1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Kiến thức và thái độ về các biện pháp tránh thai thông dụng của sinh viên y khoa năm thứ nhất tại Đại học Y Dược TP.HCM (2013)

6 182 2

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 6
Dung lượng 339,11 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nghiên cứu được thực hiện với mục tiêu xác định tỉ lệ sinh viên Y khoa năm thứ nhất có kiến thức và thái độ đúng về ba BPTT: bao cao su, thuốc tránh thai phối hợp và thuốc tránh thai khẩn cấp và các yếu tố liên quan đến kiến thức và thái độ đúng của sinh viên Y khoa năm thứ nhất tại Đại học Y Dược TP HCM.

Trang 1

THÔNG DỤNG CỦA SINH VIÊN Y KHOA NĂM THỨ NHẤT 

TẠI ĐẠI HỌC Y DƯỢC TPHCM (2013) 

Dương Hồng Phúc*, Võ Minh Tuấn**, Lê Thị Kiều Dung** 

TÓM TẮT 

Mục tiêu: Xác định tỉ lệ sinh viên Y khoa năm thứ nhất có kiến thức và thái độ đúng về ba BPTT: bao cao 

su, thuốc tránh thai phối hợp và thuốc tránh thai khẩn cấp và các yếu tố liên quan đến kiến thức và thái độ đúng  của sinh viên Y khoa năm thứ nhất tại Đại học Y Dược TP HCM. 

Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu cắt ngang vào tháng 5‐6/2013 ở các sinh viên Y khoa năm thứ nhất 

tại Đại học Y Dược TP HCM. Chọn mẫu theo phương pháp ngẫu nhiện phân tầng. 

Kết quả: Khảo sát 396 sinh viên Y khoa năm thứ nhất, tỉ lệ có kiến thức đúng về BCS, thuốc tránh thai phối 

hợp và thuốc TTKC lần lượt là: 18,7% (KTC 95%: 0,15‐0,23); 4,5% (KTC 95%: 0,03‐0,07); 12,6% (KTC 95%:  0,10‐0,16). Tỉ lệ có thái độ đúng về BCS, thuốc tránh thai phối hợp và thuốc TTKC lần lượt là: 19,9% (KTC  95%: 0,16‐0,24); 7,6% (KTC 95%: 0,05‐0,11); 12,9% (KTC 95%: 0,10‐0,17). Các yếu tố liên quan đến kiến thức 

và thái độ của sinh viên là: giới tính và nơi cư trú. 

Kết  luận: Đa số sinh viên Y khoa năm thứ nhất có kiến thức chưa đúng và thái độ chưa tích cực về các 

BPTT phổ biến. Mặc dù là sinh viên Y khoa, kết quả cho thấy thậm chí họ kém hơn so với sinh viên các trường  khác.  Do  đó  cần  lồng  ghép  kiến  thức  SKSS  và  các  BPTT  vào  các  môn  học  năm  thứ  nhất.  Kết  hợp  với  Đoàn  Thanh niên, Hội Sinh viên tổ chức các buổi sinh hoạt, các phong trào thi đua nhằm cung cấp kiến thức về BPTT  phổ biến cho sinh viên. 

Từ khóa: Kiến thức ‐ thái độ, biện pháp tránh thai, bao cao su, thuốc tránh thai phối hợp, thuốc tránh thai 

khẩn cấp. 

ABSTRACT 

KNOWLEDGE AND ATTITUDE OF FRESHMAN MEDICAL STUDENTS ABOUT 

THE CURRENT CONTRACEPTIVE METHODS AT HO CHI MINH CITY UNIVERSITY  

OF MEDICINE AND PHARMACY (2013) 

Duong Hong Phuc, Vo Minh Tuan, Le Thi Kieu Dung  

* Y Hoc TP. Ho Chi Minh * Vol. 18 ‐ Supplement of No 1 ‐ 2014: 14 ‐ 19 

Objective: To examine the prevalence of freshman medical students at HCMC University of Medicine and 

Pharmacy  about  their  knowledge  and  attitude  on  contraceptive  methods  including  condom,  oral  contraception  and emergency contraception; and relative factors of the knowledge and attitude among those of medical students. 

Methods: A cross‐sectional study was conducted from May to June 2013 among freshman medical students 

at the UMP using the randomized cluster selection.  

