinh lớp lớn có tỷ
lệ di chuyển chủ động cao hơn nhóm học sinh lớp nhỏ hơn. Bảng 3 cũng cho thấy ở cả 2 giới, học sinh từ các gia đình kinh tế khó khăn hơn
Trang 8thì thường đi bộ hay đi xe đạp đến trường.
Tuy nhiên, sự khác biệt này không có ý nghĩa
về mặt thống kê. Ngoài ra, trẻ thừa cân thì
được cha mẹ đưa đi học bằng xe gắn máy hay
xe hơi nhiều hơn trẻ có cân nặng bình thường
(75,2% so với 68,4% ở nam và 65,8% so với
67,6% ở nữ). Cả 2 mô hình ở nam và nữ đều
cho thấy nhóm tuổi và tình trạng kinh tế gia
đình liên quan một cách có ý nghĩa với việc di
chuyển chủ động. Khả năng di chuyển chủ
động đều tăng khi tuổi tăng ở cả nam lẫn nữ,
trong đó khả năng cao nhất được thấy ở nhóm
tuổi lớn nhất (≥ 14 tuổi) (OR = 2,9, KTC 95%:
1,4, 6,0 ở nam và OR = 3,2, KTC 95%: 1,3, 4,1 ở
nữ). Ngược lại, khả năng di chuyển chủ động
ở nam và nữ đều giảm trong nhóm kinh tế gia
đình khá giả, trong đó khả năng thấp nhất
được thấy ở nhóm có kinh tế gia đình khá nhất
(OR = 0,5, KTC 95%: 0,2, 1,1 ở nam và OR = 0,3,
KTC 95%: 0,2, 0,5 ở nữ).
BÀN LUẬN VÀ KẾT LUẬN
Trong nghiên cứu này, chúng tôi ghi nhận
thời gian dành cho học ngoài giờ (làm bài tập
hay đi học thêm) là khoảng 135 phút/ngày. Nữ
sinh và trẻ học lớp lớn có xu hướng dành nhiều
thời gian cho việc học ngoài giờ hơn nam sinh
và trẻ lớp nhỏ. Xét riêng ở trẻ nữ, nhóm trẻ lớn
tuổi hơn càng ít vận động thể lực hơn. Ở trẻ
nam, trình độ học vấn cao của cha mẹ có liên
quan với việc vận động thể lực ít của trẻ.
Mức độ vận động thể lực thấp và các yếu tố
dân số‐xã hội có liên quan của trẻ vị thành niên
TPHCM tương tự như kết quả được tìm thấy ở
tỉnh Tứ Xuyên, Trung quốc(15). Cũng như Việt
Nam, học sinh Trung Quốc cũng được cho là
phải chịu áp lực về thành tích học tập, và đó
cũng là lý do giải thích việc dành nhiều thời gian
hơn cho việc học tập và ít xem tivi ở trẻ. Trong
nghiên cứu của chúng tôi, thời gian dành cho
việc xem tivi và chơi game của học sinh cấp II
TPHCM ít hơn kết quả khảo sát ở trẻ Mã lai và
Philippines (33,5% trẻ em trong nghiên cứu này
xem tivi hơn 2 giờ mỗi ngày trong khi con số
này ở trẻ em Mã lai là 44,8% và ở trẻ em
Philippines là 48%)(20,21). Điều này có thể là do trẻ
em Việt Nam dành nhiều thời gian cho việc học ngoài giờ hơn. Kết quả này cho thấy thực sự trẻ
em Việt Nam đang chịu một gánh nặng rất lớn
về việc học và loại “hoạt động tĩnh” này dường như là một yếu tố góp phần đáng kể vào vấn đề thừa cân‐béo phì của trẻ em Việt Nam.
Việc di chuyển đến trường/về nhà một cách thụ động chiếm khá đông (69%) trong nghiên cứu này. Vì học sinh Việt Nam chịu áp lực rất lớn và phải dành nhiều thời gian cho việc học ngoài giờ, cho nên để tiết kiệm thời gian di chuyển cha mẹ thường đưa con em đi học bằng
xe máy/xe hơi. Điều này càng làm giảm thời gian dành cho vận động thể lực và càng làm tăng mức độ không vận động ở trẻ. Hơn nữa, cha mẹ có trình độ học vấn cao càng có xu hướng chú ý đến việc học của con và càng khuyến khích con học thêm, hơn là dành thời gian cho việc vận động, chơi thể thao. Chính điều này giải thích lý do tại sao tỷ lệ trẻ thiếu hoạt động thể lực cao hơn ở nhóm có cha mẹ có trình độ học vấn cao. Tương tự như kết quả từ nghiên cứu bên Trung Quốc (19), trong nghiên cứu của chúng tôi, trẻ học lớp lớn thì càng có xu hướng đi bộ/đi xe đạp đến trường/về nhà. Có thể vì cha mẹ cảm thấy không an tâm khi để trẻ nhỏ tự đi học khi đường phố Việt Nam còn quá nhiều rủi ro và tai nạn giao thông dường như chưa được kiểm soát tốt trong những năm vừa qua.
