Nghiên cứu được thực hiện với mục tiêu xác định tỉ lệ sinh viên Y khoa năm thứ nhất có kiến thức và thái độ đúng về ba BPTT: bao cao su, thuốc tránh thai phối hợp và thuốc tránh thai khẩn cấp và các yếu tố liên quan đến kiến thức và thái độ đúng của sinh viên Y khoa năm thứ nhất tại Đại học Y Dược TP HCM.
Trang 1THÔNG DỤNG CỦA SINH VIÊN Y KHOA NĂM THỨ NHẤT
TẠI ĐẠI HỌC Y DƯỢC TPHCM (2013)
Dương Hồng Phúc*, Võ Minh Tuấn**, Lê Thị Kiều Dung**
TÓM TẮT
Mục tiêu: Xác định tỉ lệ sinh viên Y khoa năm thứ nhất có kiến thức và thái độ đúng về ba BPTT: bao cao
su, thuốc tránh thai phối hợp và thuốc tránh thai khẩn cấp và các yếu tố liên quan đến kiến thức và thái độ đúng của sinh viên Y khoa năm thứ nhất tại Đại học Y Dược TP HCM.
Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu cắt ngang vào tháng 5‐6/2013 ở các sinh viên Y khoa năm thứ nhất
tại Đại học Y Dược TP HCM. Chọn mẫu theo phương pháp ngẫu nhiện phân tầng.
Kết quả: Khảo sát 396 sinh viên Y khoa năm thứ nhất, tỉ lệ có kiến thức đúng về BCS, thuốc tránh thai phối
hợp và thuốc TTKC lần lượt là: 18,7% (KTC 95%: 0,15‐0,23); 4,5% (KTC 95%: 0,03‐0,07); 12,6% (KTC 95%: 0,10‐0,16). Tỉ lệ có thái độ đúng về BCS, thuốc tránh thai phối hợp và thuốc TTKC lần lượt là: 19,9% (KTC 95%: 0,16‐0,24); 7,6% (KTC 95%: 0,05‐0,11); 12,9% (KTC 95%: 0,10‐0,17). Các yếu tố liên quan đến kiến thức
và thái độ của sinh viên là: giới tính và nơi cư trú.
Kết luận: Đa số sinh viên Y khoa năm thứ nhất có kiến thức chưa đúng và thái độ chưa tích cực về các
BPTT phổ biến. Mặc dù là sinh viên Y khoa, kết quả cho thấy thậm chí họ kém hơn so với sinh viên các trường khác. Do đó cần lồng ghép kiến thức SKSS và các BPTT vào các môn học năm thứ nhất. Kết hợp với Đoàn Thanh niên, Hội Sinh viên tổ chức các buổi sinh hoạt, các phong trào thi đua nhằm cung cấp kiến thức về BPTT phổ biến cho sinh viên.
Từ khóa: Kiến thức ‐ thái độ, biện pháp tránh thai, bao cao su, thuốc tránh thai phối hợp, thuốc tránh thai
khẩn cấp.
ABSTRACT
KNOWLEDGE AND ATTITUDE OF FRESHMAN MEDICAL STUDENTS ABOUT
THE CURRENT CONTRACEPTIVE METHODS AT HO CHI MINH CITY UNIVERSITY
OF MEDICINE AND PHARMACY (2013)
Duong Hong Phuc, Vo Minh Tuan, Le Thi Kieu Dung
* Y Hoc TP. Ho Chi Minh * Vol. 18 ‐ Supplement of No 1 ‐ 2014: 14 ‐ 19
Objective: To examine the prevalence of freshman medical students at HCMC University of Medicine and
Pharmacy about their knowledge and attitude on contraceptive methods including condom, oral contraception and emergency contraception; and relative factors of the knowledge and attitude among those of medical students.
Methods: A cross‐sectional study was conducted from May to June 2013 among freshman medical students
at the UMP using the randomized cluster selection.
Results: 396 freshman medical students from the UMP involved in the research. The prevalence of students
having right knowledge on using condom, oral contraception and emergency contraception is 18,7% (95% CI: 0,15‐0,23), 4,5% (95% CI: 0,03‐0,07), 12,6% (95% CI: 0,10‐0,16), and the rate of students having right attitude
on using the methods is 19,9% (95% CI: 0,16‐0,24), 7,6% (95% CI: 0,05‐0,11), 12,9% (95%: 0,10‐0,17). The
* ĐHYD TP.HCM ** Bộ môn Phụ Sản Đại học Y Dược TP HCM
Tác giả liên lạc. SV. Dương Hồng Phúc ĐT: 0988049223 Email: hongphuc.y07a@yahoo.com
Trang 2Conclusion: Most of freshman medical student do not have proper knowledge or positive attitude on
common contraceptive methods. These results are worse than those of other universities. Therefore, we should integrate productive health and contraceptive knowledge in the first year courses. Collaborate with the Youth Councils, Student Association to organize meetings, competitions to provide knowledge about contraceptive methods to students.
Keywords: Knowledge‐attitude, contraceptive methods, condom, oral contraception, emergency
contraception.
ĐẶT VẤN ĐỀ
Tình hình phá thai hiện nay vẫn còn cao và
là thách thức trong công tác chăm sóc sức khỏe
sinh sản (SKSS) tại các nước. Tổ chức Y tế Thế
giới (TCYTTG) ước tính hằng năm trên thế giới
có khoảng 40 – 60 triệu phụ nữ phá thai. Tại Việt
Nam, theo Niên giám thống kê của Bộ Y tế, tỉ lệ
nạo phá thai trong độ tuổi sinh sản (15 ‐ 49 tuổi)
là 34,91%(10).
Nguy cơ từ nạo phá thai không chỉ ảnh
hưởng SKSS mà còn gây ra các tổn thương về
tinh thần cho người phụ nữ. Theo TCYTTG, tỉ lệ
phụ nữ mắc tai biến do nạo phá thai khoảng
25%; tại các nước đang phát triển, tai biến từ nạo
phá thai chiếm 7 – 27% nguyên nhân gây tử
vong bà mẹ(10). Bên cạnh đó, nạo phá thai còn là
một trong những nguyên nhân chủ yếu gây vô
sinh thứ phát ở phụ nữ(7).
Hiện trạng này có nguyên nhân chủ yếu là
do không sử dụng hoặc sử dụng sai các biện
pháp tránh thai (BPTT) khi quan hệ tình dục
(QHTD). Cùng với quá trình hội nhập, giới trẻ
Việt Nam ngày một năng động, sáng tạo góp
phần tạo nên những thành tựu về kinh tế ‐ xã
hội cho đất nước. Bên cạnh đó, lối sống phóng
khoáng cùng quan niệm cởi mở về vấn đề giới
tính và tình dục của các nước phương Tây cũng
đang ngày một phổ biến trong giới trẻ. Điều này
lí giải cho tình trạng QHTD trước hôn nhân hiện
nay của thanh thiếu niên nói chung và trong giới
sinh viên nói riêng, đặc biệt là các bạn học tập xa
nhà. Tại thành phố Hồ Chí Minh, tỉ lệ QHTD
trước hôn nhân được ghi nhận ở thanh niên là
25%(8). Tuy nhiên, tỉ lệ sử dụng các BPTT trong
QHTD rất khiêm tốn. Theo Dương Đăng Hanh
(1999), chỉ 53,6% sinh viên 18‐24 tuổi sử dụng BPTT trong lần QHTD đầu tiên(3). Trong khi đó, nhiều nghiên cứu lớn trên nhiều quốc gia đã được thực hiện và đều khẳng định kiến thức, thái độ, hành vi đúng về các BPTT hiện đại trong QHTD giúp tránh được mang TNYM, nạo phá thai và nguy cơ lan truyền các bệnh lây qua đường tình dục(5).
Đại học Y Dược TP. HCM là trung tâm đào tạo nhân lực y tế hàng đầu khu vực phía nam Việt Nam. Sinh viên Y khoa của trường vừa mang đặc điểm chung của giới trẻ Việt Nam vừa
là nguồn nhân lực tương lai của ngành y tế. Trong đó, sinh viên năm thứ nhất chưa tiếp cận với các môn chuyên ngành nên nhận thức về các vấn đề sức khỏe có phần tương đồng sinh viên năm nhất tại các trường đại học khác. Tuy nhiên, chưa có công trình nghiên cứu nào được thực hiện để tìm hiểu về kiến thức, thái độ của sinh viên Y khoa năm thứ nhất về các BPTT phổ biến hiện nay. Chính vì vậy mà chúng tôi thực hiện
đề tài này với câu hỏi nghiên cứu là “Tỉ lệ kiến
thức, thái độ đúng về các BPTT phổ biến của sinh viên Y khoa năm thứ nhất tại Đại học Y Dược TP. HCM là bao nhiêu”. Từ đó giúp các nhà quản lý
giáo dục có cái nhìn toàn diện hơn về tình hình nhận thức các vấn đề SKSS của giới sinh viên Việt Nam hiện nay.
Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu chính
Xác định tỉ lệ sinh viên Y khoa năm thứ nhất
có kiến thức và thái độ đúng về ba BPTT: bao
Trang 3cao su, vỉ thuốc tránh thai phối hợp và thuốc
tránh thai khẩn cấp tại Đại học Y Dược TPHCM.
Mục tiêu phụ
Khảo sát các yếu tố liên quan đến tỉ lệ sinh
viên Y khoa năm thứ nhất có kiến thức và thái
độ đúng về ba BPTT nêu trên.
ĐỐI TƯỢNG ‐ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Thiết kế
Nghiên cứu cắt ngang.
Đối tượng nghiên cứu
Dân số mục tiêu: Sinh viên Y khoa năm thứ
nhất của các trường đại học tại TPHCM
Dân số nghiên cứu: Sinh viên Y khoa năm thứ nhất
năm học 2012‐2013 tại Đại học Y Dược TPHCM đồng
ý tham gia nghiên cứu.
Tiêu chuẩn loại trừ: Sinh viên không trả lời 1
trong 3 phần của bộ câu hỏi: bao cao su, hoặc vỉ
thuốc tránh thai phối hợp, hoặc thuốc tránh thai
khẩn cấp; sinh viên người Campuchia.
Cỡ mẫu
Cỡ mẫu được tính theo công thức tìm 1 tỉ lệ
trong cộng đồng:
2
2
2
-1
d
p 1 p Z
n
Với: =0,05 có Z(1‐ α/2)=1,96. P=50% để có cỡ
mẫu lớn nhất. Chọn d=0,05. Cỡ mẫu cần thiết:
n=385.
Phương pháp chọn mẫu
Ngẫu nhiên theo cụm, đơn vị cụm là toàn bộ
sinh viên trong tổ được chọn.
Bước 1: Lập danh sách tất cả sinh viên Y
khoa năm thứ nhất năm học 2012‐2013 tại Đại
học Y Dược TP HCM, gồm 589 sinh viên đã
được chia ngẫu nhiên thành 36 tổ.
Bước 2: Rút thăm ngẫu nhiên chọn 24 tổ từ
36 tổ trên. Các tổ được chọn: 3, 7, 8, 9, 10, 11, 12,
14, 15, 16, 18, 19, 20, 22, 23, 24, 25, 27, 29, 30, 31,
32, 35, 36.
Bước 3: Mời hết tất cả các sinh viên trong 24
tổ được chọn đưa vào mẫu nghiên cứu. Sinh
viên điền vào bộ câu hỏi khảo sát kiến thức và thái độ về 3 BPTT kể trên.
Phương pháp tiến hành
Phương pháp thu thập số liệu
Thời gian khảo sát từ 15/05/2013 đến 30/06/2013.
Mỗi ngày chúng tôi tiến hành lấy mẫu 2 tổ. Trước ngày khảo sát, chúng tôi liên hệ gặp tổ trưởng 2 tổ sẽ khảo sát để gửi thư ngỏ và hẹn thời gian, địa điểm tiến hành phỏng vấn.
Khảo sát được tiến hành vào các buổi chiều. Sau giờ học, điều tra viên tiếp xúc với sinh viên 2
tổ tại giảng đường 3. Sinh viên được phổ biến nội dung tiến hành, cách ghi chép, giải đáp các thắc mắc, cung cấp trang thông tin nghiên cứu
và ký tên vào bản Tự nguyện đồng ý tham gia nghiên cứu sau khi đọc kỹ.
Sau đó các sinh viên được phát bộ câu hỏi, mỗi bạn ngồi riêng tự trả lời. Các bạn được dành thời gian 1 giờ, đủ để đọc hiểu và suy nghĩ câu trả lời cho từng câu hỏi của bộ câu hỏi. Mỗi bộ câu hỏi có mã số riêng và không ghi tên họ để bảo đảm tính bí mật cho cá nhân sinh viên và thông tin thu nhận được chính xác, đồng thời bảo đảm tính khách quan trung thực của nghiên cứu.
Ngay sau khi sinh viên trả lời xong, bộ câu hỏi được điều tra viên thu lại cho vào túi.
Người làm nghiên cứu mỗi tuần kiểm lại các
bộ câu hỏi và nhập số liệu.
Chúng tôi áp dụng cùng một quy trình lấy mẫu nêu trên tại cùng địa điểm là giảng đường 3 và cùng thời gian là sau giờ học cho tất cả các nhóm để kết quả thu được đồng bộ
và khách quan.
Công cụ thu thập số liệu
Công cụ thu thập số liệu chính của nghiên cứu là bộ câu hỏi trắc nghiệm tự điền. Bộ câu hỏi này dựa vào nguồn của các câu hỏi chuẩn của
Trang 4các nghiên cứu trước đây như: John Cleland‐
WHO(2005‐2007) “Illustrative Questionnaire for
Interview‐survey with Young People”, Anjel
Vahratian (2008) “College Students’ Perceptions
of Emergency Contraception Provision”, và
Demographic Health Survey (2011). Chúng tôi
tập hợp chỉnh sửa lại bộ câu hỏi cho phù hợp
dựa vào 30 mẫu pilot. Kiến thức, thái độ về các
BPTT của sinh viên là biến nhị giá.
Phương pháp xử lý số liệu
Nhập số liệu bằng phần mềm Microsoft
Excel 2010. Xử lý số liệu bằng phần mềm thống
kê Stata 10.0. Phân tích gồm 2 bước: bước 1 mô
tả và phân tích đơn biến; bước 2 dùng mô hình
hồi qui đa biến nhằm kiểm soát yếu tố gây nhiễu
để tính PR hiệu chỉnh (PR*) cho các biến số.
Thống kê với độ tin cậy 95%.
KẾT QUẢ & BÀN LUẬN
Đặc điểm đối tượng nghiên cứu
Có 396 sinh viên tham gia nghiên cứu, tất cả
đều thỏa tiêu chuẩn chọn mẫu và đều được đưa
vào phân tích thống kê. Đa số sinh viên nhỏ hơn
hoặc bằng 19 tuổi (72,7%). Tỉ lệ nam/nữ là 1,1 và
tỉ lệ sinh viên ở thành thị và nông thôn xấp xỉ
nhau. Phần lớn sinh viên ở nhà trọ (50,5%) và ký
túc xá (24,5%). Hầu hết sinh viên chưa lập gia
đình (99,2%). Đa số sinh viên không tôn giáo
(72,7%) và dân tộc Kinh (84,9%). 75% có tình
trạng kinh tế gia đình ở mức vừa đủ sống. Tỉ lệ
đã từng QHTD là 7,3%.
Tỉ lệ sinh viên Y khoa năm thứ nhất có kiến
thức đúng
Về bao cao su, vỉ thuốc tránh thai phối hợp
và thuốc TTKC lần lượt là: 18,7% (KTC 95%:
0,15‐0,23); 4,5% (KTC 95%: 0,03‐0,07); 12,6%
(KTC 95%: 0,10‐0,16).
Tỉ lệ sinh viên Y khoa năm thứ nhất có thái
độ đúng
Về bao cao su, vỉ thuốc tránh thai phối hợp
và thuốc TTKC lần lượt là: 19,9% (KTC 95%:
0,16‐0,24); 7,6% (KTC 95%: 0,05‐0,11); 12,9%
(KTC 95%: 0,10‐0,17).
Tỉ lệ sinh viên Y khoa năm thứ nhất có kiến thức lẫn thái độ đúng về các BPTT
Bảng 2. Kiến thức và thái độ của sinh viên Y khoa
năm thứ nhất về các BPTT phổ biến
Kiến thức và thái độ Đúng
N (%) (KTC 95%)
Chưa đúng
N (%) (KTC 95%)
Bao cao su 30 (7,6)
(0,05-0,11) (0,89-0,95) 366 (92,4)
Vỉ thuốc tránh thai phối hợp (0,01-0,04) 7 (1,8) (0,96-0,99) 389 (98,2) Thuốc tránh thai khẩn
cấp (0,001-0,018) 2 (0,5) (0,982-0,999) 394 (99,5)
Cả 3 BPTT 0 (0,0) 396 (100) Khi so sánh với các tác giả Lê Trung (2008)(4)
và Nguyễn Hoàng Lam (2009)(6), khảo sát ở nữ
đã lập gia đình và đang hoặc đã sử dụng BPTT hoặc đối tượng đến nạo phá thai kết quả của chúng tôi đều thấp hơn. Đây là điều dễ hiểu vì đối tượng nghiên cứu của chúng tôi đa số chưa lập gia đình và chưa QHTD. Hai tác giả Carvalho (2008)(1) và Daniyam (2008)(2) đều nhận thấy sinh viên y khoa luôn có kiến thức về BPTT tốt hơn. Tuy nhiên, khi so sánh với một nghiên cứu khác trên đối tượng sinh viên các trường cao đẳng tại Kiên Giang(11), chúng tôi nhận thấy sinh viên Y khoa đa số có kiến thức và thái độ kém hơn. Đây là điều rất đáng quan tâm và được giải thích là do các bạn dành nhiều thời gian cho việc học tập văn hóa để thi tuyển vào một trường có điểm chuẩn cao như Đại học Y Dược TPHCM.
Các yếu tố liên quan đến kiến thức – thái
độ của sinh viên Y khoa năm thứ nhất
Sau khi phân tích đơn biến, chúng tôi đưa các biến số có P trị giá <0,25 và các biến số mà tài liệu tham khảo chỉ ra có mối liên quan với kiến thức, thái độ về BPTT vào phương trình hồi qui
đa biến, gồm 7 biến số: tuổi, giới, nơi cư trú, nơi
ở hiện tại, tôn giáo, dân tộc, kinh tế gia đình. Kết quả trên cho thấy chỉ có giới tính và nơi
cư trú là liên quan đến kiến thức đúng về bao cao su của sinh viên Y khoa năm thứ nhất. Sinh viên nam có kiến thức đúng về BCS cao gấp 2,27 lần so với sinh viên nữ, sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê (P <0,05). Sinh viên ở nông thôn
Trang 5ở thành thị, sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê
(P <0,05). Điều này phù hợp với cuộc điều tra trên quy mô toàn quốc(9).
Bảng 3. Phân tích hồi quy đa biến tìm các yếu tố liên quan đến kiến thức đúng bao cao su
Đặc điểm KT đúng n=74 KT chưa đúng n=322 PR(*) 95% CI P-value
Nơi cư trú trước
khi vào đại học Thành thị
Tình trạng kinh tế
Bảng 4. Phân tích hồi quy đa biến tìm các yếu tố liên quan đến thái độ đúng bao cao su
Đặc điểm TĐ đúng n=79 TĐ chưa đúng n=317 PR(*) P-value
Nơi cư trú trước
khi vào đại học Thành thị
Tình trạng kinh tế
Kết quả nhận thấy, chỉ có giới tính liên
quan có ý nghĩa thống kê với thái độ đúng về
BCS. Cụ thể là sinh viên nam có thái độ đúng
về BCS cao gấp 1,94 lần so với sinh viên nữ, sự
khác biệt này có ý nghĩa thống kê với P <0,05.
Ngoài ra kết quả cũng không nhận thấy có
mối liên quan giữa kiến thức và thái độ đúng
về vỉ thuốc tránh thai phối hợp và thuốc TTKC với các đặc điểm tuổi, giới, nơi cư trú trước khi vào đại học, nơi ở hiện tại, tôn giáo, dân tộc, tình trạng kinh tế.
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
Tỉ lệ sinh viên Y khoa năm thứ nhất có kiến
thức đúng: về bao cao su, thuốc tránh thai phối
Trang 60,15‐0,23); 4,5% (KTC 95%: 0,03‐0,07); 12,6%
(KTC 95%: 0,10‐0,16).
Tỉ lệ sinh viên Y khoa năm thứ nhất có thái
độ đúng: về bao cao su, thuốc tránh thai phối
hợp và thuốc TTKC lần lượt là: 19,9% (KTC 95%:
0,16‐0,24); 7,6% (KTC 95%: 0,05‐0,11); 12,9%
(KTC 95%: 0,10‐0,17).
Các yếu tố liên quan đến kiến thức và thái
độ của sinh viên Y khoa năm thứ nhất là: giới
tính và nơi cư trú.
Số liệu nghiên cứu chỉ ra đa số sinh viên Y
khoa năm thứ nhất tại Đại học Y Dược TP. HCM
có kiến thức chưa đúng và thái độ chưa tích cực
về các BPTT phổ biến. So với kết quả các nghiên
cứu trên đối tượng sinh viên tại các trường Đại
học, Cao đẳng khác chúng tôi nhận thấy sinh
viên Y khoa năm thứ nhất có kiến thức và thái
độ đúng không cao hơn. Trong khi đó, tình
trạng QHTD trước hôn nhân là có xảy ra trong
một bộ phận đối tượng này nên nguy cơ mang
TNYM cùng hậu quả của nó vẫn đe dọa các bạn.
Do đó, cần có biện pháp can thiệp ngay từ năm
thứ nhất để nâng cao kiến thức, cải thiện thái độ
của các bạn về các BPTT. Mặt khác, sinh viên Y
khoa là cán bộ y tế tương lai nên yêu cầu đặt ra
là các bạn phải có kiến thức tốt và thái độ tích
cực về các BPTT.
Kiến nghị Đại học Y dược TPHCM: Phối hợp
với các bộ môn lồng ghép kiến thức về sức khỏe
sinh sản, nhất là các BPTT phổ biến hiện nay vào
ngay các môn học năm thứ nhất. Kết hợp với
Đoàn Thanh niên, Hội Sinh viên tổ chức các buổi
sinh hoạt, các phong trào thi đua nhằm cung cấp
cho các bạn sinh viên những kiến thức thiết
thực, có ích trong việc áp dụng đúng các BPTT
vào thực tế ngay sau khi nhập học.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 Carvalho K. A (2008). Medical students: abuse of psychoactive substances and sexuality aspects. Int J Adolesc Med Health, 20, (3). 321‐8.
2 Daniyam CA, Agaba PA, Agaba EI (2008) Sexual behavior of medical students: A single institutional survey. Afr Health Sci, 10, (2). 150‐3.
3 Dương Đăng Hanh (1999). Kiến thức, thái độ, thành vi tính dục của sinh viên lứa tuổi 18‐24 chưa lập gia đình tại TP. HCM. Luận văn Thạc sĩ Y học, Đại học Y Dược TP. HCM, Thành phố Hồ Chí Minh.
4 Lê Trung, Nguyễn Duy Tài (2009). Mối liên quan giữa kiến thức – thực hành thuốc viên ngừa thai với tình trạng có thai ngoài ý muốn ở phụ nữ đến trung tâm chăm sóc sức khỏe sinh sản TP. Hồ Chí Minh năm 2008. Y học Thành phố Hồ Chí Minh, 13(1). 180‐184.
5 Marston C, Cleland J (2003). Relationships between contraception and abortion: a review of evidence. International Family Planning Perspectives, 29(1). 6‐13.
6 Nguyễn Hoàng Lam, Nguyễn Thị Từ Vân (2010). Kiến thức, thái độ, hành vi về sử dụng biện pháp tránh thai hiện đại ở
nữ công nhân quận 9 – TPHCM. Y học Thành phố Hồ Chí Minh, 14(1). 315‐320.
7 Parazzini F, Ferraroni M, Tozzi L, Ricci E, Mezzopane R, Lavecchia C (1995). Induced abortions and risk of ectopic pregnancy. Human Reproductive, 10(7). 1841‐4.
8 Phạm Gia Đức, Tạ Thị Thanh Thủy (1997). Kiến thức, thái độ, hành vi sinh sản ở tuổi thiếu niên, học sinh TP. Hồ Chí Minh. Thời sự Y Dược học, 2(8). 45‐47.
9 Tổng cục thống kê (2004). Điều tra biến động dân số và KHHGĐ 2000‐2004.
10 Viện Chiến lược và Chính sách Y tế (Bộ Y tế). Nạo phá thai ở Việt Nam với chính sách Dân số ‐ Kế hoạch hóa gia đình. http://www.hspi.org.vn/vcl/Nao‐pha‐thai‐o‐Viet‐Nam‐voi‐ cong‐tac‐Dan‐so‐‐‐ke‐hoach‐hoa‐gia‐dinh‐t67‐1186.html (truy cập ngày 15/07/2013)
11 Võ Minh Tuấn, Trần Thị Như Quỳnh (2012). Kiến thức và thái độ về các biện pháp tránh thai thông dụng ở sinh viên nam tại các trường Cao đẳng thành phố Rạch Giá, Kiên Giang năm 2011. Y học Thành phố Hồ Chí Minh, 16(1). 276‐281.
Ngày nhận bài báo: 30/11/2013 Ngày phản biện nhận xét bài báo: 02/12/2013 Ngày bài báo được đăng: 05/01/2014