Results: 396 freshman medical students from the UMP involved in the research. The prevalence of students 

having right knowledge on using condom, oral contraception and emergency contraception is 18,7% (95% CI:  0,15‐0,23), 4,5% (95% CI: 0,03‐0,07), 12,6% (95% CI: 0,10‐0,16), and the rate of students having right attitude 

on using the methods is 19,9% (95% CI: 0,16‐0,24), 7,6% (95% CI: 0,05‐0,11), 12,9% (95%: 0,10‐0,17). The 

* ĐHYD TP.HCM     ** Bộ môn Phụ Sản Đại học Y Dược TP HCM 

Tác giả liên lạc. SV. Dương Hồng Phúc ĐT: 0988049223  Email: hongphuc.y07a@yahoo.com  

Trang 2

Conclusion:  Most  of  freshman  medical  student  do  not  have  proper  knowledge  or  positive  attitude  on 

common  contraceptive  methods.  These  results  are  worse  than  those  of  other  universities.  Therefore,  we  should  integrate  productive  health  and  contraceptive  knowledge  in  the  first  year  courses.  Collaborate  with  the  Youth  Councils,  Student  Association  to  organize  meetings,  competitions  to  provide  knowledge  about  contraceptive  methods to students. 

Keywords:  Knowledge‐attitude,  contraceptive  methods,  condom,  oral  contraception,  emergency 

contraception.  

ĐẶT VẤN ĐỀ  

Tình hình phá thai hiện nay vẫn còn cao và 

là thách thức trong công tác chăm sóc sức khỏe 

sinh  sản  (SKSS)  tại  các  nước.  Tổ  chức  Y  tế  Thế 

giới (TCYTTG) ước tính hằng năm trên thế giới 

có khoảng 40 – 60 triệu phụ nữ phá thai. Tại Việt 

Nam, theo Niên giám thống kê của Bộ Y tế, tỉ lệ 

nạo phá thai trong độ tuổi sinh sản (15 ‐ 49 tuổi) 

là 34,91%(10). 

Nguy  cơ  từ  nạo  phá  thai  không  chỉ  ảnh 

hưởng  SKSS  mà  còn  gây  ra  các  tổn  thương  về 

tinh thần cho người phụ nữ. Theo TCYTTG, tỉ lệ 

phụ  nữ  mắc  tai  biến  do  nạo  phá  thai  khoảng 

25%; tại các nước đang phát triển, tai biến từ nạo 

phá  thai  chiếm  7  –  27%  nguyên  nhân  gây  tử 

vong bà mẹ(10). Bên cạnh đó, nạo phá thai còn là 

một trong những nguyên nhân chủ yếu gây vô 

sinh thứ phát ở phụ nữ(7). 

Hiện  trạng  này  có  nguyên  nhân  chủ  yếu  là 

do  không  sử  dụng  hoặc  sử  dụng  sai  các  biện 

pháp  tránh  thai  (BPTT)  khi  quan  hệ  tình  dục 

(QHTD).  Cùng  với  quá  trình  hội  nhập,  giới  trẻ 

Việt  Nam  ngày  một  năng  động,  sáng  tạo  góp 

phần  tạo  nên  những  thành  tựu  về  kinh  tế  ‐  xã 

hội  cho  đất  nước.  Bên  cạnh  đó,  lối  sống  phóng 

khoáng  cùng  quan  niệm  cởi  mở  về  vấn  đề  giới 

tính và tình dục của các nước phương Tây cũng 

đang ngày một phổ biến trong giới trẻ. Điều này 

lí giải cho tình trạng QHTD trước hôn nhân hiện 

nay của thanh thiếu niên nói chung và trong giới 

sinh viên nói riêng, đặc biệt là các bạn học tập xa 

nhà.  Tại  thành  phố  Hồ  Chí  Minh,  tỉ  lệ  QHTD 

trước  hôn  nhân  được  ghi  nhận  ở  thanh  niên  là 

25%(8). Tuy nhiên, tỉ lệ sử dụng các  BPTT  trong 

QHTD rất khiêm tốn. Theo Dương Đăng Hanh 

(1999),  chỉ  53,6%  sinh  viên  18‐24  tuổi  sử  dụng  BPTT trong lần QHTD đầu tiên(3). Trong khi đó,  nhiều  nghiên  cứu  lớn  trên  nhiều  quốc  gia  đã  được  thực  hiện  và  đều  khẳng  định  kiến  thức,  thái  độ,  hành  vi  đúng  về  các  BPTT  hiện  đại  trong QHTD giúp tránh được mang TNYM, nạo  phá thai và nguy cơ lan truyền các bệnh lây qua  đường tình dục(5). 

Đại học Y Dược TP. HCM là trung tâm đào  tạo  nhân  lực  y  tế  hàng  đầu  khu  vực  phía  nam  Việt  Nam.  Sinh  viên  Y  khoa  của  trường  vừa  mang đặc điểm chung của giới trẻ Việt Nam vừa 

là  nguồn  nhân  lực  tương  lai  của  ngành  y  tế.  Trong đó, sinh viên năm thứ nhất chưa tiếp cận  với các môn chuyên ngành nên nhận thức về các  vấn đề sức khỏe có phần tương đồng sinh viên  năm nhất tại các trường đại học khác. Tuy nhiên,  chưa  có  công  trình  nghiên  cứu  nào  được  thực  hiện để tìm hiểu  về  kiến  thức,  thái  độ  của  sinh  viên Y khoa năm thứ nhất về các BPTT phổ biến  hiện nay. Chính  vì  vậy  mà  chúng  tôi  thực  hiện 

đề  tài  này  với  câu  hỏi  nghiên  cứu  là  “Tỉ lệ kiến 

thức,  thái  độ  đúng  về  các  BPTT  phổ  biến  của  sinh  viên  Y  khoa  năm  thứ  nhất  tại  Đại  học  Y  Dược  TP.  HCM là bao nhiêu”. Từ đó giúp các  nhà  quản  lý 

giáo dục có cái nhìn toàn diện hơn về tình hình  nhận  thức  các  vấn  đề  SKSS  của  giới  sinh  viên  Việt Nam hiện nay. 

Mục tiêu nghiên cứu 

Mục tiêu chính 

Xác định tỉ lệ sinh viên Y khoa năm thứ nhất 

có  kiến  thức  và  thái  độ  đúng  về  ba  BPTT:  bao 

Trang 3

cao  su,  vỉ  thuốc  tránh  thai  phối  hợp  và  thuốc 

tránh thai khẩn cấp tại Đại học Y Dược TPHCM. 

Mục tiêu phụ 

Khảo sát các yếu tố liên quan đến tỉ lệ sinh 

viên Y khoa năm thứ nhất  có  kiến  thức  và  thái 

độ đúng về ba BPTT nêu trên. 

ĐỐI TƯỢNG ‐ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 

Thiết kế 

Nghiên cứu cắt ngang. 

Đối tượng nghiên cứu 

Dân số mục tiêu: Sinh viên Y khoa năm thứ 

nhất của các trường đại học tại TPHCM 

Dân số nghiên cứu: Sinh viên Y khoa năm thứ nhất 

năm học 2012‐2013 tại Đại học Y Dược TPHCM đồng 

ý tham gia nghiên cứu. 

Tiêu chuẩn loại trừ: Sinh viên không trả lời 1 

trong 3 phần của bộ câu hỏi: bao cao su, hoặc vỉ 

thuốc tránh thai phối hợp, hoặc thuốc tránh thai 

khẩn cấp; sinh viên người Campuchia. 

Cỡ mẫu 

Cỡ mẫu được tính theo công thức tìm 1 tỉ lệ 

trong cộng đồng:  

2

2

2

-1

d

p 1 p Z

n

  Với:  =0,05  có  Z(1‐  α/2)=1,96.  P=50%  để  có  cỡ 

mẫu  lớn  nhất.  Chọn  d=0,05.  Cỡ  mẫu  cần  thiết: 

n=385. 

Phương pháp chọn mẫu 

Ngẫu nhiên theo cụm, đơn vị cụm là toàn bộ 

sinh viên trong tổ được chọn.  

Bước  1:  Lập  danh  sách  tất  cả  sinh  viên  Y 

khoa  năm  thứ  nhất  năm  học  2012‐2013  tại  Đại 

học  Y  Dược  TP  HCM,  gồm  589  sinh  viên  đã 

được chia ngẫu nhiên thành 36 tổ. 

Bước 2: Rút thăm ngẫu nhiên chọn 24 tổ từ 

36 tổ trên. Các tổ được chọn: 3, 7, 8, 9, 10, 11, 12, 

14, 15, 16, 18, 19, 20, 22, 23, 24, 25, 27, 29, 30, 31, 

32, 35, 36. 

Bước 3: Mời hết tất cả các sinh viên trong 24 

tổ  được  chọn  đưa  vào  mẫu  nghiên  cứu.  Sinh 

viên điền vào bộ câu hỏi  khảo  sát  kiến  thức  và  thái độ về 3 BPTT kể trên.  

Phương pháp tiến hành 

Phương pháp thu thập số liệu 

Thời  gian  khảo  sát  từ  15/05/2013  đến  30/06/2013.  

Mỗi ngày chúng tôi tiến hành lấy mẫu 2 tổ.  Trước  ngày  khảo  sát,  chúng  tôi  liên  hệ  gặp  tổ  trưởng  2  tổ  sẽ  khảo  sát  để  gửi  thư  ngỏ  và  hẹn  thời gian, địa điểm tiến hành phỏng vấn. 

Khảo sát được tiến hành vào các buổi chiều.  Sau giờ học, điều tra viên tiếp xúc với sinh viên 2 

tổ  tại  giảng  đường  3.  Sinh  viên  được  phổ  biến  nội dung tiến hành, cách ghi chép, giải đáp các  thắc  mắc,  cung  cấp  trang  thông  tin  nghiên  cứu 

và ký tên vào bản Tự nguyện đồng ý  tham  gia  nghiên cứu sau khi đọc kỹ. 

Sau đó các sinh viên được phát bộ câu hỏi,  mỗi  bạn  ngồi  riêng  tự  trả  lời.  Các  bạn  được  dành  thời  gian  1  giờ,  đủ  để  đọc  hiểu  và  suy  nghĩ  câu  trả  lời  cho  từng  câu  hỏi  của  bộ  câu  hỏi.  Mỗi  bộ  câu  hỏi  có  mã  số  riêng  và  không  ghi tên họ để bảo đảm tính bí mật cho cá nhân  sinh  viên  và  thông  tin  thu  nhận  được  chính  xác, đồng thời bảo đảm tính khách quan trung  thực của nghiên cứu. 

Ngay sau khi sinh viên trả lời xong,  bộ  câu  hỏi được điều tra viên thu lại cho vào túi. 

Người làm nghiên cứu mỗi tuần kiểm lại các 

bộ câu hỏi và nhập số liệu.  

Chúng tôi áp dụng cùng một quy trình lấy  mẫu  nêu  trên  tại  cùng  địa  điểm  là  giảng  đường  3  và  cùng  thời  gian  là  sau  giờ  học  cho  tất cả các nhóm để kết  quả  thu  được  đồng  bộ 

và khách quan. 

Công cụ thu thập số liệu 

Công  cụ  thu  thập  số  liệu  chính  của  nghiên  cứu là bộ câu hỏi trắc nghiệm tự điền. Bộ câu hỏi  này  dựa  vào  nguồn  của  các  câu  hỏi  chuẩn  của 

Trang 4

các  nghiên  cứu  trước  đây  như:  John  Cleland‐

WHO(2005‐2007)  “Illustrative  Questionnaire  for 

Interview‐survey  with  Young  People”,  Anjel 

Vahratian (2008) “College Students’ Perceptions 

of  Emergency  Contraception  Provision”,  và 

Demographic  Health  Survey  (2011).  Chúng  tôi 

tập  hợp  chỉnh  sửa  lại  bộ  câu  hỏi  cho  phù  hợp 

dựa vào 30 mẫu pilot. Kiến thức, thái độ về các 

BPTT của sinh viên là biến nhị giá. 

Phương pháp xử lý số liệu 

Nhập  số  liệu  bằng  phần  mềm  Microsoft 

Excel 2010. Xử lý số liệu bằng phần mềm thống 

kê Stata 10.0. Phân tích gồm 2 bước: bước 1 mô 

tả và phân tích đơn biến; bước 2 dùng mô hình 

hồi qui đa biến nhằm kiểm soát yếu tố gây nhiễu 

để  tính  PR  hiệu  chỉnh  (PR*)  cho  các  biến  số. 

Thống kê với độ tin cậy 95%. 

KẾT QUẢ & BÀN LUẬN 

Đặc điểm đối tượng nghiên cứu 

Có 396 sinh viên tham gia nghiên cứu, tất cả 

đều thỏa tiêu chuẩn chọn mẫu và đều được đưa 

vào phân tích thống kê. Đa số sinh viên nhỏ hơn 

hoặc bằng 19 tuổi (72,7%). Tỉ lệ nam/nữ là 1,1 và 

tỉ  lệ  sinh  viên  ở  thành  thị  và  nông  thôn  xấp  xỉ 

nhau. Phần lớn sinh viên ở nhà trọ (50,5%) và ký 

túc  xá  (24,5%).  Hầu  hết  sinh  viên  chưa  lập  gia 

đình  (99,2%).  Đa  số  sinh  viên  không  tôn  giáo 

(72,7%)  và  dân  tộc  Kinh  (84,9%).  75%  có  tình 

trạng kinh tế gia đình ở mức vừa đủ sống. Tỉ lệ 

đã từng QHTD là 7,3%. 

Tỉ lệ sinh viên Y khoa năm thứ nhất có kiến 

thức đúng 

Về bao cao su, vỉ thuốc tránh thai phối hợp 

và  thuốc  TTKC  lần  lượt  là:  18,7%  (KTC  95%: 

0,15‐0,23);  4,5%  (KTC  95%:  0,03‐0,07);  12,6% 

(KTC 95%: 0,10‐0,16). 

Tỉ lệ sinh viên Y khoa năm thứ nhất có thái 

độ đúng 

Về bao cao su, vỉ thuốc tránh thai phối hợp 

và  thuốc  TTKC  lần  lượt  là:  19,9%  (KTC  95%: 

0,16‐0,24);  7,6%  (KTC  95%:  0,05‐0,11);  12,9% 

(KTC 95%: 0,10‐0,17). 

Tỉ  lệ  sinh  viên  Y  khoa  năm  thứ  nhất  có  kiến thức lẫn thái độ đúng về các BPTT 

Bảng 2. Kiến thức và thái độ của sinh viên Y khoa 

năm thứ nhất về các BPTT phổ biến 

Kiến thức và thái độ Đúng

N (%) (KTC 95%)

Chưa đúng

N (%) (KTC 95%)

Bao cao su 30 (7,6)

(0,05-0,11) (0,89-0,95) 366 (92,4)

Vỉ thuốc tránh thai phối hợp (0,01-0,04) 7 (1,8) (0,96-0,99) 389 (98,2) Thuốc tránh thai khẩn

cấp (0,001-0,018) 2 (0,5) (0,982-0,999) 394 (99,5)

Cả 3 BPTT 0 (0,0) 396 (100) Khi so sánh với các tác giả Lê Trung (2008)(4) 

và  Nguyễn  Hoàng  Lam  (2009)(6),  khảo  sát  ở  nữ 

đã lập gia đình và đang hoặc đã sử dụng BPTT  hoặc  đối  tượng  đến  nạo  phá  thai  kết  quả  của  chúng tôi đều thấp hơn. Đây là điều dễ hiểu vì  đối tượng nghiên cứu của chúng tôi đa số chưa  lập  gia  đình  và  chưa  QHTD.  Hai  tác  giả  Carvalho (2008)(1) và Daniyam (2008)(2) đều nhận  thấy sinh viên y khoa luôn có kiến thức về BPTT  tốt hơn. Tuy nhiên, khi so sánh với một nghiên  cứu  khác  trên  đối  tượng  sinh  viên  các  trường  cao đẳng tại Kiên Giang(11), chúng tôi nhận thấy  sinh  viên  Y  khoa  đa  số  có  kiến  thức  và  thái  độ  kém  hơn.  Đây  là  điều  rất  đáng  quan  tâm  và  được  giải  thích  là  do  các  bạn  dành  nhiều  thời  gian cho việc học tập văn hóa để thi tuyển vào  một  trường  có  điểm  chuẩn  cao  như  Đại  học  Y  Dược TPHCM. 

Các yếu tố liên quan đến kiến thức – thái 

độ của sinh viên Y khoa năm thứ nhất 

Sau  khi  phân  tích  đơn  biến,  chúng  tôi  đưa  các biến số có P trị giá <0,25 và các biến số mà tài  liệu tham khảo chỉ ra có mối liên quan với kiến  thức, thái độ về BPTT vào phương trình hồi qui 

đa biến, gồm 7 biến số: tuổi, giới, nơi cư trú, nơi 

ở hiện tại, tôn giáo, dân tộc, kinh tế gia đình.  Kết quả trên cho thấy chỉ có giới tính và nơi 

cư  trú  là  liên  quan  đến  kiến  thức  đúng  về  bao  cao su của sinh viên Y khoa năm thứ nhất. Sinh  viên nam có kiến thức đúng về BCS cao gấp 2,27  lần  so  với  sinh  viên  nữ,  sự  khác  biệt  này  có  ý  nghĩa thống kê (P <0,05). Sinh viên ở nông thôn 

Trang 5

ở thành thị, sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê 

(P  <0,05).  Điều  này  phù  hợp  với  cuộc  điều  tra  trên quy mô toàn quốc(9). 

Bảng 3. Phân tích hồi quy đa biến tìm các yếu tố liên quan đến kiến thức đúng bao cao su 

Đặc điểm KT đúng n=74 KT chưa đúng n=322 PR(*) 95% CI P-value

Nơi cư trú trước

khi vào đại học Thành thị

Tình trạng kinh tế

Bảng 4. Phân tích hồi quy đa biến tìm các yếu tố liên quan đến thái độ đúng bao cao su 

Đặc điểm TĐ đúng n=79 TĐ chưa đúng n=317 PR(*) P-value

Nơi cư trú trước

khi vào đại học Thành thị

Tình trạng kinh tế

Kết  quả  nhận  thấy,  chỉ  có  giới  tính  liên 

quan có ý nghĩa thống kê với thái độ đúng về 

BCS. Cụ thể là sinh viên nam có thái độ đúng 

về BCS cao gấp 1,94 lần so với sinh viên nữ, sự 

khác biệt này có ý nghĩa thống kê với P <0,05. 

Ngoài ra kết quả cũng không nhận thấy có 

mối liên quan giữa kiến thức và thái độ đúng 

về vỉ thuốc tránh thai phối hợp và thuốc TTKC  với các đặc điểm tuổi, giới, nơi cư trú trước khi  vào  đại  học,  nơi  ở  hiện  tại,  tôn  giáo,  dân  tộc,  tình trạng kinh tế. 

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 

Tỉ lệ sinh viên Y khoa năm thứ nhất có kiến 

thức đúng: về bao cao su, thuốc tránh thai phối 

Trang 6

0,15‐0,23);  4,5%  (KTC  95%:  0,03‐0,07);  12,6% 

(KTC 95%: 0,10‐0,16). 

Tỉ lệ sinh viên Y khoa năm thứ nhất có thái 

độ  đúng:  về  bao  cao  su,  thuốc  tránh  thai  phối 

hợp và thuốc TTKC lần lượt là: 19,9% (KTC 95%: 

0,16‐0,24);  7,6%  (KTC  95%:  0,05‐0,11);  12,9% 

(KTC 95%: 0,10‐0,17). 

Các yếu tố liên quan đến kiến thức và thái 

độ của sinh viên Y khoa năm thứ nhất là: giới 

tính và nơi cư trú. 

Số  liệu  nghiên  cứu  chỉ  ra  đa  số  sinh  viên  Y 

khoa năm thứ nhất tại Đại học Y Dược TP. HCM 

có kiến thức chưa đúng và thái độ chưa tích cực 

về các BPTT phổ biến. So với kết quả các nghiên 

cứu trên đối tượng sinh viên tại các trường Đại 

học,  Cao  đẳng  khác  chúng  tôi  nhận  thấy  sinh 

viên Y khoa năm thứ nhất  có  kiến  thức  và  thái 

độ  đúng  không  cao  hơn.  Trong  khi  đó,  tình 

trạng QHTD trước hôn nhân là có xảy ra trong 

một bộ phận đối tượng này nên nguy cơ mang 

TNYM cùng hậu quả của nó vẫn đe dọa các bạn. 

Do đó, cần có biện pháp can thiệp ngay từ năm 

thứ nhất để nâng cao kiến thức, cải thiện thái độ 

của các bạn về các BPTT. Mặt khác, sinh viên Y 

khoa là cán bộ y tế tương lai nên yêu cầu đặt ra 

là  các  bạn  phải  có  kiến  thức  tốt  và  thái  độ  tích 

cực về các BPTT. 

Kiến nghị Đại học Y dược TPHCM: Phối hợp 

với các bộ môn lồng ghép kiến thức về sức khỏe 

sinh sản, nhất là các BPTT phổ biến hiện nay vào 

ngay  các  môn  học  năm  thứ  nhất.  Kết  hợp  với 

Đoàn Thanh niên, Hội Sinh viên tổ chức các buổi 

sinh hoạt, các phong trào thi đua nhằm cung cấp 

cho  các  bạn  sinh  viên  những  kiến  thức  thiết 

thực, có ích trong việc áp dụng đúng các BPTT 

vào thực tế ngay sau khi nhập học.  

TÀI LIỆU THAM KHẢO 

1 Carvalho  K.  A  (2008).  Medical  students:  abuse  of  psychoactive  substances  and  sexuality  aspects.  Int  J  Adolesc  Med Health, 20, (3). 321‐8. 

2 Daniyam CA, Agaba PA, Agaba EI (2008) Sexual behavior of  medical  students:  A  single  institutional  survey.  Afr  Health  Sci, 10, (2). 150‐3. 

3 Dương  Đăng  Hanh  (1999).  Kiến  thức,  thái  độ,  thành  vi  tính  dục  của  sinh  viên  lứa  tuổi  18‐24  chưa  lập  gia  đình  tại  TP.  HCM.  Luận  văn  Thạc  sĩ  Y  học,  Đại  học  Y  Dược  TP.  HCM,  Thành phố Hồ Chí Minh. 

4 Lê  Trung,  Nguyễn  Duy  Tài  (2009).  Mối  liên  quan  giữa  kiến  thức – thực hành thuốc viên ngừa thai với tình trạng có thai  ngoài  ý  muốn  ở  phụ  nữ  đến  trung  tâm  chăm  sóc  sức  khỏe  sinh  sản  TP.  Hồ  Chí  Minh  năm  2008.  Y  học  Thành  phố  Hồ  Chí Minh, 13(1). 180‐184. 

5 Marston  C,  Cleland  J  (2003).  Relationships  between  contraception  and  abortion:  a  review  of  evidence.  International Family Planning Perspectives, 29(1). 6‐13.  

6 Nguyễn Hoàng Lam, Nguyễn Thị Từ Vân (2010). Kiến thức,  thái độ, hành vi về sử dụng biện pháp tránh thai hiện đại ở 

nữ  công  nhân  quận  9  –  TPHCM.  Y  học  Thành  phố  Hồ  Chí  Minh, 14(1). 315‐320. 

7 Parazzini  F,  Ferraroni  M,  Tozzi  L,  Ricci  E,  Mezzopane  R,  Lavecchia  C  (1995).  Induced  abortions  and  risk  of  ectopic  pregnancy. Human Reproductive, 10(7). 1841‐4. 

8 Phạm Gia Đức, Tạ Thị Thanh Thủy (1997). Kiến thức, thái độ,  hành vi sinh sản ở tuổi thiếu niên, học sinh TP. Hồ Chí Minh.  Thời sự Y Dược học, 2(8). 45‐47. 

9 Tổng  cục  thống  kê  (2004).  Điều  tra  biến  động  dân  số  và  KHHGĐ 2000‐2004. 

10 Viện Chiến lược và Chính sách Y tế (Bộ Y tế). Nạo phá thai ở  Việt  Nam  với  chính  sách  Dân  số  ‐  Kế  hoạch  hóa  gia  đình.  http://www.hspi.org.vn/vcl/Nao‐pha‐thai‐o‐Viet‐Nam‐voi‐ cong‐tac‐Dan‐so‐‐‐ke‐hoach‐hoa‐gia‐dinh‐t67‐1186.html  (truy  cập ngày 15/07/2013) 

11 Võ  Minh  Tuấn,  Trần  Thị  Như  Quỳnh  (2012).  Kiến  thức  và  thái  độ  về  các  biện  pháp  tránh  thai  thông  dụng  ở  sinh  viên  nam tại các trường Cao đẳng thành phố Rạch Giá, Kiên Giang  năm 2011. Y học Thành phố Hồ Chí Minh, 16(1). 276‐281. 

  Ngày nhận bài báo:       30/11/2013  Ngày phản biện nhận xét bài báo:   02/12/2013  Ngày bài báo được đăng:     05/01/2014  

 

Ngày đăng: 22/01/2020, 00:22

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm