1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Khảo sát tình hình sử dụng thuốc chống huyết khối theo thang điểm CHADS2 trên bệnh nhân rung nhĩ không do bệnh lý van tim

7 114 1

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 7
Dung lượng 341,19 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mục tiêu nghiên cứu của đề tài này nhằm đánh giá nguy cơ đột quỵ trên bệnh nhân rung nhĩ không do bệnh lý van tim theo thang điểm CHADS2 và xác định tỉ lệ sử dụng thuốc kháng đông uống và thuốc kháng tiểu cầu. Nghiên cứu được thực hiện tại bệnh viện Nhân Dân Gia Định từ 11/2010 đến 07/2011 bao gồm 100 bệnh nhân rung nhĩ không do bệnh lý van tim.

Trang 1

KHẢO SÁT TÌNH HÌNH SỬ DỤNG THUỐC CHỐNG HUYẾT KHỐI THEO

BỆNH LÝ VAN TIM

Nguyễn Văn Sĩ*, Châu Ngọc Hoa*

TÓM TẮT

Đặt vấn đề: Đột quỵ là biến chứng quan trọng của rung nhĩ CHADS 2 là thang điểm đơn giản, dễ sử dụng giúp đánh giá nguy cơ đột quỵ đối với rung nhĩ không do bệnh lý van tim Theo các nghiên cứu ngoài nước, thuốc chống huyết khối chưa được sử dụng thỏa đáng trong phòng ngừa đột quỵ Tại Việt Nam, chưa có nghiên cứu liên quan đến phân tầng nguy cơ đột quỵ theo CHADS 2 và tình hình sử dụng thuốc chống huyết khối

Mục tiêu: Đánh giá nguy cơ đột quỵ trên bệnh nhân rung nhĩ không do bệnh lý van tim theo thang

điểm CHADS 2 và xác định tỉ lệ sử dụng thuốc kháng đông uống và thuốc kháng tiểu cầu

Phương pháp nghiên cứu: Mô tả cắt ngang được thực hiện tại bệnh viện Nhân Dân Gia Định từ

11/2010 đến 07/2011 bao gồm 100 bệnh nhân rung nhĩ không do bệnh lý van tim

Kết quả: 62% bệnh nhân có nguy cơ cao đột quỵ (CHADS 2 ≥ 2), 26% nguy cơ trung bình (CHADS 2

= 1) và 12% nguy cơ thấp (CHADS 2 = 0) Yếu tố nguy cơ chiếm tỉ lệ cao nhất là tăng huyết áp (56%) và suy tim sung huyết (47%) Tỉ lệ sử dụng kháng đông uống là 13%, kháng tiểu cầu là 71% Ở nhóm nguy

cơ cao, chỉ 12,9% được chỉ định kháng đông uống trong khi 8,33% bệnh nhân nguy cơ thấp được cho dùng kháng đông uống

Kết luận: Bệnh nhân rung nhĩ không do bệnh lý van tim đa số có nguy cơ cao đột quỵ Có tình trạng

không tương xứng về việc sử dụng kháng đông uống với phân tầng nguy cơ CHADS 2

Từ khóa: Rung nhĩ không do bệnh lý van tim , CHADS 2 , đột quỵ, thuốc chống huyết khối, kháng tiểu cầu, kháng đông uống

ABSTRACT

CHADS 2 RISK STRATIFICATION AND ANTITHROMBOTIC TREATMENT IN

NON-VALVULAR ATRIAL FIBRILLATION

Nguyen Van Si, Chau Ngoc Hoa

* Y Hoc TP Ho Chi Minh * Vol 16 - Supplement of No 1 - 2012: 87 - 93

Background: Stroke is a severe complication of atrial fibrillation CHADS 2 is a simple, friendly tool to predict stroke risk in non-valvular atrial fibrillation Antithrombotic treatment for stroke prevention is not adequate according to many studies Currently, there is no study related to CHADS 2 risk stratification and antithrombotic treatment in Vietnam.

