1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Rối loạn đông máu trong sốc nhiễm khuẩn trẻ em

6 99 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 6
Dung lượng 344,28 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Sốc nhiễm khuẩn thường gặp và hiện có tỷ lệ tử vong cao. Rối loạn đông máu là một trong những tổn thương gây ra bởi nhiễm khuẩn và sốc cũng như là nguyên nhân gây rối loạn chức năng các cơ quan. Vad đây cũng là lý do khiến đề tài được tiến hành nhằm khảo sát tình trạng rối loạn đông máu ở trẻ sốc nhiễm khuẩn tại khoa hồi sức bệnh viện Nhi đồng 1.

Trang 1

Phùng Nguyễn Thế Nguyên* 

TÓM TẮT 

Đặt vấn đề‐mục tiêu: Sốc nhiễm khuẩn thường gặp và hiện có tỷ lệ tử vong cao. Rối loạn đông máu là 

một trong những tổn thương gây ra bởi nhiễm khuẩn và sốc cũng như là nguyên nhân gây rối loạn chức  năng các cơ quan. Chúng tôi khảo sát tình trạng rối loạn đông máu ở trẻ sốc nhiễm khuẩn tại khoa hồi sức  bệnh viện Nhi đồng 1. 

Phương pháp nghiên cứu: Mô tả tiền cứu trên 83 trẻ sốc nhiễm khuẩn từ 10/2008 đến 4/2011. 

Kết  quả:  Tỷ lệ xuất huyết da là 15,7%, niêm là 26,5% tại thời điểm chẩn đoán. Hầu hết xuất huyết 

nhẹ. Xét nghiệm đông máu toàn bộ TQ và TCK, INR có bất thường nhiều nhất. Tỷ lệ giảm fibrinogen < 1  g/dl là 20,5% và tỷ lệ D‐dimer dương tính trong 24 giờ > 60%. Tỷ lệ rối loạn đông máu trong 24 giờ đầu >  53% theo Chương trình toàn cầu về kiểm soát nhiễm khuẩn nặng và sốc nhiễm khuẩn. Nhóm tử vong có rối  loạn chức năng đông máu là 71,1% trong khi nhóm sống là 38,6%. Tỷ lệ truyền hồng cầu lắng 47% trong 

đó hầu hết truyền 1 đơn vị (125 ml) trong 24 giờ đầu. 15,7% truyền kết tủa lạnh và 1 trường hợp truyền  tiểu cầu đậm đặc. 

Kết luận: Rối loạn chức năng đông máu có tỷ lệ cao trong sốc nhiễm khuẩn. Nhóm tử vong có rối loạn 

đông máu cao hơn nhóm sống và tỷ lệ truyền máu cao ở trẻ sốc nhiễm khuẩn. 

Từ khóa: sốc nhiễm khuẩn, rối loạn đông máu 

ABSTRACT 

COAGULATANT DISORDORS OF PEDIATRIC SEPTIC SHOCK  

Phung Nguyen The Nguyen * Y Hoc TP. Ho Chi Minh * Vol. 18 ‐ Supplement of No 1 ‐ 2014: 368‐373 

Background‐  objectives:  Septic shock is common condition and has a high mortality rate in our country 

currently.  Coagulation  disorder  is  not  only  one  of  the  consequences  caused  by  infection  and  shock  but  also  a  source of dysfunction of the other organs. We study coagulation disorders in pediatric septic shock in PICU at  Children’s Hospital Number 1. 

Methods: Prospective described in 83 children with septic shock from October 2008 to April 2011. 

Results: At time of shock diagnosed, the cutaneous bleeding rate was 15.7% and the mucosa bleeding was 

26.5%. Most of them were mild hemorrhage. TQ, TCK and INR test were abnormal mainly. The rate of decreased  fibrinogen < 1g/dL was 20.5% and the rate of positive D‐dimer in 24 hours > 60%. The prevalence of coagulation  disorders  in  the  first  24  hours  >  53%  according  to  the  surviving  sepsis  compaign.  The  rate  of  coagulation  disorders was 71.1% in the mortality group while 38.6% in the alive group. The packed red blood cell transfusion  rate was 46%, in which most of case needed 1 unit (125ml) in the first 24 hours. There were 15.7% cryoprecipate  transfusion and 1 case of concentrated platelet transfusion. 

Conclusions:  There  were  a  high  prevalence  of  coagulation  disorders  in  septic  shock.  The  coagulation 

disorder rate in the mortality group was higher than the live group, in addtion, the blood transfusion rate was  high in pediatric septic shock. 

Key words: septic shock, coagulation disorder 

* Bộ Môn Nhi, Đại học Y Dược TP. HCM 

Trang 2

Sốc  nhiễm  khuẩn  (SNK)  là  một  hội  chứng 

lâm sàng thường gặp tại khoa Hồi sức‐ Cấp cứu 

Nhi. Theo Jerry J. Zimmerman 5‐30% trẻ nhiễm 

khuẩn huyết sẽ diễn tiến  đến  sốc  nhiễm  khuẩn 

và hội chứng này chiếm 63% trẻ bị nhiễm khuẩn 

nhập khoa săn sóc tăng cường(14). Tại bệnh viện 

Nhi đồng 1 năm 1991‐1992 tỷ lệ SNK là 32,1%(3); 

năm 2003‐2005 tỷ lệ sốc nhiễm khuẩn là 53,27% 

ở  trẻ  nhiễm  khuẩn  huyết(1).  Tử  vong  do  SNK 

cũng  rất  cao,  năm  2000‐2003  tại  bệnh  viện  Nhi 

đồng 2 tỷ lệ tử vong là 86,5%(9). Năm 2003‐2005 

tại bệnh viện Nhi đồng 1 tỷ lệ tử vong là 49%(1). 

Nghiên cứu tại bệnh viện Nhi Trung Ương năm 

2004 tỷ lệ tử vong là 81,6%. Theo Vũ Văn Đính 

tử  vong  do  nhiễm  khuẩn  nặng  và  sốc  nhiễm 

khuẩn  là  20‐50%  và  khi  có  suy  đa  cơ  quan  tử 

vong là 80‐85%. 

Rối  loạn  đông  máu  đã  được  ghi  nhận  ở 

bệnh nhân SNK và những bất thường này góp 

phần gây suy chức năng cơ quan và tử vong ở 

trẻ. Đông máu rãi rác trong lòng mạch là một 

rối  loạn  nặng  gặp  trong  38%  bệnh  nhân  SNK 

và tỷ lệ tử vong khi có rối loạn này là 42‐86%. 

Việc  chẩn  đoán  sớm  rối  loạn  đông  máu,  giúp 

cho  bác  sĩ  lâm  sàng  can  thiệp  kịp  thời  nhằm 

đánh  giá  và  điều  trị  hiệu  quả  rối  loạn  đông 

máu,  tránh  tổn  thương  cơ  quan  và  góp  phần 

làm giảm tử vong ở trẻ. 

Cho  đến  nay  chưa  có  công  trình  nào 

nghiên cứu rối loạn đông máu trong SNK ở trẻ 

em, vì vậy chúng tôi tiến hành đề tài này nhằm 

góp phần nghiên cứu rối loạn đông máu trong 

SNK.  

Mục tiêu đề tài  

1. Xác định tỷ lệ các  biểu  hiện  lâm  sàng  rối 

loạn đông máu ở bệnh nhi SNK. 

2. Xác định tỷ lệ bất thường trên đông máu 

toàn bộ và diễn tiến của nó. 

3.  Nhận  xét  quá  trình  điều  chỉnh  rối  loạn 

đông máu. 

PHƯƠNG PHÁP ‐ ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU  Thiết kế nghiên cứu 

Chúng  tôi  thực  hiện  mô  tả  tiến  cứu  trên  83  trẻ SNK tại BV Nhi đồng 1. 

Tiêu chí chọn bệnh  

Chọn  tất  cả  trẻ  nhập  khoa  Cấp  cứu  ‐  Hồi  sức  Bệnh  viện  Nhi  đồng  1  trong  thời  gian  từ  10/2008 đến 4/2011 được chẩn đoán SNK (bao  gồm rối loạn chức năng tuần hoàn + tình trạng  nhiễm  khuẩn)  theo  tiêu  chuẩn  về  chẩn  đoán  SNK  đã  thống  nhất  của  Hội  thảo  Quốc  tế  về  NKH năm 2002(9). 

Tiêu chí loại trừ  

Loại tất cả trẻ < 2 tháng, trẻ nhiễm HIV, trẻ 

có  bệnh  tim  bẩm  sinh  tím  hay  có  bệnh  lý  bẩm  sinh ảnh hưởng trên tiên lượng như bại não, bất  thường bẩm sinh thần kinh cơ, nội tiết. Trẻ có rối  loạn  chức  năng  các  cơ  quan  trước  khi  nhiễm  khuẩn  huyết  như  suy  gan,  suy  thận  trước  đó.  Trẻ  có  bệnh  lý  rối  loạn  đông  máu  hay  đang  dùng thuốc kháng đông. 

Phương pháp tiến hành 

Tất  cả  các  trẻ  đều  được  hỏi  bệnh  sử,  khám  lâm sàng, thực hiện xét nghiệm và điều trị theo  phác đồ hiện nay của bệnh viện. 

Đông  máu  toàn  bộ,  công  thức  máu  được  thực  hiện  tại  3  thời  điểm  0,6  giờ  và  24  giờ  sau  chẩn đoán. 

Dữ  liệu  được  thu  thập  bằng  bệnh  án  mẫu  thống nhất. Xử lý số liệu bằng phần mềm SPSS 

18.  So  sánh  trung  bình  của  các  biến  số  định  lượng  giữa  các  nhóm  bằng  phép  kiểm  Mann  whitney  test.  So  sánh  tỉ  lệ  của  các  biến  số  định  tính  bằng  phép  kiểm  Chi  bình  phương  (2)  có  hiệu  chỉnh  Fisher  exact  test.  Sự  khác  biệt  có  ý  nghĩa khi p < 0,05. 

Chúng tôi định nghĩa rối loạn chức năng các 

cơ quan dựa vào Hội thảo Quốc tế về NKH năm 

2002(4). Ngưỡng bất thường của các giá trị đông  máu như sau: TQ dài > 18 giây, TCK dài trên 44  giây, Fibrinogen giảm khi < 1 g/lít và tăng khi > 6  g/lít, tiểu cầu giảm khi < 100.000/ mm3. 

Trang 3

< 80.000/mm3. 

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 

Có 83 trẻ  thỏa  tiêu  chuẩn  nghiên  cứu  trong 

thời gian trên. 

Bảng 1: Đặc điểm dân số nghiên cứu 

Vị trí nhiễm khuẩn (%)

Lâm sàng

Cận lâm sàng

Bảng 2: Tỷ lệ xuất huyết da và niêm trên bệnh nhi 

SNK 

Xuất  huyết  da  hầu  hết  là  dạng  chấm,  bầm 

chổ  chích.  Xuất  huyết  niêm  là  xuất  huyết  tiêu 

hóa qua sond dạ dày. Chỉ một trường hợp chảy 

máu nhiều, còn lại đều xuất huyết lượng ít. 

Bảng 3: Tỷ lệ bất thường đông máu trên xét nghiệm 

đông máu toàn bộ 

Fibrinogen < 1g/l (%) 20,5 14,5 19,3

D-Dimer dương tính (%) 61,5 63,4 63,4

Bảng 4: Tỷ lệ rối loạn chức năng đông máu tại 3 thời 

điểm 

Không  ghi  nhận  khác  biệt  về  rối  loạn  đông  máu trên lâm sàng và xét nghiệm giữa nhóm vi 

khuẩn gram dương và gram âm. 

Bảng 5: Bất thường đông máu giữa nhóm tử vong và 

sống tại thời điểm chẩn đoán 

Fibrinogen< 1g/dl(%) 30,8 11,4 0,03

* Tiểu cầu giảm khi tiểu cầu < 80.000/mm3 

Tỷ lệ các chế phẩm máu được truyền 

Hồng  cầu  lắng  47%  với  lượng  truyền  là  10  ml/kg, trong đó 3,6% được truyền trong 6 giờ và  38,6%  được  truyền  trong  khoảng  từ  6‐24  giờ. 

Huyết  tương  đông  lạnh  là  15,7%  với  lượng  truyền là 10‐20 ml/kg. 1 trường hợp truyền tiểu  cầu do xuất huyết tiêu hóa nhiều. 

BÀN LUẬN  Lâm sàng 

Tỷ lệ xuất huyết da niêm tại thời điểm chẩn  đoán là 42,2%, trong đó xuất huyết dạ dày nhiều  hơn xuất huyết ở da. Tỷ lệ này thay đổi không  đáng kể trong 24 giờ điều trị.  Lê  Thanh  Cẩm(4),  tại  Bệnh  viện  Nhi  đồng  1  cũng  ghi  nhận  tỷ  lệ  xuất huyết da niêm ở bệnh nhân SNK được cấy  máu  dương  tính  là  47,3%  và  ở  nhóm  nhiễm  khuẩn  huyết  (NKH)  là  20,2%.  Nguyễn  Mạnh  Hùng(6) ghi nhận tỷ lệ xuất huyết da niêm trong  SNK là 86,6%. Trương Thị Hòa(11) ghi nhận xuất  huyết da niêm ở NKH là 31,7% và ở nhóm sốc là  21,2%. Các nghiên cứu có kết quả khác nhau, tuy  nhiên  cũng  ghi  nhận  tỷ  lệ  xuất  huyết  da  niêm  cao  trong  SNK.  Đa  số  xuất  huyết  mức  độ  nhẹ  đến  trung  bình,  ít  có  xuất  huyết  nặng,  trong  nghiên  cứu  chúng  tôi  có  một  trường  hợp  xuất  huyết tiêu hóa nặng và 2 trường hợp xuất huyết  trong cơ và mô dưới da tại vùng chích. 

Trang 4

Tỷ  lệ  bất  thường  TQ,  đường  đông  máu 

ngoại  sinh,  là  rất  cao  80,7%.  Trong  NKH  hoạt 

hóa ban đầu là đông máu ngoại sinh thông qua 

yếu  tố  mô.  Tuy  vậy  trong  24  giờ  đầu,  tỷ  lệ  bất 

thường  này  có  giảm,  có  thể  do  điều  trị  bằng 

huyết tương tươi hay bằng vitamin K1. Tỷ lệ bất 

thường  này  cũng  ghi  nhận  ở  nhóm  tử  cao  hơn 

nhóm  sống.  các  nghiên  cứu  về  NKH  của  Lê 

Thanh  Cẩm,  Bùi  Quốc  Thắng,  Trương  Thị  Hòa 

cũng ghi nhận tỷ lệ bất thường TQ cao và cao ở 

nhóm tử vong và nhóm sốc(1,4,11). 

Bất  thường  TCK,  đông  máu  nội  sinh,  tại 

thời  điểm  chẩn  đoán  là  54,2%  và  trong  24  giờ 

tỷ  lệ  này  có  giảm.  Chúng  tôi  không  ghi  nhận 

khác  biệt  giữa  nhóm  tử  và  nhóm  sống  dù 

nhóm  tử  có  tỷ  lệ  bất  thường  TCK  cao  hơn. 

Cũng  không  ghi  nhận  khác  biệt  về  TCK  giữa 

nhóm  vi  khuẩn  gram  dương  và  gram  âm  hay 

giữa  nam  và  nữ.  Nghiên  cứu  rối  loạn  đông 

máu  trong  NKH  của  Lê  Thanh  Cẩm  cho  thấy 

không có sự khác biệt của xét nghiệm này theo 

tuổi,  giới  và  vi  khuẩn.  Nghiên  cứu  của  Lê 

Thanh Cẩm và Bùi Quốc Thắng cũng ghi nhân 

TCK kéo dài ở nhóm sốc và nhóm tử vong(1). 

Tỷ lệ giảm fibrinogen nặng là 20,5% và tỷ lệ 

giảm  này  cao  ở  nhóm  tử  vong.  Tuy  vậy  chúng 

tôi không ghi nhận tương quan về mặt lâm sàng 

giữa  nhóm  giảm  nặng  hay  giảm  nhẹ  và  bình 

thường  của  xét  nghiệm  này.  Nghiên  cứu  NKH 

của Bùi Quốc Thắng và rối loạn đông máu  của 

Lê Thanh Cẩm cũng ghi nhận nhóm sốc và tử có 

tỷ lệ giảm fbrinogen cao hơn(1). 

Tỷ lệ D‐dimer dương tính > 60% và thay đổi 

không đáng kể trong 24 giờ đầu. Năm 2011 bệnh 

viện có thực hiện định lượng D‐dimer, ngày nay 

người ta dựa vào bảng điểm để đánh giá đông 

máu  nội  mạch  lan  tỏa,  dựa  vào  tiểu  cẩu, 

fibrinogen, TCK và kết quả định lượng D‐dimer 

với  điểm  số  ≥  5  là  có  đông  máu  nội  mạch  lan 

tỏa(5). Tỷ lệ D‐dimer dương tính cao cho thấy có 

sự hình thành huyết khối nội mạch với tỷ lệ cao 

trong  SNK  ở  trẻ  em.  Tuy  vậy  chúng  tôi  không 

ghi  nhận  trường  hợp  nào  bị  tắc  mạch  hay  thuyên tắc lớn xảy ra. 

Giá  trị  tiểu  cầu  thì  không  khác  biệt  giữa  nhóm  sống  và  nhóm  tử.  Tuy  nhiên  tỷ  lệ  giảm  tiểu cầu thì cao ở nhóm tử hơn nhóm sống. Bùi  Quốc Thắng, Trương Thị Hòa và Lê Thanh Cẩm  cũng không ghi nhận khác biệt về trị số tiểu cầu  giữa nhóm tử và nhóm sống, nhóm sốc và nhóm  không  sốc  trong  NKH(1,  4,  11).  Các  tác  giả  này  không so sánh tỷ lệ giảm tiểu cầu giữa 2 nhóm.  Giảm  tiểu  cầu  là  yếu  tố  tiên  lượng  nặng  trong  một số nghiên cứu. Nguyên nhân làm số lượng  tiểu  cầu  giảm  trong  NKH  cũng  được  nhiều  tác  giả đề cập đến như: do nội độc tố của vi khuẩn  gram  âm  và  ngoại  độc  tố  của  vi  khuẩn  gram  dương làm tổn thương tế bào nội mạc, bộc lộ lớp  dưới nội mạc mạch máu gồm các sợi collagen và 

vi  sợi  gây  kết  dính,  ngưng  tập  tiểu  cầu,  giải  phóng ra các yếu tố tiểu cầu, khởi phát quá trình  đông máu, hình thành các cục máu đông nhỏ rải  rác trong lòng mạch. Tiểu cầu và các yếu tố đông  máu bị tiêu thụ vào các cục máu đông nhỏ này,  nên bị giảm số lượng ở ngoại vi. Quá trình đông  máu trong lòng mạch càng mạnh thì tiểu cầu bị  tiêu thụ càng nhiều. Mặt khác, khả năng tạo tiểu  cầu  từ  các  mẫu  tiểu  cầu  trong  tủy  xương  ngày  càng giảm đi, một trong những nguyên nhân đó 

là  do  chức  năng  gan  suy  giảm  gây  giảm  tổng  hợp  thrombopoietin,  dẫn  đến  tình  trạng  giảm  nặng  tiểu  cầu  ở  ngoại  vi,  là  một  trong  những  nguyên nhân gây xuất huyết trên lâm sàng(13).  

