1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Kết quả điều trị ngoại khoa dò dịch não tủy do vỡ nền sọ trước tại Bệnh viện Đa khoa Trung ương Cần Thơ

6 73 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 6
Dung lượng 277,81 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mục tiêu nghiên cứu của đề tài này nhằm đánh giá kết quả điều trị ngoại khoa dò dịch não tủy do vỡ nền sọ trước tại bệnh viện Đa khoa TW Cần Thơ. Nghiên cứu mô tả hàng loạt ca dò DNT đã phẫu thuật tại Đa khoa TW Cần Thơ từ tháng 6/2005 đến tháng 6/2012.

Trang 1

KẾT QUẢ ĐIỀU TRỊ NGOẠI KHOA DÒ DỊCH NÃO TỦY DO VỠ NỀN SỌ TRƯỚC TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA TRUNG ƯƠNG CẦN THƠ

Đàm Xuân Tùng*

TÓM TẮT

Mục tiêu: Đánh giá kết quả điều trị ngoại khoa dò dịch não tủy do vỡ nền sọ trước tại BVĐK TW Cần Thơ Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả hàng loạt ca dò DNT đã phẫu thuật tại BVĐKTW Cần Thơ từ tháng 6/2005 đến tháng 6/2012

Kết quả: Bệnh nhân gồm 9 trường hợp tuổi 17 đến 67 (trung bình 28,55 tuổi), có 7 nam và 2 nữ Thời gian

từ khi chấn thương đến khi mổ từ 3 tuần đến 2 tháng Chụp CT xoắn ốc nền sọ trước thực hiện trong 8/9 trường hợp, 1 ca chụp MRI Phẫu thuật kinh điển mở sọ trán 2 bên, bịt lỗ dò (theo Kempe LG); 7/9 trường hợp tìm thấy

lỗ dò do vỡ xương sàng Kết quả tốt trong 7/9 trường hợp; 2 trường hợp tái phát phải mổ lại

Kết luận: Dò dịch não tủy qua mũi do vỡ nền sọ trước là biến chứng ít gặp nhưng có thể gây tử vong do

biến chứng viêm màng não và tụ khí áp lực trong sọ Bệnh nhân dò DNT thường đến chậm từ vài tuần đến 2 tháng sau chấn thương khi đã có biến chứng viêm màng não hoặc tụ khí trong sọ áp lực Chẩn đoán dò DNT do

vỡ nền sọ trước dựa vào triệu chứng có dấu vỡ nền sọ trước và chảy DNT qua mũi; chẩn đoán vị trí lỗ dò rất quan trọng bằng chụp CT xoắn ốc nền sọ trước và cộng hưởng từ thì T2W

Phẫu thuật được chỉ định đối với các trường hợp dò DNT kéo dài quá 7-10 ngày, hoặc có biến chứng tụ khí nội sọ áp lực và viêm màng não; kết quả phẫu thuật thường tốt

Từ khóa: dò dịch não tủy, chấn thương sọ não, vỡ sàn sọ, dò dịch não tủy qua mũi

ABSTRACT

SURGICAL MANAGEMENT OF ANTERIOR CRANIAL BASE FRACTURE WITH CSF FISTULAE AT

THE CANTHO GENERAL HOSPITAL

Dam Xuan Tung* Y Hoc TP Ho Chi Minh * Vol 16 - Supplement of No 4 - 2012: 141 - 146

Objectives: The surgical treatment of patients harbored CSF fistulae following anterior cranial base fracture

in Can Tho general hospital from 10/2005 to 6/2012 was studied

Methods: A descriptive study of series of cases CSF fistulae operated in Can Tho general hospital from

6/2005 to 6/ 2012

Results: The 9 patients with age range was 17 to 67 mean 28.55 yo; the gender distribution was 7 males and

2 females The time from accident to the intervention varied from 3 weeks to 2 months MSCT was done in all 8/9 patients but MRI in one case The surgical technique consists of bilateral frontal craniotomy with closure of the fistulae as Kempe LG ‘s method; 7/9 cases the ethmoid fracture were found The result of surgical treatment was good in 7/9 cases; the recurrence of two cases was due to inadequate closure of the dural tear

Conclusion: The CSF fistulae following anterior cranial base fracture is the rare complication but it can cause a certain mortality by meningitis or a tension pneumocephalus The patients come to the hospital often late some weeks to 2 months after the accident and they have complications as meningitis or tension pneumocephalus

The diagnosis of CSF fistulae is based on the clinical presentations of anterior cranial base fracture, rhinorrhea,

*Bộ môn Ngoại ĐHYD Cần Thơ

Tác giả liên lạc: BS CK1 Đàm Xuân Tùng Email: dxtung@ctump.edu.vn

Trang 2

severe headache or meningitis; the localization of the fistulae is confirmed by MSCT and/or MRI in 3D The

surgical management is indicated if the rhinorrhea persisting (>7days), tension pneumocephalus or meningitis

The open surgical treatment remains an effective option for this disease

Key words: CSF fistulae, head injury, anterior skull base fracture, rhinorrhea

ĐẶT VẤN ĐỀ

Dò dịch não tủy (DNT) do vỡ nền sọ trước là

một biến chứng nặng sau chấn thương sọ não

Dò dịch não tủy xảy ra khi có tổn thương nền sọ

trước và có sự thông giữa khoang dưới nhện và

khoang ngoài sọ

Galen thế kỉ 2 sau công nguyên, đã mô tả

đầu tiên dò DNT sau chấn thương, Dandy W

đã mổ dò qua mũi, qua đường trong sọ, dùng

cơ và cân bịt lỗ dò, đặt nền tảng cho các phẫu

thuật mở về điều trị bệnh này; Dohlman

McCormack (1990) thực hiện đường mổ ngoài

sọ; Wigand 1981 mổ nội soi

Dò dịch não tủy qua mũi là biến chứng ít

gặp sau chấn thương sọ não tỉ lệ khoảng 2-3%,

và gặp trong 5-30% bệnh nhân vỡ nền sọ Dò

dịch não tủy qua nền sọ trước thường gặp nhiều

hơn vỡ nền sọ giữa 5-6 lần(5, 6, 17)

Bệnh nhân có biểu hiện chảy dịch trong

qua mũi hoặc dịch hồng, dấu vỡ nền sọ trước,

nhức đầu; 60% chảy dịch não tủy (DNT) xảy

ra ngay sau chấn thương, 95% xảy ra trong 3

tháng đầu, 70% bệnh nhân sẽ tự ngừng chảy

Viêm màng não là biến chứng quan trọng

sau dò DNT, tỉ lệ 5-30%, tỉ lệ tăng theo thời gian

chảy DNT Tụ khí trong sọ cũng gặp khoảng 1/3

bệnh nhân(8, 15, 17, 21)

Trước khi có chỉ định mổ, vấn đề quan trọng

nhất là xác định vị trí của lỗ dò; chẩn đoán hình

ảnh được khuyến cáo là CT xoắn ốc, Cộng

Hiện nay có 2 phương pháp phẫu thuật

chính: đường mổ mở trong sọ và mổ nội soi qua

mũi(3,9,11,12,13,21)

ĐỐI TƯỢNG - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Nghiên cứu mô tả hàng loạt ca dò DNT do

vỡ nền sọ trước đã phẫu thuật tại BVĐKTW Cần Thơ từ tháng 6/2005 đến tháng 6/2012

- Có 9 Bệnh nhân: (xem bảng 1)

- Tuổi từ 17 đến 66, tuổi trung bình 28,44

- Giới nam 7 ca, giới nữ 2 ca

- Nguyên nhân 100% do chấn thương sọ não

- Triệu chứng:

+ Nhức đầu 5/9 + Chảy dịch não tủy qua mũi 8/9 + Sốt 3/9

+ Viêm màng não: 3/9, có 3 trường hợp viêm màng não được điều trị bằng Vancomycine 2g, ceftriaxone 4g, Metronidazole 1,5g trong 2 tuần

trước mổ

+ Thời gian từ chấn thương đến khi nhập viện: 20 ngày đến 2 tháng, trung bình 43,89 ngày (20 ngày: 1 ca, 1 tháng: 3 ca, 1 tháng rưỡi: 1 ca, 2 tháng: 4 ca)

- Chẩn đoán hình ảnh:

+ 1 ca: chụp CT Scan + 8/9 ca chụp CT 64 lát + 8/9 ca có tụ khí áp lực kèm tổn thương xương sàng và xương trán

- Không có trường hợp nào điều trị dẫn lưu DNT thắt lưng

- Kỹ thuật mổ

Chúng tôi áp dụng kỹ thuật mổ mở của Kempe LG, Phẫu thuật này đã được thực hiện bởi Dandy năm 1926:

+ Bệnh nhân nằm ngữa, đầu tư thế trung lập + Rạch da đường lưỡng trán, lật vạt da xuống, giữ lại màng xương

+ Mở sọ lưỡng trán thấp qua xoang trán

Trang 3

+ Nạo niêm mạc xoang và dùng xương vụn

thành sau xoang trán để bít 2 lỗ mũi-trán; dùng

bột xương để bít lỗ dò

+ Mở màng cứng 2 bên, thắt xoang TM dọc

trên, tìm chổ dò trong màng cứng sau đó bóc

tách ngoài màng cứng xuống nền sọ đến chổ

xương sàng vở

+ Bít lỗ xương sàng bằng mảnh cơ + bột

xương+ gelfoam+ keo sinh học

+ Tạo hình màng cứng: khâu trực tiếp

bằng chỉ không tan/hoặc vá màng cứng bằng

màng xương

KẾT QUẢ

7/9 (77,78%) trường hợp, bệnh nhân hết chảy

DNT và CT Scan sau mổ hết tụ khí sau thời gian

theo dõi 1 tháng

1 trường hợp số (6), sau mổ còn chảy DNT, được chọc dò DNT dẫn lưu, bệnh nhân hết chảy DNT

2 trường hợp tái phát số (7) và số (9), tổn thương xương sàng không phát hiện được trong lần mổ đầu, bệnh nhân được mổ lại bịt lỗ dò xương sàng

Vị trí lỗ dò 7/9 trường hợp tổn thương xương sàng, 3/9 trường hợp có tổn thương phối hợp xoang trán và xương sàng, 2 trường hợp tổn thương xoang trán

Thời gian nằm viện trung bình 7-15 ngày, có

3 trường hợp số (3), (6) và (9), thời gian nằm viện kéo dài 25-45 ngày do điều trị viêm màng não trước mổ

Không có biến chứng đáng kể nào sau mổ trong 9 bệnh nhân, và không có trường hợp tử

vong

Bảng 1 Phân bố tuổi, triệu chứng lâm sàng, hình ảnh, vị trí và kết quả điều trị 9 bệnh nhân dò DNT do vở nền

sọ trước

Stt Bệnh nhân Tuổi Triệu chứng Hình ảnh Thời gian Vị trí dò Kết quả

mũi

xoang trán

Tổt Thg: 7 ngày

Thg 7 ngày

cứng, Kernig +

Thg: 30 Ngày

xoang trán

Tốt Thg: 8 ngày

thương trán T

Thg: 6 ngày

và xoang trán

Chọc dò DNT, hết chảy Thg: 45 ngày

thương lõm sọ trán T

mổ lại

mũi (P)

Thg: 15 ngày

sọ trán

BÀN LUẬN

Chẩn đoán

Lâm sàng

Dò DNT trong giai đoạn cấp ghi nhận 5-30%

bệnh nhân vở nền sọ trước, 98% chảy DNT xảy

ra trong 3 tháng đầu, và 60% xảy ra ngay sau

Trong giai đoạn mãn tính, các triệu chứng viêm màng não tái phát, chảy DNT từng đợt,

bệnh nhân của chúng tôi đều đến muộn từ 20

Trang 4

ngày đến 2 tháng sau chấn thương, đã có biến

chứng viêm màng não/tụ khí áp lực

Nguy cơ VMN sau dò DNT được ghi nhận

từ 12.5% đến 50% và tăng theo thời gian dò

DNT, nguy cơ VMN 1.3%/ngày trong 2 tuần

đầu, 7.4% /tuần trong tháng đầu tiên và nguy

cơ cộng dồn sau 10 năm là 85% Nhiễm trùng

là biến chứng đáng sợ nhất vì làm tăng tử

Hình ảnh học

CT đa lát (MSCT)

CT đa lát khảo sát 3 mặt cắt nền sọ trước đã

thay thế X Quang sọ Trong hồi cứu 47 trường

hợp dò DNT chấn thương, Zapalac và cs, cho

thấy độ nhạy và độ đặc hiệu là 87%, CT đa lát

cắt mỏng 1.5 mm và khảo sát 3D giúp xác định

8/9 bệnh nhân của chúng tôi được chụp CT

64 lát giúp xác định vị trí lỗ dò trong tổn thương

xoang trán và xương sàng; tuy nhiên 2 bệnh

nhân số (7) và số (9) không xác định được lỗ dò

trong khi mổ

Cộng hưởng từ (CHT)

Kỹ thuật rất giá trị để xác định lỗ dò vì DNT

tăng tín hiệu trên T2, thấy thoát vị não, và cho

CHT không tiêm Gadolinium có độ nhạy

60-94%, nhưng tỉ lệ dương tính giả khá cao 40%; tỉ

lệ dương tính giả do khó phân biệt với dày niêm

Cộng hưởng từ dùng chuổi xung “fast spin

echo xóa mỡ”, một số tác giả cho thấy những kết

quả tốt để tìm dò DNT từng đợt với độ nhạy

Một phương pháp khác là chụp CHT sau khi

tiêm Gadolinium vào khoang dưới nhện, Aydin

Trong lô nghiên cứu của chúng tôi chưa

có trường hợp nào chụp cộng hưởng từ để

chẩn đoán lỗ dò

Vị trí

- Xương sàng/lá sàng: 62,90%

- Xoang trán: 6,60%

- Xoang bướm: 15,50%

- Nhiều chỗ: 14,80%

Trong nghiên cứu của chúng tôi tổn thương xương sàng trong 7/9 (77,78%) trường hợp, 2/9 tổn thương thành sau xoang trán và 3/9 tổn thương phối hợp xương sàng và xoang trán

Điều trị

Điều trị bảo tồn

Nội dung điều trị bảo tồn: nằm nghĩ, nâng đầu cao 15-300, thuốc nhuận trường và tránh nhảy mũi, động tác Valsalva v.v

Trong nghiên cứu hồi cứu 34 ca dò DNT, Mincy ghi nhận 68% bệnh nhân dò DNT qua mũi có thể tự khỏi trong 48 giờ đầu và 85% trong 1 tuần

Nếu các biện pháp trên thất bại dẫn lưu DNT thắt lưng được khuyến cáo, một số ít có thể dùng dẫn lưu não thất khi có chỉ định theo dõi áp lực nội sọ(2,15,21,19,14)

Thời gian dẫn lưu DNT thay đổi từ 72 giờ đến 1 tuần(15,21)

Trong lô nghiên cứu này, không có trường hợp nào chỉ định điều trị bảo tồn vì phần lớn bệnh nhân đến muộn đã có biến chứng viêm màng não hoặc tụ khí áp lực

Điều trị ngoại khoa

Phẫu thuật được chỉ định khi dò DNT không tự hết hoặc không đáp ứng dẫn lưu DNT Chỉ định mổ cũng đặt ra khi có tổn thương trong sọ cần mổ cấp cứu như máu tụ, VTSN, lõm sọ hay tràn khí áp lực v.v

Dandy đã mô tả kĩ thuật mổ kết hợp trong

và ngoài màng cứng, điều trị thành công dò DNT lần đầu tiên năm 1926 với kết quả tốt từ 73-90%(17,21)

Ejamel và Foy, nghiên cứu 160 ca dò DNT sau chấn thương cấp; 149 bệnh nhân được phẫu

Trang 5

thuật vá màng cứng, 47 bệnh nhân đã có viêm

màng não trước mổ Tỉ lệ VMN đã giảm từ

30.6% trước mổ còn 4% sau mổ và nguy cơ cộng

dồn sau 10 năm theo dõi giảm từ 85% xuống

7% Tỉ lệ tái phát sau mổ lần dầu là 17% trong lô

nghiên cứu và tỉ lệ tử vong là 1,3% Tác giả kết

luận phẫu thuật là cách dự phòng viêm màng

não trong dò DNT qua mũi, và cần mổ càng

Tỉ lệ tái phát của chúng tôi là 2 ca; phải phẫu

thuật lại vá bịt lỗ xương sàng do không phát

hiện được trong lần mổ đầu tiên

Friedman và cs nghiên cứu 101 ca dò DNT

chấn thương, 26 ca (60%) ngừng chảy tự nhiên

trung bình sau 4,8 ngày, 24 ca được mổ và thời

gian trung bình từ khi chấn thương đến lúc mổ

là 45 ngày; các đường mổ gồm trong sọ, ngoài

sọ và phối hợp Có 3/24 trường hợp bị tái phát

Rocchi và cs báo cáo 58 ca dò DNT chấn

thương, trong đó 36 ca được phẫu thuật ; mổ

sớm 18 ca, 10 ca mổ trì hoãn sau khi điều trị bảo

tồn thất bại và 8 ca sau khi tình trạng hôn mê và

phù não ổn; 5/22 ca điều trị bảo tồn sau đó trở

lại do dò DNT tái phát/hay viêm màng não Tác

giả dùng màng xương có cuống mạch máu và

keo sinh học Theo tác giả nên chỉ định mổ

những trường hợp vỡ nhiều mảnh, lõm sọ, nứt

sọ-xương mặt trên 1cm, gần đường giữa, tổn

thương lá sàng, có thoát vị não, màng não vì

Yilmazlar và cs, nghiên cứu 81 ca dò DNT

qua mũi và tai, tất cả đều điều trị bảo tồn >72

giờ; có 39,5% bệnh nhân tự hết Các tác giả đề

nghị bảo tồn nghĩ ngơi 72- 7 ngày, nếu thất bại

dẫn lưu DNT ra ngoài 7-10 ngày; 32 ca đã phẫu

thuật bít lỗ dò, 12 ca trong 3 ngày, 10 ca trong

10-30 ngày và 10 ca 3 tháng đến 22 năm Tác giả

nhận thấy bệnh nhân có GCS <8 có tiên lượng

Đường mổ trong sọ để bịt chảy DNT qua

mũi tùy thuộc vị trí, loại và kích thước đường

nứt sọ Kỹ thuật mổ kinh điển theo đường trán 1

hoặc 2 bên, nếu đường nứt có tổn thương xoang

trán, cần tách niêm mạc xoang, lấy bỏ thành sau xoang trán và bít lỗ mũi trán bằng cơ hay mỡ

Tỉ lệ dò DNT tái phát sau đường mổ trong

KẾT LUẬN

Dò DNT qua mũi do vỡ nền sọ trước là biến chứng ít gặp trong CTSN nhưng có thể gây tử vong do biến chứng viêm màng não, tụ khí trong sọ áp lực cao

Chẩn đoán dựa vào các triệu chứng lâm sàng vỡ nền sọ, chảy dịch não tủy qua mũi, viêm màng não hay nhức đầu dữ dội do tụ khí trong sọ áp lực cao

CT đa lát, thực hiện cắt mỏng qua nền sọ trước có vai trò quan trọng đánh giá tổn thương xương của nền sọ và xác định vị trí dò, có thể phối hợp thêm chụp cộng hưởng từ thì T2 xóa

mỡ trong trường hợp khó chẩn đoán

Phẫu thuật qua đường mở sọ trán bộc lộ lỗ

dò trong và ngoài màng cứng còn áp dụng tốt vì kết quả bịt lỗ dò từ 70-90%, đường mổ này vẫn còn ưu tiên cho các trường hợp dò DNT có tổn thương rộng nền sọ trước, vỡ thành sau xoang trán, tổn thương phối hợp dây thần kinh sọ, máu tụ trong sọ hay nhiễm trùng trong sọ Phẫu thuật nội soi qua mũi có vị trí trong dò DNT khu trú ở xương sàng, xoang bướm vì ít biến chứng và tử vong thấp

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Aydin K, Terzibasioglu E, Sencer S et al (2008), Localisation of

cerebrospinal fluid leaks by Gadolinium-enhanced Magnetic Resonance cisternography: a 5-year single-center experience, Neurosurgery 62(3): 584-9

2 Bret P, Hor F, Huppert J et al (1985), Treatment of Cerebrospinal

Flluid Rhinorrhea by Percutaneous Lumboperitoneal Shunting: Review of 15 cases, Neurosurgery ; 16(1): 44-8

3 Castro B (2012) Cerebrospinal fluid fistula prevention and treatment following frontal sinus fractures: a review of initial management and outcomes Neurosurg Focus 32(6): E1

4 Cooper PR (1992), Cerebrospinal Fluid Fistulas and Pneumocephalus In: Wilkins RH, Neurosurgical Topics, AANS Pubblications Committee

5 Dalgic A, Okay HO, Daglioglu E (2008) An effective and less invasive treatment of post-traumatic cerebrospinal fluid fistula: closed lumbar drainage system Minim Invasive Neurosurg 51(3): 154-7

6 Day JD, Nanda A (2012) Skull base cerebrolspinal fluid fistula Neurosurg Focus 32 (6)

Trang 6

7 Eftekhar B, Ghodsi M, Nejat F et al (2004) Prophylactic

administration of ceftriaxone for the prevention of meningitis

after traumatic pneumocephalus: results of a clinical of a clinical

trial, J Neurosurg 101(5): 757-61

8 Friedman JA, Ebersold MJ, Quast LM (2001), Post-traumatic

cerebrospinal fluid leakage World J Surg 25(8): 1062-1068

9 Greenberg MS (2010), Handbook of Neurosurgery, 10 th edition,

New York,

10 Kempe LG (1968) Cerebral Spinal Fluid Fistula, Operative

Neurosurgery Vol.1

11 Liu P, Wu S, Li Z, et al (2010), Surgical strategy for CSF

Rhinorrhea Repair, Neurosurgery; 66: 281-286

12 Locatelli D, Rampa F, Acchiardi I et al (2006) Endoscopic

Endonasal Approaches for repair of Cerebrospinal Fluid leaks:

Nine-year experience, Neurosurgery 58: ONS-246-256

13 McCormack B, Cooper PR, Persky M, et al (1990), Extracranial

Repair of CSF fistulas: Technique and Results in 37 patients,

Neurosurgery 27(3) ;412-17

14 Nguyễn Thế Hào, Nguyễn Hữu Hưng (2012), Một số nhận xét

về rò dịch não tủy do chấn thương vở nền sọ trước, Y học thực

hành, Bộ Y tế xuất bản, Hà Nội,

http://yhth.vn/mot-so-nhan-xet-ve-ro-dich-nao-tuy-do-chan-thuong-vo-nen-so-truoc_t3244.aspx

15 Piek J (2010), CSF fistulas, In: Lumenta, Neurosurgery, pp

271-276, pringer-Verlag, Berlin Heidelberg

16 Rocchi G (2005) Severe craniofacial fractures with frontobasal involvement and cerebrospinal fluid fistula: indications for surgical repair Surg Neurol Jun; 63(6): 559-63

17 Scholsem M, Scholtes F, Collignon F (2008), Surgical management

of anterior cranial base fractures with cerebrospinal fluid fistulae:

a single-institution experiences, Neurosurgery ; 62(2): 463-9

18 Sonig A, Thakur JD, Chittiboina P (2012), Is posttraumatic cerebralspinal fluid fistula a predictor of posttraumatic meningitis? A US Nationwide Inpatient Sample database study, Neurosurg Focus 32 (6): E4

19 Võ tấn Sơn (2012), Nghiên cứu đánh giá kết quả điều trị dò dịch não tủy sau mổ bằng dẫn lưu thắt lưng liên tục, Y học thực hành, tháng 8, http://yhth.vn/nghien-cuu-danh-gia-ket-qua-dieu-tri-do-dich-nao-tuy-sau-mo-bang-dan-luu-that-lung-lien-tuc_t3561.aspx

20 Welch KC, Stankiewicz J (2008), CSF Rhinorrhea, disponible sur

< http://emedecine.medscape.com/article/338989-imaging >, consulte le 10 octobre 2010

21 Ziu M, Savage JG and Jimenez DF (2012), Diagnosis and treatment of cerebrospinal fluid rhinorrhea following accidental traumatic anterior skull base fracture, Neurosurg Focus 32 (6): E3

Ngày đăng: 22/01/2020, 00:56

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w