Objectives: To stratify stroke risk in patients with non-valvular atrial fibrillation based on CHADS 2

scheme and access the rates of oral anticoagulant and antiplatelet prescription

Research design and methods: A descriptive cross-sectional study was conducted in Nhan Dan Gia

*Bộ môn Nội tổng quát, Đại học Y Dược thành phố Hồ Chính Minh

Tác giả liên lạc: BS Nguyễn Văn Sĩ, ĐT: 0984181009, Email: dr.si.nguyen@gmail.com

Trang 2

Dinh hospital including 100 patients with non-valvular atrial fibrillation from November 2010 to July

2011

Results: 62% of patients had high risk of stroke (CHADS 2 ≥ 2), 26% had intermediate risk (CHADS 2

= 1) and 12% had low risk (CHADS 2 = 0) Hypertension and congestive heart failure were the two most encountered risk factors (56% and 47%, respectively) The prescriptions of oral anticoagulant and antiplatelet were 13% and 71%, respectively Only 12.9% high risk versus 8.33% low risk patients received oral anticoagulant

Conclusions: A majority of patients with non-valvular atrial fibrillation had high risk of stroke Oral

anticoagulant treatment was not based on CHADS 2 risk scores

Key words: Non-valvular atrial fibrillation, CHADS 2 , antithrombotic, antiplatelet, oral anticoagulant

ĐẶT VẤN ĐỀ

Rung nhĩ là loại rối loạn nhịp thường gặp

nhất Nguy cơ rung nhĩ gia tăng theo tuổi nên

sẽ tạo một gánh nặng điều trị khi tuổi thọ

trung bình của dân số gia tăng(6)

Phần lớn bệnh nhân rung nhĩ đều có bệnh

phối hợp với vai trò là nguyên nhân hoặc là

hậu quả của rung nhĩ Bệnh lý thường kèm

theo nhất với rung nhĩ là tăng huyết áp, suy

tim, bệnh lý van tim và bệnh mạch vành Khi

không có bệnh lý đi kèm và rung nhĩ xảy ra ở

người trẻ tuổi, trường hợp này gọi là rung nhĩ

đơn thuần với ít nguy cơ liên quan đến bệnh

suất và tử suất Tuy nhiên, rung nhĩ đơn

thuần chiếm tỉ lệ không cao trong dân số rung

nhĩ, chỉ khoảng 10%(6)

Đột quỵ trên bệnh nhân rung nhĩ cao gấp

5 lần so với người có nhịp xoang(12) Huyết

khối trong buồng nhĩ được xem là nguyên

nhân gây ra đột quỵ khi có rung nhĩ Bên cạnh

đó, những yếu tố nguy cơ khác của đột quỵ

cũng đóng vai trò không nhỏ trên đối tượng

bệnh nhân này Việc đánh giá nguy cơ và sử

dụng thuốc chống huyết khối để phòng ngừa

đột quỵ là một trong những điều trị thiết yếu

trên bệnh nhân rung nhĩ nhất là đối với rung

nhĩ không do bệnh lý van tim Với những

bệnh nhân nguy cơ cao, kháng đông uống đã

được chứng minh có hiệu quả trong phòng

ngừa đột quỵ Theo các nghiên cứu nước

ngoài, chỉ định kháng đông uống vẫn còn

chưa đạt tối ưu (40-60%) trong khi tỉ lệ bệnh

nhân rung nhĩ có nguy cơ cao đột quỵ chiếm

từ 2/3 trở lên(2,4,11,13) Hiện tại, trong nước chưa có nhiều nghiên cứu khảo sát về nguy cơ đột quỵ cũng như vấn đề sử dụng thuốc chống huyết khối trên bệnh nhân rung nhĩ để phòng ngừa đột quỵ Theo tác giả Châu Ngọc Hoa tiến hành khảo sát trên đối tượng bệnh nhân suy tim kèm rung nhĩ, tỉ lệ sử dụng kháng đông uống rất thấp (2,1%)(1) Do vậy, chúng tôi thực hiện nghiên cứu này nhằm phân tầng nguy cơ đột quỵ và xác định rõ hơn tình hình sử dụng thuốc chống huyết khối trên đối tượng rung nhĩ không do bệnh lý van tim

PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU Thiết kế nghiên cứu

Nghiên cứu cắt ngang mô tả

Đối tượng nghiên cứu

Tất cả bệnh nhân rung nhĩ không do bệnh

lý van tim được điều trị tại các khoa Nội lâm sàng tại bệnh viện Nhân dân Gia Định

Tiêu chuẩn chọn mẫu

Bệnh nhân có tiền căn rung nhĩ/cuồng nhĩ hoặc mới được chẩn đoán rung nhĩ/cuồng nhĩ trong thời gian tiến hành nghiên cứu

Tiêu chuẩn loại trừ

- Bệnh nhân rung nhĩ hẹp van hai lá hoặc nong van hoặc van tim nhân tạo hoặc các tổn thương van nặng hoặc tổn thương van phối hợp có ý nghĩa trên siêu âm tim

Trang 3

- Có chỉ định sử dụng kháng đông uống

khác ngoài rung nhĩ

- Có tình trạng đột quỵ cấp tính (< 3 tuần)

- Không đồng ý tham gia nghiên cứu

Phương pháp lấy mẫu

Lấy mẫu ngẫu nhiên đơn từ đầu tháng

11/2010 cho đến hết tháng 7/2011

KẾT QUẢ

Đặc điểm dân số nghiên cứu

Các đặc điểm cơ bản

Trong 8 tháng tiến hành nghiên cứu, có 119

bệnh nhân rung nhĩ được đưa vào khảo sát Sau

khi tiến hành siêu âm tim, có 100 bệnh nhân

thỏa điều kiện rung nhĩ không do bệnh lý van

tim Trong số đó, tỉ lệ bệnh nhân nữ là 55%,

nam là 45% Tuổi trung bình là 70,77 ± 13,35

Tuổi lớn nhất là 102, nhỏ nhất là 45

Bệnh lý nền (Theo chẩn đoán ra viện của bác

sĩ điều trị)

Bảng 1: Đặc điểm về bệnh lý nền

N (%)

Bệnh mạch vành 64 (64)

Cường giáp 10 (10) Bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính 15 (15)

Bệnh dạ dày tá tràng 9 (9)

Phân tầng nguy cơ đột quỵ

Các yếu tố nguy cơ đột quỵ

Bảng 2: Đặc điểm về các yếu tố nguy cơ đột quỵ

N (%)

Suy tim sung huyết 47 (47)

Tăng huyết áp 56 (56) Tuổi >= 75 43 (43) Đái tháo đường 23 (23)

Tiền căn đột quỵ/thoáng thiếu máu não 11 (11)

Hút thuốc lá 20 (20)

Bảng 3: Nguy cơ đột quỵ theo thang điểm

Thấp (CHADS 2 = 0) 12 (12)

Cao (CHADS 2 ≥ 2) 62 (62)

Tình hình sử dụng thuốc chống huyết khối

Tỉ lệ sử dụng thuốc chống huyết khối

Bảng 4: Tỉ lệ sử dụng thuốc chống huyết khối

N (%)

Kháng tiểu cầu * 71 (71) Kháng đông uống * 13 (13) Kháng tiểu cầu + Kháng đông uống 5 (5) Không sử dụng thuốc chống huyết khối 21 (21)

*: Tính cả những trường hợp sử dụng kháng tiểu cầu

phối hợp với kháng đông uống

Tỉ lệ sử dụng kháng đông uống và nguy cơ

Bảng 5: Tỉ lệ sử dụng kháng đông uống và phân

tầng theo CHADS 2

CHADS 2 = 0 (N = 12) 1 (8,33) CHADS 2 = 1 (N = 26) 4 (15,38) CHADS 2 ≥ 2 (N = 62) 8 (12,9)

Tỉ lệ sử dụng kháng đông uống và tuổi

Bảng 6: Tỉ lệ sử dụng kháng đông uống và tuổi

< 65 (N=34)

65-75 (N=26)

≥ 75 (N=40)

Kháng đông uống 6 (17,6) 4 (15,4) 3 (7,5)

So sánh đặc điểm giữa nhóm có sử dụng và không sử dụng kháng đông uống

Bảng 7: Đặc điểm về yếu tố nguy cơ và siêu âm

tim của nhóm sử dụng và không sử dụng kháng đông uống

Có sử dụng (N = 13)

Không sử dụng (N = 87)

p

Suy tim sung huyết 8 (61,54) 39 (44,83) 0,260 Tăng huyết áp 7 (53,85) 49 (56,32) 0,867 Tuổi ≥ 75 8 (61,54) 39 (44,83) 0,260 Đái tháo đường 2 (15,38) 21 (24,14) 0,727 Tiền căn đột quỵ/

thoáng thiếu máu não

3 (23,07) 8 (9,20) 0,153

CHADS 2 ≥ 2 8 (61,54) 54 (62,07) 1 Đường kính nhĩ trái 44,69 ± 10,36 40,92 ± 10,77 0,246 Đường kính thất trái 56,71 ± 7,99 52,17 ± 9,89 0,116 Phân suất tống máu 45,43 ± 25,66 50,65 ± 16.57 0,315

Trang 4

Các loại kháng tiểu cầu được sử dụng

Bảng 8: Tỉ lệ các loại kháng tiểu cầu

Kết quả

Clopidogrel 12 (16,9)

Aspirin + Clopidogrel

Có stent mạch vành

Không stent mạch vành

11 (15,49)

7 (9,86)

4 (5,63)

Các chống chỉ định thường gặp của thuốc

chống huyết khối trên bệnh nhân có nguy

cơ cao đột quỵ

Bảng 9: Tỉ lệ các chống chỉ định thường gặp của

thuốc chống huyết khối trên bệnh nhân nguy cơ

cao

Kết quả

Xuất huyết trước đó 3 (4,84)

Tiểu cầu < 100 K/μL 3 (4,84)

BÀN LUẬN

Đặc điểm của bệnh nhân rung nhĩ không

do bệnh van tim

Tuổi trung bình của dân số rung nhĩ

không do bệnh lý van tim trong nghiên cứu

của chúng tôi là 70,77 ± 13,35, tương đồng so

với một số nghiên cứu khác Tuổi cao là một

yếu tố nguy cơ của đột quỵ Đa số bệnh nhân

rung nhĩ lớn tuổi đều có nhiều bệnh lý mạn

tính cũng như các yếu tố nguy cơ đột quỵ

khác kèm theo Một điều nghịch lý được ghi

nhận trong y văn, những đối tượng bệnh

nhân lớn tuổi ít thu được lợi ích từ aspirin so

với kháng đông uống nhưng nguy cơ chảy

máu do thuốc kháng đông lại cao hơn(10,11,13)

Nghiên cứu của chúng tôi ghi nhận có tỉ lệ

bệnh nhân nữ cao hơn so với bệnh nhân nam

Kết quả này không tương hợp với một số

nghiên cứu khác tiến hành gần đây Sự khác

biệt này có thể do số lượng người tham gia

vào nghiên cứu của chúng tôi còn ít Ngoài ra,

nghiên cứu của chúng tôi có điểm nổi bật là tỉ

lệ bệnh nhân ≥ 75 tuổi chiếm xấp xỉ một nửa,

cao hơn so với một số khảo sát khác Với

những bệnh nhân rung nhĩ từ 75 tuổi trở lên, phụ nữ chiếm đến 60%(6)

Giới nữ chiếm đa số trong nghiên cứu của chúng tôi mang ý nghĩa quan trọng Từ đoàn

hệ ATRIA (The AnTicoagulation and Risk factors In Atrial fibrillation study) với hơn

15000 người, tác giả Margaret C Fang đã rút

ra kết luận giới tính nữ là yếu tố nguy cơ độc lập của đột quỵ liên quan đến rung nhĩ, kháng đông uống có hiệu quả phòng ngừa tương đương hoặc hơn so với nam giới(5) Theo tác giả Dagres, bệnh nhân nữ bị rung nhĩ

có nhiều bệnh kết hợp hơn, suy tim tâm trương nhiều hơn, chất lượng cuộc sống thấp hơn và nguy cơ đột quỵ cao hơn(3)

Đa số bệnh nhân có bệnh lý mạn tính kèm theo Bệnh mạch vành chiếm tỉ lệ nhiều nhất (64%) Việc có hay không sử dụng đồng thời kháng tiểu cầu và kháng đông uống trên những người có bệnh mạch vành vẫn còn là vấn đề tranh cãi nhưng chắc chắn tỉ lệ biến chứng xuất huyết sẽ gia tăng đáng kể khi điều trị phối hợp

Bệnh kèm theo có thể gây xao lãng cho điều trị kháng đông Tác giả Randall S Stafford trong một khảo sát mang tính chất toàn quốc tại Mỹ đã ghi nhận có sự chênh lệch về tỉ lệ sử dụng kháng đông uống khi lý

do đến khám liên quan đến rung nhĩ so với những tình trạng khác(11)

Phân tầng nguy cơ theo thang điểm CHADS2

Tăng huyết áp là yếu tố nguy cơ có tỉ lệ cao nhất trong khi tiền căn thiếu máu cục bộ não có tỉ lệ thấp nhất Mặc dù là yếu tố nguy

cơ đứng đầu trong nghiên cứu của chúng tôi nhưng tỉ lệ này thấp so với nghiên cứu của tác giả khác Điều này có thể do ảnh hưởng của

cỡ mẫu nhỏ

Đáng chú ý, nghiên cứu của chúng tôi có

tỉ lệ suy tim sung huyết cao (47%) Khác với một số nghiên cứu khác chỉ đơn thuần dựa vào phân suất tống máu trên siêu âm tim, chúng tôi chẩn đoán suy tim sung huyết dựa

Trang 5

vào tiêu chuẩn lâm sàng Framingham Tác giả

Gage và cộng sự trong bài giới thiệu thang

điểm CHADS2 cũng xác định nên chẩn đoán

suy tim sung huyết dựa vào biểu hiện lâm

sàng(7) Ngoài ra, đối tượng nghiên cứu của

chúng tôi đa số đều lớn tuổi, sự tích lũy ảnh

hưởng từ các yếu tố nguy cơ tim mạch theo

thời gian có thể góp phần gia tăng tỉ lệ suy

tim

Ngoài những yếu tố nguy cơ chính của

đột quỵ theo mô hình CHADS2, hút thuốc lá

trong nghiên cứu của chúng tôi chiếm tỉ lệ

khá cao, trên cả đái tháo đường Đây là yếu tố

quan trọng liên quan đến đột quỵ nhưng không

được các thang điểm đưa vào đánh giá Tỉ lệ hút

thuốc lá chúng tôi ghi nhận cao hơn so với các

nghiên cứu tại Âu Mỹ nhưng tương đồng với

nghiên cứu tại Nhật Bản của tác giả Masaki(9)

Theo CHADS2, đa số bệnh nhân rung nhĩ

của chúng tôi có nguy cơ cao đột quỵ với tỉ lệ

là 62%, tương tự với các nghiên cứu khác(4,9)

Cùng với tính đơn giản, dễ áp dụng, kết quả

của chúng tôi càng hỗ trợ cho giá trị của

thang điểm CHADS2 trong thực tế lâm sàng

Nhóm có CHADS2 = 0 chiếm tỉ lệ thấp

nhất với tỉ lệ 12% Dù được đánh giá có nguy

cơ thấp nhưng vẫn có một tỉ lệ nhỏ bệnh nhân

thích hợp với kháng đông uống so với kháng

tiểu cầu Cần đánh giá thêm các yếu tố nguy

cơ khác để có phác đồ điều trị phòng tối ưu

Riêng nhóm nguy cơ trung bình, những

người này có thể xem xét sử dụng kháng

đông uống hoặc aspirin Một số nghiên cứu

ủng hộ điều trị tích cực kháng đông uống cho

bệnh nhân có CHADS2 = 1(4,8)

Như vậy, thang điểm CHADS2 đã giúp

khẳng định nhu cầu kháng đông uống trong

nghiên cứu của chúng tôi là 62% dành cho các

bệnh nhân rung nhĩ có CHADS2 ≥ 2 Chúng

tôi nhận định nhu cầu này thực tế còn cao

hơn nữa khi xem xét tiếp tục những yếu tố

nguy cơ khác của đột quỵ không được đề cập

đến trong CHADS2

Tình hình sử dụng thuốc chống huyết khối

Tỉ lệ sử dụng kháng đông uống và các yếu tố ảnh hưởng

Tỉ lệ sử dụng kháng đông uống trong nghiên cứu chúng tôi còn thấp (13%) Kết quả này tương tự với tình hình sử dụng kháng đông uống tại Mỹ vào những năm 1980(11) Dựa theo phân tầng CHADS2, chỉ có 12,9% bệnh nhân nguy cơ cao được cho dùng kháng đông uống Nhóm có CHADS2 = 0, có 8,33% trường hợp được dùng kháng đông uống và 15% với CHADS2 = 1 Như vậy, bên cạnh việc điều trị chưa đúng mức (undertreatment), có thể còn có điều trị quá mức (overtreatment) đối với kháng đông uống theo nhóm nguy cơ Vai trò của kháng đông uống đối với bệnh nhân đột quỵ là không còn bàn cãi nhưng mức độ sử dụng trên lâm sàng vẫn chưa được thỏa đáng(2,11) Trong phạm vi cho phép của một nghiên cứu cắt ngang mô tả, chúng tôi tiến hành một số phân tích nhằm góp phần tìm ra một số yếu tố ảnh hưởng đến vấn đề chỉ định kháng đông uống cho bệnh nhân rung nhĩ

Liên quan với tuổi, chúng tôi chia mẫu nghiên cứu ra thành 3 nhóm theo mốc tuổi 65

và 75 65 tuổi là giới hạn trên của rung nhĩ đơn thuần còn 75 là ngưỡng nguy cơ cao theo tuổi của thang điểm CHADS2 Bệnh nhân lớn tuổi có điểm CHADS2 thường cao và cũng là đối tượng thu được lợi ích nhiều nhất từ kháng đông uống Tuy nhiên, nhóm bệnh nhân càng trẻ càng dễ có cơ hội dùng kháng đông uống trong khi những người lớn tuổi thì ngược lại Có thể nỗi lo sợ về biến chứng xuất huyết xảy ra nhiều hơn khi tuổi cao đã ảnh hưởng đến chỉ định kháng đông uống của các bác sĩ lâm sàng Một số nghiên cứu khác cũng có cùng kết quả này(10,11,13)

Khi so sánh hai nhóm có dùng và không dùng kháng đông uống, chúng tôi không tìm thấy một yếu tố nguy cơ riêng biệt (suy tim sung huyết, tăng huyết áp, lớn tuổi, đái tháo

Trang 6

đó, kích thước buồng tim trái) ảnh hưởng đến

việc sử dụng kháng đông uống Điểm

CHADS2 cũng không phải yếu tố giúp quyết

định điều trị

Khác với các nghiên cứu ngoài nước, số

lượng bệnh nhân của chúng tôi có chống chỉ

định rõ ràng với kháng đông uống chiếm tỉ lệ

cao (16,13%) Kết quả này trên thực tế có thể

còn cao hơn do chúng tôi chưa khảo sát đến

các tình trạng khác như tình trạng không ổn

định của INR, nguy cơ té ngã, sa sút trí tuệ,

Cho dù như vậy, chống chỉ định chưa thể giải

thích được thỏa đáng tình hình ít sử dụng

kháng đông uống cho đối tượng bệnh nhân

rung nhĩ

Nghiên cứu của một số tác giả có đề cập

đến sự khác biệt về tỉ lệ chỉ định kháng đông

uống giữa bác sĩ tim mạch và bác sĩ nội khoa

tổng quát(4,11) Sự chưa thống nhất giữa các hệ

thống phân tầng nguy cơ và hướng dẫn điều

trị có thể góp phần ảnh hưởng đến thói quen

sử dụng kháng đông uống cho bệnh nhân

rung nhĩ(7) Ngoài ra, mức độ cập nhật khuyến

cáo cũng như chính sách của từng quốc gia

cũng gây tác động không nhỏ lên tình hình sử

dụng thuốc chống huyết khối(8) Do vậy, cần

có thêm nhiều nghiên cứu khảo sát thêm

những yếu tố có tiềm năng gây ra tình hình ít

sử dụng thuốc kháng đông trên đối tượng rung

Việt Nam

Tỉ lệ sử dụng thuốc kháng tiểu cầu và các

yếu tố ảnh hưởng

Kháng tiểu cầu được sử dụng nhiều trong

nghiên cứu của chúng tôi với aspirin là thuốc

thường được sử dụng nhất Tỉ lệ này cao hơn

so với các tác giả nước ngoài nhưng tương

đồng với tác giả Châu Ngọc Hoa(1)

Chỉ định của kháng tiểu cầu rất rộng rãi,

hiệu quả của thuốc đã được chứng minh đối

với những đối tượng bệnh nhân bệnh mạch

vành, đái tháo đường, tăng huyết áp và cả với

những người lớn tuổi trong phòng ngừa biến

chứng tim mạch Chúng tôi tiến hành so sánh

hai nhóm có và không dùng kháng tiểu cầu quy chiếu với các chỉ định ngoài rung nhĩ Kết quả cho thấy không có sự khác biệt giữa hai nhóm Tương tự đối với cách điều trị kháng tiểu cầu kép Chỉ định phổ biến của phác đồ này là hội chứng mạch vành cấp và bệnh mạch vành có đặt stent Trong nghiên cứu của chúng tôi, vẫn có một tỉ lệ bệnh nhân được chỉ định kháng tiểu cầu kép mà không có hai chỉ định liên quan đến bệnh tim thiếu máu cục

bộ

So với kháng đông uống, kháng tiểu cầu

rõ ràng có ưu thế hơn hẳn về tác dụng phụ liên quan đến xuất huyết Tuy vậy, nhóm tác giả trong nghiên cứu J-RHYTHM ghi nhận kháng tiểu cầu là yếu tố làm giảm chỉ định kháng đông uống cho bệnh nhân rung nhĩ(8) Ngoài ra, số người lớn tuổi trong nghiên cứu của chúng tôi có tỉ lệ cao và kháng tiểu cầu sẽ giảm hiệu quả bảo vệ chống đột quỵ cho những đối tượng này trong khi tác dụng của kháng đông không thay đổi Do đó, việc sử dụng rộng rãi kháng tiểu cầu để phòng ngừa đột quỵ có thể giúp thầy thuốc và bệnh nhân bớt lo ngại về biến chứng chảy máu nhưng đồng thời lợi ích thu được cũng không nhiều

KẾT LUẬN

Qua khảo sát 100 bệnh nhân rung nhĩ không do bệnh lý van tim tại các khoa nội lâm sàng tại bệnh viện Nhân Dân Gia Định, chúng tôi rút ra một số kết luận sau:

- Dân số nghiên cứu có tuổi trung bình là 70,77 ± 13,35; 47% số bệnh nhân ≥ 75 tuổi và

nữ giới chiếm 55% Bệnh lý phối hợp thường gặp nhất là bệnh mạch vành (64%)

- Theo mô hình CHADS2, 62% số bệnh nhân có nguy cơ cao đột quỵ (CHADS2 ≥ 2), 26% có nguy cơ trung bình (CHADS2 = 1) và 12% có nguy cơ thấp (CHADS2 = 0) Yếu tố nguy cơ đột quỵ chiếm tỉ lệ cao nhất là tăng huyết áp (56%) và suy tim sung huyết (47%)

- Tỉ lệ sử dụng kháng đông uống là 13%

và kháng tiểu cầu là 71% Có tình trạng không tương xứng về việc sử dụng kháng đông uống

Trang 7

đối với phân tầng nguy cơ đột quỵ theo thang

điểm CHADS2: Ở nhóm bệnh nhân có nguy cơ

cao đột quỵ cần sử dụng kháng đông, chỉ có

12,9% được chỉ định kháng đông uống trong

khi 8,33% số bệnh nhân nguy cơ thấp được

cho dùng kháng đông uống

Chúng tôi nhận thấy cần có thêm những

nghiên cứu tương tự với cỡ mẫu lớn hơn và

tiến hành trên đa trung tâm để có cái nhìn

toàn diện về vấn đề rung nhĩ không do bệnh

lý van tim Ngoài ra, thang điểm CHADS2 nên

được lượng giá về hiệu quả trên đối tượng

người Việt Nam bằng những nghiên cứu cắt

dọc Và trên hết, nên tiến hành nghiên cứu

khảo sát những yếu tố từ bệnh nhân và thầy

thuốc có thể ảnh hưởng đến chỉ định kháng

đông uống trong rung nhĩ

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Châu Ngọc Hoa (2011) Rung nhĩ ở bệnh nhân suy tim Y

học thành phố Hồ Chí Minh, tập 15, phụ bản số 1, tr 112-116

2 Connolly, S J (2000) Anticoagulation for patients with

atrial fibrillation and risk factors for stroke Warfarin

reduces the risk by two thirds, but doctors still aren't

prescribing it enough BMJ, 320(7244), pp 1219-1220

3 Dagres, N., et al (2007) Gender-related differences in

presentation, treatment, and outcome of patients with atrial

fibrillation in Europe: a report from the Euro Heart Survey

on Atrial Fibrillation J Am Coll Cardiol, 49(5), pp 572-577

4 Dinh, T., et al (2007) Antithrombotic drug prescription in

atrial fibrillation and its rationale among general

practitioners, internists and cardiologists in The Netherlands The EXAMINE-AF study A questionnaire

survey Int J Clin Pract, 61(1), pp 24-31

5 Fang MC, et al (2005) Gender differences in the risk of ischemic stroke and peripheral embolism in atrial fibrillation: the AnTicoagulation and Risk factors In Atrial

fibrillation (ATRIA) study Circulation, 112(12), pp 1687-1691

6 Fuster V., et al (2006) ACC/AHA/ESC 2006 Guidelines for the Management of Patients with Atrial Fibrillation: a report

of the American College of Cardiology/American Heart Association Task Force on Practice Guidelines and the European Society of Cardiology Committee for Practice

Guidelines Circulation, 114(7), pp e257-354

7 Gage BF., et al (2001) Validation of clinical classification schemes for predicting stroke: results from the National

Registry of Atrial Fibrillation JAMA, 285(22), pp 2864-2870

8 J-RHYTHM Registry Investigators (2011) Determinants of Warfarin Use and International Normalized Ratio Levels in

Atrial Fibrillation Patients in Japan Circ J

9 Masaki N et al (2009) Effectiveness of risk stratification according to CHADS 2 score in Japanese patients with

nonvalvular atrial fibrillation Int Heart J, 50(3), pp 323-329

10 Simpson CR et al (2005) Evidence for age and sex differences in the secondary prevention of stroke in Scottish

primary care Stroke, 36(8), pp 1771-1775

11 Stafford RS & Singer DE (1998) Recent national patterns of

warfarin use in atrial fibrillation Circulation, 97(13), pp

1231-1233

12 Wolf, PA., Abbott, RD & Kannel, WB (1991) Atrial fibrillation as an independent risk factor for stroke: the

Framingham Study Stroke, 22(8), pp 983-988

13 Wyse, DG (2007) Bleeding while starting anticoagulation for thromboembolism prophylaxis in elderly patients with

atrial fibrillation: from bad to worse Circulation, 115(21), pp

2684-2686

Ngày đăng: 22/01/2020, 01:30

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm