1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Điều trị bệnh lý giác mạc giải băng có kèm tật khúc xạ bằng laser excimer

5 75 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 5
Dung lượng 157,38 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đề tài nghiên cứu tiến hành nhận xét một trường hợp dùng laser excimer điều trị ohoois hợp bệnh lý giác mạc dải băng do chấn thương có tật khúc xạ ddie kèm, nghiên cứu được thực hiện trên bệnh nhân nam 30 tuổi bị thoái hóa giác mạc dải băng sau một chấn thương do bỏng vôi và dầu hôi cách đây 22 năm.

Trang 1

ĐIỀU TRỊ BỆNH LÝ GIÁC MẠC DẢI BĂNG CÓ KÈM TẬT KHÚC XẠ

BẰNG LASER EXCIMER

Trần Hải Yến*, Đinh Trung Nghĩa**, Phạm Nguyên Huân*

TÓM TẮT

Mục tiêu: Nhận xét nhân một trường hợp dùng Excimer laser điều trị phối hợp bệnh lý giác mạc dải

băng do chấn thương có tật khúc xạ di kèm

Bệnh nhân và phương pháp: Phẫu thuật PRK được thực hiện trên bệnh nhân nam 30 tuổi bị thoái hóa

giác mạc dải băng sau một chấn thương do bỏng vôi và dầu hôi từ cách đây 22 năm

Kết quả: Sau phẫu thuật tính trong suốt của giác mạc được phục hồi Một tháng rưỡi sau mổ khúc xạ

cầu tương đương giảm từ -4.25D xuống +0.25 D, thị lực không kính từ 1/10 trước phẫu thuật tăng lên 5/10,

thị lực có kính tăng 1 hàng so với trước phẫu thuật từ 6/10 lên 7/10

Kết luận: Như vậy những dữ liệu ban đầu cho thấy PRK cho thấy có hiệu quả trong trường hợp thoái

hóa giác mạc dải băng nhẹ có kèm tật khúc xạ

ABSTRACT

PHOTOREFRACTIVE KERATECTOMY FOR BAND KERATOPATHY IN MYOPIC PATIENT

Tran Hai Yen, Dinh Trung Nghia, Pham Nguyen Huan

* Y Hoc TP Ho Chi Minh * Vol 11 – Supplement of No 1 - 2007: 199 – 203

Purpose: Photorefractive keratectomy (PRK) was used to treat band keratopathy in myopic patient Methods: PRK was performed in 30-year old male with 22-year band keratopathy using Technolas 217

Z100 Excimer laser with 6.5 mm zone, following total epithelial peeling by Moria’s epikeratome

Results: After surgery corneal clarity was restored By 1,5 months after surgery, spherical equivalent

reduced from -4.25D to +0.25 D, uncorrected visual acuity (UCVA) improved from 1/10 pre-op to 5/10 post-op, best corrected visual acuity was gained 1 line

Conclusion: PRK seems effective method in myopic patient with light band keratopathy

Thoái hóa giác mạc dải băng (band

keratopathy) là dạng thoái hóa giác mạc không

liên quan đến tuổi Bệnh đặc trưng bởi lắng đọng

của muối calcium dưới biểu mô, màng Bowman

và nhu mô trước(2,5)

Đây là bệnh lý bề mặt giác mạc có thể do

những nguyên nhân toàn thân hoặc tại chỗ khác

nhau, trong đó có 4 nguyên nhân chính theo thứ tự

lần lượt là (1) viêm màng bồ đào mạn, nhất là ở

trẻ em, (2) không rõ nguyên nhân, tự phát ở người

lớn tuổi, (3) teo nhãn cầu và (4) tăng calcium

hoặc phosphore máu(2,3) Ngoài ra, một số thuốc

nhỏ tại chỗ có chứa phosphate cũng góp phần

trong quá trình này khi nồng độ pH bề mặt cao

hơn mức giới hạn sinh lý làm giảm tính tính hòa tan của thuốc dễ dẫn đến sự lắng đọng Những tình trạng bệnh lý toàn thân như tăng calci huyết

do cường tuyến cận giáp, suy thận, quá liều Vitamine D, sarcoidose , bệnh lupus, bệnh xơ hóa củ; bệnh lý tại chỗ: viêm màng bồ đào mạn, glaucoma giai đoạn cuối, teo nhãn cầu ; liên quan đến thuốc: thuốc corticoid có gốc phosphate, pilocarpine với chất bảo quản có thành phần thủy ngân, dầu silicone ; những hóa chất bay hơi: thủy ngân, calci dicromate

Một số nguyên nhân gây ra bệnh lý giác mạc dải băng

Bệnh lý tại mắt Bênh lý toàn thân

Viêm màng bồ đào mạn (đặc Tăng calcium máu: Suy thận,

* Khoa Khúc Xạ Bệnh Viện Mắt TP HCM

**Bộ Môn Mắt Trung tâm đào tạo Cán bộ Y tế TP HCM

Trang 2

biệt là viêm khớp dạng thấp ở

trẻ em)

Glaucoma kéo dài

Phù giác mạc kéo dài

Teo nhãn

Viêm giác mạc mạn tính do

tia tử ngoại

Silicone tiền phòng

Viêm giác mạc mô kẽ

Bệnh giác mạc do hở mi

cường cận giáp, Sarcoidosis,

đa u tuỷ, nhiễm độc Vitamine

D, di căn xương

Tăng phosphore máu trên bệnh nhân suy thận Giảm hoạt động phosphatasia Bệnh vảy cá Gout Lupus dạng đĩa

Bệnh giác mạc dải băng bắt đầu bằng những

lắng đọng nhỏ như bụi, ưa bazơ ở lớp Bowman,

những biến đổi này thường thấy ở ngoại vi Có

một vùng trong suốt ngăn cách vùng rìa và bờ

ngoài của tổn thương, có dạng như một miếng pho

mát, do có những lỗ bên trong sang thương dạng

dải băng, đó là nơi thần kinh đi vào màng

Bowman (5) Cuối cùng, các lắng đọng có thể

nhập vào nhau để tạo ra một dải băng gồm những

mảng canxi hóa đi ngang qua vùng giác mạc ở

khe mi

Các bệnh căn gây tăng canxi hoặc phosphore

huyết cần được điều trị tối đa ví dụ suy thận

Thoái hóa giác mạc dải băng được điều trị chủ

yếu bằng phẫu thuật vì điều trị thuốc không hiệu

quả Trường hợp nhẹ (chỉ có cảm giác kích thích)

có thể dùng nước mắt nhân tạo Trường hợp nặng,

có ảnh hưởng đến thị lực hoặc thẩm mỹ: Loại bỏ

biểu mô, dùng dung dịch neutral disodium

ethylenediaminetetraacetic acid (EDTA) 1,5%

(0,5-3%) tạo phức hợp trung tính với canxi sau đó

bóc đi Có thể dùng Phototherapeutic

Keratectomy(PTK), hoặc ghép GM phiến khi

lắng đọng quá sâu trong nhu mô (4) (6) Tuy

nhiên mục đích chính của phẫu thuật chỉ là loại

bỏ lớp mờ đục trên giác mạc để trả lại sự trong

suốt của giác mạc giải phóng trục thị giác, chứ

không can thiệp đến tình trạng khúc xạ của bệnh

nhân

Truờng hợp này chúng tôi sử dụng Excimer

Laser để điều trị phối hợp tật khúc xạ kèm tổn

thương giác mạc dải băng cho bệnh nhân trong

cùng một thì phẫu thuật và đánh giá kết quả hậu

phẫu sớm

Bệnh án

Bệnh nhân nam, 30 tuổi, tới khám vì lý do mắt trái thị lực kém, không đau nhức, không đỏ mắt Hỏi bệnh sử được biết: 22 năm về trước, bệnh nhân bị bỏng vôi và dầu hôi, đã điều trị ổn Sau đó bệnh nhân thấy xuất hiện dải trắng mờ ngang qua tròng đen và thị lực giảm Cho tới nay, mật độ và màu sắc của vạt trắng trên giác mạc không thay đổi Tiền sử, không ghi nhận các bệnh lý về mắt khác và bệnh lý toàn thân

Kết quả đo thị lực khúc xạ

Khúc xạ khách quan +0.5 (-0.5 x 0) -2 (-4 x 10)

41.3x40

44.6 x 81 41.0 x 171

Khám nghiệm lâm sàng trên sinh hiển vi

Hình 1: Trước phẫu thuật

MP: Phần trước và sau nhãn cầu trong giới hạn bình thường

MT: Kết mạc trong, trơn láng, không kích thích Giác mạc có một dải mờ đục nhẹ băng ngang qua suốt giác mạc ở vùng khe mi, kích thước 4x10 mmm, đục giác mạc độ II, phần còn lại trong suốt, không nhận thấy tân mạch chu biên suốt 360 độ cạnh rìa Cắt khe cho thấy tổn thương nông nằm ngay dưới lớp biểu mô và ở 1/3 trước của nhu mô giác mạc Tiền phòng, mống mắt, pha

Trang 3

lê thể và võng mạc, hoàng điểm trong giới hạn

bình thường

Các xét nghiệm khác

Nồng độ Ca (2,21 mmol/l) và Phosphore

(1,29mmol/l) máu trong giới hạn bình thường

(Viện Pasteur TP Hồ Chí Minh)

Phẫu thuật

Tiến hành phẫu thuật PRK ngày 26/10/06 sử

dụng máy Technolas 217 Z100 (Bausch and

Lomb, Mỹ) và dụng cụ Epikeratome (Moria,

Pháp)

Bệnh nhân được sát trùng, nhỏ tê tại chỗ bằng

Proparacain 1%, bóc bỏ lớp biểu mô bằng dụng

cụ Epikeratome của Moria: vòng -1, chốt 8.5 Sau

đó dùng tia laser để chiếu trên bề mặt nhu mô

giác mạc với vùng quang học 6.5 mm, theo chỉ số

khúc xạ chủ quan đo được trước khi phẫu thuật,

với độ dày bóc mô giác mạc ở vùng trung tâm là

87 micron

Sau khi chiếu laser, bề mặt giác mạc được rửa sạch bằng dung dịch BSS (Balance Salt Solution, Alcon, Mỹ) Kính kính tiếp xúc mềm không độ, loại đeo qua đêm liên tục trong 30 ngày (Breathable contact lenses Night and Day, Ciba Vision, Mỹ), được đặt trên giác mạc để giúp nhanh lành biểu mô, giảm đau và bớt kích thích Bệnh nhân được khám lại và ra về sau khi phẫu thuật 30 phút

Hậu phẫu

Bệnh nhân được tái khám sau mổ 1 ngày, 3 ngày, 1 tuần, mỗi tháng và tiếp tục trong 3 tháng đầu và sau đó mỗi 3 tháng trong 2 năm Bỏ kính tiếp xúc sau 3 ngày, khi biểu mô lành Bệnh nhân được nhỏ kháng sinh Oflovid (Santen, Nhật) 1 giọt x 4 lần/ngày trong 2 tuần, kháng viêm không corticoid Nacloft (Novartis, Mỹ) 1 giọtx 4 lần/ngày trong 1 tuần, kháng viêm corticoid Fluometholone 0.1% (Santen, Nhật) 1 giọt x 4 lần/ ngày và giảm liều trong 3 tháng