Một số nghiên cứu ở những nước phương Tây đã thấy rằng học sinh từ các gia đình có thu thập thấp thường có xu hướng ít vận động. Đó
là vì các em này ít có tiền để tiếp cận/chơi thể thao ở những sân tập/bãi tập (thường phải trả tiền)(13,11). Ngược lại, ở Việt Nam trẻ em từ các gia đình giàu có lại ít vận động hơn. Đó có thể là vì cha mẹ của các em thường dễ dàng chu cấp cho con mình một cuốc sống đầy đủ tiện nghi với những phương tiện giải trí “thời thượng” như tivi, máy chơi game, máy tính, điện thoại thông minh, máy tính bảng có kết nối internet cùng với những dụng cụ làm việc nhà “tiết kiệm công
Trang 9đến trường khiến cho trẻ càng ít vận động thể
lực hơn.
Mối liên quan nghịch giữa tuổi và vận động
thể lực tìm thấy trong nghiên cứu này tương tự
như kết quả từ nghiên cứu ở Trung Quốc (15).
Tương tự như bài tổng quan của của Sallis và
cộng sự (14) cho rằng vận động thể lực ở trẻ em
và trẻ vị thành niên là một hành vi phức tạp
được xác định bởi nhiều yếu tố, chúng tôi hoàn
toàn đồng ý rằng các yếu tố môi trường, xã hội,
và cá nhân cần phải được xem xét khi nghiên
cứu về vận động thể lực và hoạt động tĩnh của
trẻ em.
Điểm mạnh của nghiên cứu này chính là
mẫu được chọn đại diện, bao gồm một số lượng
lớn trẻ và khảo sát rất nhiều yếu tố. Vì vậy, kết
quả của nghiên cứu này phản ánh đúng mức độ
của vấn đề thừa cân‐béo phì ở trẻ vị thành niên
TPHCM. Tỷ lệ trả lời phỏng vấn cao (99%) cho
thấy sự hợp tác tốt giữa người nghiên cứu, nhà
trường và gia đình, và có lẽ là nhờ việc giải thích
rõ ràng cho phụ huynh và học sinh hiểu được
mục đích và tầm quan trọng của nghiên cứu. Do
đó, kết quả của nghiên cứu có thể áp dụng cho
trẻ vị thành niên ở các vùng nội thành khác của
Việt Nam. Tuy nhiên, nghiên cứu này cũng có
một số hạn chế. Thứ nhất, học sinh có thể cũng
gặp khó khăn khi mô tả lại chính xác vận động
thể lực và hoạt động tĩnh hàng tuần. Thứ hai,
đây là thiết kế nghiên cứu cắt ngang nên không
thể xác định được mối liên quan nhân‐quả giữa
các yếu tố khảo sát.
Tuy có vài hạn chế nói trên nhưng nhìn
chung nghiên cứu của chúng tôi đã cho thấy
một cách khái quát về tình hình vận động thể
lực và hoạt động tĩnh của trẻ vị thành niên
TPHCM theo các nhóm tuổi, giới tính, và tình
trạnh kinh tế gia đình. Rõ ràng, chúng ta cần
phải có các khuyến cáo đầy đủ về mức độ hoạt
động thể lực đủ cho trẻ vị thành niên Việt Nam
để thúc đẩy tình hình vận động thể lực của tuổi
trẻ.
Tóm lại, sự phát triển kinh tế‐xã hội và sự đô thị hóa ở TPHCM đang ngày càng đưa đến lối sống ít vận động ở tuổi trẻ. Vì vậy, những nỗ lực
để làm giảm thừa cân‐béo phì ở trẻ vị thành niên cần chú trọng vào việc vận động nâng mức độ hoạt động thể lực ở học sinh cấp II, đặc biệt là ở
nữ, học sinh lớp lớn, và những trẻ từ các gia đình khá giả, cha mẹ trình độ học vấn cao.
Lời cảm ơn: Chúng tôi xin trân trọng cảm ơn sự ủng hộ của Ban
Giám hiệu trường Đại học Y khoa Phạm Ngọc Thạch và Ban Giám đốc Trung tâm Dinh dưỡng TPHCM trong việc triển khai
đề tài. Chúng tôi hết sức cám ơn sự hỗ trợ tích cực của các nhân viên khoa Dinh dưỡng Cộng đồng – Trung tâm Dinh dưỡng TPHCM, các bạn cộng tác viên của chương trình đã giúp chúng tôi hoàn thành nghiên cứu. Xin chân thành cám ơn Sở Giáo dục TPHCM, Ban Giám hiệu, Giáo viên chủ nhiệm các lớp thuộc 31 trường PTCS TPHCM được chọn tham gia trong nghiên cứu này. Nhóm nghiên cứu vô cùng cảm kích sự đồng hành của các bậc phụ huynh và các em học sinh cùng với chúng tôi trong suốt thời gian vừa qua. Số liệu thu thập trong nghiên cứu này được thực hiện với sự tài trợ của Tổ Chức Nestle (Nestle Foundation) ‐ Thụy sĩ.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 Ainsworth BE et al., (2011) Compendium of Physical Activities: a second update of codes and MET values. Med Sci Sports Exerc, 2011. 43(8): p. 1575‐81.
2 American Academy of Pediatrics (2001) Children, adolescents, and television. Pediatrics, 107(2): p. 423‐6.
3 Booth ML, et al. (2002) The reliability and validity of the Adolescent Physical Activity Recall Questionnaire. Med Sci Sports Exerc,. 34(12): p. 1986‐95.
4 Cole TJ et al. (2007) Body mass index cut offs to define thinness in children and adolescents: international survey. BMJ, 335(7612): p. 194.
5 Cole TJ et al, (2000) Establishing a standard definition for child overweight and obesity worldwide: international survey. BMJ, 320(7244): p. 1240‐3.
6 Dollman J, Norton K, and Norton L (2005) Evidence for secular trends in childrenʹs physical activity behaviour. Br J Sports Med, 39(12): p. 892‐7; discussion 897.
7 Duncan SC, et al. (2007) A cohort‐sequential latent growth model of physical activity from ages 12 to 17 years. Ann Behav Med, 2007. 33(1): p. 80‐9.
8 Ferreira I, et al (2007), Environmental correlates of physical activity in youth ‐ a review and update. Obes Rev, 8(2): p. 129‐
54.
9 Filmer D and Pritchett LH, (2001) Estimating wealth effects without expenditure data‐‐or tears: an application to educational enrollments in states of India. Demography 38(1):
p. 115‐32.
10 Goran MI, et al., (1998) Developmental changes in energy expenditure and physical activity in children: evidence for a decline in physical activity in girls before puberty. Pediatrics. 101(5): p. 887‐91.
Trang 1011 Gordon‐Larsen P, McMurray P, et al (2000) Determinants of
adolescent physical activity and inactivity patterns. Pediatrics,
105(6): p. E83.
12 Huynh Thi Thu Dieu, et al., (2009) Trends in overweight and
obesity in pre‐school children in urban areas of Ho Chi Minh
City, Vietnam, from 2002 to 2005. Public Health Nutr, 12(5): p.
702‐9.
13 Sallis JF et al., (1996) Ethnic, socioeconomic, and sex
differences in physical activity among adolescents. J Clin
Epidemiol, 49(2): p. 125‐34.
14 Sallis JF, Prochaska JJ, and Taylor WC, (2000) A review of
correlates of physical activity of children and adolescents.
Med Sci Sports Exerc. 32(5): p. 963‐75.
15 Shi Z et al., (2006) Physical activity and associated socio‐
demographic factors among school adolescents in Jiangsu
Province, China. Prev Med, 43(3): p. 218‐21.
16 Strong WB, et al., (2005) Evidence based physical activity for
school‐age youth. J Pediatr,. 146(6): p. 732‐7.
17 Tang Kim Hong, et al., (2007) Overweight and obesity are
rapidly emerging among adolescents in Ho Chi Minh City,
Vietnam, 2002‐2004. Int J Pediatr Obes,. 2(4): p. 194‐201.
18 Tang Kim Hong, et al., (2012) Validity and reliability of a
physical activity questionnaire for Vietnamese adolescents.
Int J Behav Nutr Phys Act,. 9: p. 93.
19 Tudor‐Locke C, et al., (2003) Physical activity and inactivity in Chinese school‐aged youth: the China Health and Nutrition Survey. Int J Obes Relat Metab Disord, 27(9): p. 1093‐9.
20 Tudor‐Locke, C., et al., (2003) Physical activity in Filipino youth: the Cebu Longitudinal Health and Nutrition Survey. Int J Obes Relat Metab Disord,. 27(2): p. 181‐90.
21 Wan PL, Kandiah M, and Taib MNM, (2004) Body Image Perception, Dietary Practices and Phyical Activity of Overweight and Normal Weight Malaysian Female Adolescents. Mal J Nutr, 10(2): p. 131‐47.
22 Wu TY and Pender N, (2002) Determinants of physical activity among Taiwanese adolescents: an application of the health promotion model. Res Nurs Health, 2002. 25(1): p. 25‐
36.
Ngày nhận bài báo 11‐05‐2013 Ngày phản biện nhận xét bài báo: 24‐06‐2013 Ngày bài báo được đăng: 25–09‐2013