Tỷ lệ rối loạn đông máu tại thời điểm chẩn  đoán  là  53,7%  và  thay  đổi  ít  trong  24  giờ  đầu  điều  trị.  Có  sự  khác  biệt  rối  loạn  đông  máu  giữa nhóm sống và nhóm tử vong. Sốc kéo dài,  rối  loạn  chức  năng  gan  làm  nặng  thêm  tình  trạng rối loạn đông máu. Mặc dù rối loạn đông  máu  không  là  nguyên  nhân  trực  tiếp  gây  tử  vong, nhưng mất máu làm giảm khả năng giao  oxy cho mô. 

Điều trị 

Tỷ  lệ  truyền  máu  cao  ở  trẻ  SNK,  47%  trẻ  được  truyền  hồng  cầu  lắng,  trong  đó  phần  lớn  truyền trong vòng 24 giờ đầu sau chẩn đoán. 34 

Trang 5

tỷ lệ suy dinh dưỡng thấp và đa số trẻ suy dinh 

dưỡng  mức  độ  nhẹ  và  trung  bình,  nhưng  tỷ  lệ 

Hct < 30% cao ở trẻ SNK. Trong SNK chúng tôi 

truyền  máu  để  duy  trì  Hct  tối  thiểu  30%  theo 

khuyến  cáo  của  SSC.  Tuy  nhiên  cũng  theo 

khuyến cáo này nếu trẻ không sốc, hay sốc đã ổn 

định, không suy hô hấp và không chảy máu Hct 

có  thể  duy  trì  thấp  hơn  với  Hb  từ  7‐9  g/dl. 

Nghiên  cứu  năm  2012  của  Park  DW,  cho  thấy 

truyền  máu  có  thể  có  lợi  ở  bệnh  nhân  nặng(7). 

Một  khảo  sát  trên  164  người  lớn  sốc  nhiễm 

khuẩn(8),  tỷ  lệ  truyền  máu  là  60,3%;  lượng  máu 

truyền trung bình khoảng 900 ml; Không có sự 

khác  biệt  về  tử  vong  giữa  nhóm  truyền  hay  có 

truyền máu. 

Ở  những  trẻ  bất  thường  đông  máu  và  có 

xuất  huyết  trên  lâm  sàng  chúng  tôi  truyền  các 

yếu tố đông máu thiếu. Trong nghiên cứu này 1 

được  truyền  tiểu  cầu  đậm  đặc  và  15,7%  truyền 

huyết tương tươi đông lạnh. Hiện nay không có 

hướng dẫn chung thống nhất nào cho việc điều 

trị  rối  loạn  đông  máu.  Một  số  khuyến  cáo  sau 

đây cho việc điều trị(2): 

‐  Truyền  tiểu  cầu:  chỉ  định  khi  tiểu  cầu  ≤ 

10.000/mm3  hay  khi  tiểu  cầu  ≤  20.000/mm3  nếu 

bệnh  nhân  có  nguy  cơ  chảy  máu  hay  khi  tiểu 

cầu ≥ 50.000/mm3 và đang chảy máu, phẫu thuật 

hay thủ thuật xâm lấn. 

‐  Truyền  plasma  tươi  đông  lạnh  và  kết  tủa 

lạnh (với tỷ lệ 10 đơn vị kết tủa lạnh thì 2‐3 đơn 

vị  plasma)  để  đạt  được  thời  gian  prothrombin 

nằm  trong  khoảng  2‐3  giây  so  với  chứng  và 

nồng độ fibrinogen > 1g/l. 

Nếu bệnh nhân đông máu nội mạch lan tỏa 

đang ở giai đoạn tăng đông, việc cung cấp thêm 

yếu tố đông máu sẽ càng khuyếch đại quá trình 

tạo  thrombin,  tạo  điều  kiện  hình  thành  các  cục 

máu đông nhỏ làm nặng thêm tình trạng nghẽn 

mạch huyết khối, hậu quả làm dòng máu bị bít 

tắc, dẫn đến thiếu máu tổ chức. Đây là giai đoạn 

tốt  nhất  để  chỉ  định  dùng  Heparin  nhằm  ngăn 

chặn  sự  lan  rộng  của  các  cục  máu  đông,  do 

lượng  antithrombin‐III  còn  chưa  bị  tiêu  thụ 

nhiều  và  Heparin  còn  phát  huy  hiệu  quả  tốt.  Nếu  bệnh  nhân  đông  máu  nội  mạch  lan  tỏa  đang ở giai đoạn giảm đông hoặc tiêu sợi huyết,  tức là khi hệ thống đông máu và hệ thống chống  đông  máu  đã  bị  suy  kiệt  do  tiêu  thụ,  thì  việc  cung cấp các yếu tố đông máu và tiểu cầu là rất  cần thiết. Sau khi bệnh nhân được sử dụng các  yếu tố đông máu và tiểu cầu, có thể các rối loạn  đông máu tạm thời được cải thiện, thậm chí các  xét nghiệm đông máu có thể trở lại bình thường,  nhưng nếu bệnh nguyên không được giải quyết,  thì lập tức các yếu tố đông máu và tiểu cầu mới  được truyền sẽ bị lôi  cuốn  vào  dòng  thác  đông  máu  đang  tiếp  diễn,  nên  rối  loạn  đông  máu  sẽ  không được giải quyết. Hiện tượng tiêu thụ quá  nhiều các yếu tố đông máu và tiểu cầu đã tạo ra  các sản phẩm thoái hóa một cách ồ ạt, gây  nên 

ức  chế  hoạt  động  đông  máu  và  chức  năng  tiểu  cầu,  góp  phần  làm  suy  yếu  toàn  bộ  hệ  thống  đông  máu  nhanh  hơn.  Hoạt  đông  cầm  máu,  đông  máu  và  tiêu  fibrin  trở  nên  hết  sức  hỗn  loạn,  là  nguyên  nhân  góp  phần  làm  suy  đa  cơ  quan  và  làm  tăng  tỷ  lệ  tử  vong.  Do  vậy  muốn  giải  quyết  tận  gốc  rối  loạn  đông  máu  trong  NKH,  thì  cần  phải  loại  trừ  được  yếu  tố  bệnh  nguyên. 

Một vấn đề nữa được đặt ra là việc sử dụng  thuốc  chống  tiêu  fibrin  (anti‐fibrinolytic  agents)  như  thế  nào,  bởi  vì  trong  DIC  thường  có  tiêu  fibrin thứ phát. Theo một số tài liệu,  thuốc  này  được chỉ định khi bệnh nhân xuất huyết nặng và  không đáp ứng với điều trị thay thế, đồng thời  vẫn còn hiện tượng tiêu sợi huyết mạnh. Bởi vì  trong  giai  đoạn  này,  nếu  cục  máu  đông  được  hình thành sẽ  bị  tan  ngay  do  quá  trình  tiêu  sợi  huyết  diễn  ra  mạnh,  trên  lâm  sàng  biểu  hiện  truyền  plasma  tươi  và  tiểu  cầu  thỏa  đáng,  nhưng  bệnh  nhân  vẫn  tiếp  tục  xuất  huyết,  xét  nghiệm có biểu hiện tiêu sợi huyết rõ. Nên cẩn  thận khi dùng các thuốc chống tiêu sợi huyết, đề  phòng hiện tượng huyết khối tái lập lại. 

Điều  trị  rối  loạn  đông  máu  ở  bệnh  nhân  NKH là rất phức tạp, vì các rối loạn này khi xảy 

ra thì diễn tiến rất nhanh và dễ thay đổi từ trạng 

Trang 6

tạo  nên  vòng  xoắn  bệnh  lý.  Điều  trị  rối  loạn 

đông máu trong NKH là một điều trị tổng hợp, 

bao  gồm  điều  trị  bệnh  nguyên  là  căn  bản.  Có 

giải  quyết  được  bệnh  nguyên  thì  mới  dập  tắt 

được  dòng  thác  đông  máu.  Điều  trị  thay  thế: 

cung cấp các yếu tố đông máu và tiểu cầu là cần 

thiết.  Liệu  pháp  Heparin:  nếu  bệnh  nhân  DIC 

đang  ở  giai  đoạn  tăng  đông  hoặc  nếu  trước  đó 

bệnh  nhân  có  tình  trạng  giảm  đông  nhưng  đã 

được  điều  trị,  và  chuyển  sang  giai  đoạn  tăng 

đông trở lại. Sử dụng thuốc chống tiêu sợi huyết 

nếu cần. Protein C hoạt hóa không thấy có lợi ở 

trẻ em và ngày nay không còn được khuyến cáo 

sử dung do tăng nguy cơ chảy máu(2). 

KẾT LUẬN  

Rối  loạn  đông  máu  có  tỷ  lệ  cao  trong  SNK. 

Rối loạn đông máu nặng nề ở trẻ tử vong. Trong 

SNK truyền máu có tỷ lệ cao nhằm duy trì Hct 

tối thiểu 30%. 

TÀI LIỆU THAM KHẢO 

đổi sinh học trong nhiễm khuẩn huyết trẻ em, Luận án tiến sỹ 

y học chuyên ngành nhi khoa. Đại Học Y Dược Tp. Hồ Chí 

Minh. 

Sepsis  Campaign:  International  Guidelines  for  Management 

of  Severe  Sepsis  and  Septic  Shock:  2012ʺ,  Critical  care 

medicine; 41(2): 580‐637. 

huyết tại bệnh viện Nhi đồng 1. Luận văn  tốt  nghiệp  bác  sĩ 

nội trú chuyên nghành nhi. Đại học Y Dược Tp. Hồ Chí Minh. 

nhiễm  khuẩn  huyết  trẻ  em  tại  bệnh  viện  Nhi  đồng  1.  Luận  văn tốt nghiệp bác sĩ chuyên khoa cấp 2, Đại học Y Dược TP. 

Hồ Chí Minh. 

Chest Med; 29: 627–642. 

cận lâm sàng và điều trị rối loạn đông máu ở bệnh nhân sốc  nhiễm khuẩn.ʺ Luận văn thạc sỹ y học, Trường Đại học Y Hà  Nội, Hà Nội. 

transfusions  are  associated  with  lower  mortality  in  patients  with  severe  sepsis  and  septic  shock:  a  propensity‐matched  analysis*.ʺ Crit Care Med; 40(12): 3140‐3145. 

cell  transfusion  during  septic  shock  in  the  ICU.ʺ  Acta  Anaesthesiol Scand; 56(6): 718‐723. 

huyết tại bệnh viện Nhi đồng 2. Luận văn  tốt  nghiệp  bác  sĩ  nội trú chuyên ngành nhi, Đại học Y Dược TP. Hồ Chí Minh. 

tích tuần hoàn trong sốc nhiễm khuẩn ở trẻ em. Luận văn tốt  nghiệp bác sỹ nội trú chuyên ngành nhi. Đại Học Y Hà Nội. 

nhiễm  trùng  huyết  tại  khoa  hồi  sức  cấp  cứu  bệnh  viện  Nhi  Đồng  I  năm  2002‐2004.ʺ  Luận  án  bác  sỹ  chuyên  khoa  cấp  2  Đại Học Y Dược TP. Hồ Chí Minh. 

Hội nghị khoa học chuyên đề: Lọc máu liên tục trong hồi  sức cấp cứu. 

infancy and childhood, Saunders 7: 1553‐1590. 

Pediatric Critical Care, Mosby year book. Inc. PP 1088‐1100. 

 

 

Ngày đăng: 22/01/2020, 01:06

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w