Hình 2: Sau phẫu thuật

KẾT QUẢ

Khám

hậu phẫu

Thị lực không kính

khúc xạ thị lực tối đa Ghi chú

1 ngày TL không kính 0.7 ngày Giác mạc khá trong Đeo kính tiếp xúc mềm 3

1 tuần 0.2 +2(-1)130  0.3

Biểu mô GM lành tốt

GM trong

Fluometholone 0,1% x 4

lần 1,5 tháng 0.5 +0.75 (- 1.00)160  0.7 Fluometholone 0,1% x 4 lần

BÀN LUẬN

Bệnh lý giác mạc dải băng là một tình trạng thường gặp xảy ra do những nguyên nhân tại mắt, không liên quan đến tuổi già, do rối loạn chuyển hóa calci, và do di truyền(3) Thị lực của bệnh nhân bị giảm sút tùy mức độ lắng đọng của tinh thể muối calci và tình trạng nhãn cầu phía sau: đục thủy tinh thể thứ phát, dính mống mắt, lắng đọng sắc tố mặt trước thủy tinh thể do viêm, teo gai thị do glaucoma Thị lực giảm ít nếu phần trước, ngoại trừ giác mạc và phần sau nhãn cầu bình thường, calci

Vùng thoái hóa chu

biên không chiếu

Laser

Vùng giác mạc trong sau khi chiếu Laser

Trang 4

chỉ lắng động một lớp mỏng ngay dưới biểu mô giác

mạc, trường hợp nặng hơn khi lớp calci đóng dày đặc

thị lực có thể giảm sút trầm trọng

Excimer Laser được cho là có hiệu quả trong

điều trị bệnh lý giác mạc dải băng theo phương pháp

Phototherapeutic Keratectomy (PTK) với tỷ lệ thành

công lên tới 91%(1) Phẫu thuật PTK không điều trị

tật khúc xạ mà chỉ cắt bóc phần giác mạc đục Việc

này sẽ hiệu quả nếu bệnh nhân không có tật khúc xạ

hoặc tật khúc xạ nhẹ không ảnh hưởng đến thị lực,

tuy nhiên nếu tật khúc xạ cũng là một nguyên nhân

đáng kể gây giảm thị lực thì PTK đơn thuần không

giải quyết được hết vấn đề

Trường hợp bệnh nhân này lớp canxi đóng rất

mỏng trên bề mặt, ổn định trong suốt thời gian dài

không tiến triển nặng hơn Đo khúc xạ cho thấy

cận thị và loạn thị cao, thị lực tối đa của bệnh

nhân là 6/10 cách biệt với thị lực không kính 5

hàng Như vậy nếu chỉ giải quyết tính trong suốt

của giác mạc bằng Excimer laser mà không can

thiệp đến khúc xạ thị lực sẽ không cải thiện, trong

tương lai vẫn cần một phẫu thuật laser để điều trị

cận loạn nhằm phục hồi thị lực cho bệnh nhân

Trên cơ sở như vậy chúng tôi nghĩ đến việc

bóc lớp canxi lắng đọng và phẫu thuật khúc xạ

bằng Photorefractive keratectomy (PRK) cùng

một thì để giảm số lần can thiệp trên giác mạc,

đồng nghĩa với giảm các nguy cơ do phẫu thuật

gây ra, và cùng lúc tác động lên cả hai yếu tố gây

giảm thị lực đó là sự mờ đục và tật khúc xạ Tia

laser tác động làm bóc bay những mô tổn thương

theo một chương trình điều trị khúc xạ với chỗ

bóc dày nhất tại trung tâm là 87 micron Như vậy

PRK vừa góp phần loại bỏ sẹo, vừa điều chỉnh

được tật khúc xạ, và trong trường hợp thị lực tối

đa cao sẽ rất thích hợp vì sau phẫu thuật bệnh

nhân có thị lực khá tốt Thực tế, trong trường hợp

này, thị lực không kính sau mổ 1 tháng là 5/10, thị

lực tối đa với kính là 7/10 tăng thêm một hàng so

với trước mổ, độ loạn chỉ còn -1,00 diop, giảm

đáng kể so với trước mổ là -4 diop (TL = 1/10,

BCVA = 6/10)

Thường quy, bước đầu tiên của phẫu thuật

điều trị tổn thương đục trong nhu mô là cạo biểu

mô cơ học bằng tay với dụng cụ phẫu thuật như

dao 15 hoặc dao Hockey Sau đó tia laser được chiếu trực tiếp lên nhu mô đã bộc lộ để làm bay hơi lớp mô đục Phương pháp nạo biểu mô bằng tay dễ gây đau nhức sau phẫu thuật do gờ của biểu mô lởm chởm, kích thích lâu và bề mặt không được mịn màng khó lòng cho kết quả khúc xạ tốt, do vậy chúng tôi sử dụng dao tạo vạt biểu mô tự động, epikeratome (Moria, Pháp) để tách và bỏ lớp biểu mô bên trên, bộc lộ bề mặt nhu mô nhẵn, phẳng, đều đặn bên dưới Nhờ vậy bề mặt nhu mô sau khi chiếu laser cũng mịn màng hơn Một trong những vấn đề của thoái hóa giác mạc giải băng đó là tái phát sau khi điều trị, trường hợp này thời gian theo dõi còn ít do vậy cần thêm thời gian mới có thể trả lời được câu hỏi này Tuy nhiên, nguyên nhân gây tổn thương không phải là yếu tố nội sinh, mà là do chấn thương bỏng vôi, tác động mạnh, cấp tính, nồng độ cao tại chỗ, trong một thời điểm Sau đó, tác nhân gây bệnh ngưng tiếp xúc hoàn toàn, không để lại một phản ứng viêm mãn tính, âm ỉ, đó cũng là lý do giải thích tại sao thoái hóa chỉ ở trên bề mặt, rất mỏng và không phát triển thêm về chiều sâu trong suốt thời gian dài 22 năm Với những yếu tố trên chúng tôi nghĩ khả năng tái phát sẽ không cao

Những vấn đề cần tiếp tục theo dõi trên trường hợp này đó là khả năng sẹo mỏng giác mạc (haze) tuy nguy cơ không cao do mức độ giác mạc lấy đi không sâu và tật khúc xạ dưới -6 diop (độ cầu tương đương: -4.25 diop) Vấn đề tiếp theo cần theo dõi đó là sự thay đổi khúc xạ trong quá trình lành sẹo

Như vậy, có thể thấy trong trường hợp sẹo giác mạc mỏng, khi đo được khúc xạ và nhất là thị lực tối đa cao đi kèm, thì PRK tỏ ra có nhiều

ưu thế hơn so với PTK, mở ra hướng ứng dụng PRK trong điều trị sẹo giác mạc mỏng kết hợp điều chỉnh khúc xạ thì, thay vì phải tiến hành 2 loại phẫu thuật như kinh điển

Tuy nhiên, trong trường hợp sẹo dày, không

đo được khúc xạ hoặc thị lực tối đa thấp, cách biệt không đáng kể so với thị lực không kính thì PRK sẽ không có ý nghĩa

Trang 5

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Azar DT, Steinert RF, Stark WJ Excimer Laser

Phototheurapeutic Keratectomy, management of scars,

dystrophies, and PRK complications, Williams & Wilkins, 1 st

edition 1997 p 104

2 Hội Nhãn Khoa Mĩ, Bệnh học của mi mắt, kết mạc và giác

mạc, NXB Y học 1997, tr145

3 Kanski JJ, Clinical Ophthalmology, Butterworth Heinemann,

5 th edition 2003, pp122-123

4 Kunimoto D, The will Eye Manual, Office and Emergency Room Diagnostic and Treatment of Eye Disease, Lippincontt Williams and Wilkins, 4 th edition 2004, pp51-52

5 Liesegang T.J., Text book of Ophthalmology, Williams and Wilkins, 1 st edition 1997, p.700-701

6 Najjar DM et al EDTA chelation for calcific band keratopathy: Results and long-term folow-up Am J Ophthalmol 2004; 137:1056 – 1064

7 Steward OG, Morell AJ Management of band keratopathy with excimer phototherapeutic keratectomy: visual, refractive and symptomatic outcome Eye 2003, 17:233-237

Ngày đăng: 22/01/2020, 00:31

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm