1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Vai trò của nội soi ruột non trong chẩn đoán và điều trị xuất huyết ở ruột non tại Bệnh viện Chợ Rẫy

4 90 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 4
Dung lượng 284,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mục tiêu bài viết nhằm đánh giá vai trò và hiệu quả của nội soi ruột non trong chẩn đoán và điều trị bệnh lý ở ruột non tiến hành thực hiện trên tất cả các bệnh nhân xuất huyết tiêu hóa không tìm thấy tổn thương qua nội soi dạ dày và nội soi đại tràng tại Bệnh viện Chợ Rẫy từ 05/2011-07/2011.

Trang 1

Nghiên cứu Y học Y Học TP Hồ Chí Minh * Tập 17 * Phụ bản của Số 1 * 2013

VAI TRÒ CỦA NỘI SOI RUỘT NON TRONG CHẨN ĐOÁN

VÀ ĐIỀU TRỊ XUẤT HUYẾT Ở RUỘT NON TẠI BỆNH VIỆN CHỢ RẪY

Phạm Hữu Tùng*, Hồ Đăng Quý Dũng*, Trần Đình Trí*, Bạch Thanh An*, Phạm Quốc Thông*

TÓM TẮT

Mục tiêu: Nhằm đánh giá vai trò và hiệu quả của nội soi ruột non trong chẩn đoán và điều trị bệnh lý ở ruột

non

Đối tượng-phương pháp: Tất cả các bệnh nhân xuất huyết tiêu hóa không tìm thấy tổn thương qua nội soi

dạ dày và nội soi đại tràng tại Bệnh viện Chợ Rẫy từ 05/ 2011 - 07/ 2011

Kết quả: Từ tháng 5 đến tháng 7 năm 2011, chúng tôi đã tiến hành nội soi ruột non trên 6 bệnh nhân với 8

lần nội soi (2 bệnh nhân được soi từ đường miệng và hậu môn): 5 lần từ đường miệng và 3 lần từ đường hậu môn Tuổi từ 17 - 87 Giới: 6 nam, 0 nữ Chiều dài trung bình ruột non khảo sát được: 250 cm soi từ đường miệng và 150cm soi từ đường hậu môn Thời gian soi trung bình mỗi lần soi: 120 phút Tổn thương phát hiện được: 01 trường hợp u dưới niêm (Gastrointestinal Stromal Tumors: GIST), 02 trường hợp loét hổng tràng, 01 trường hợp có nhiều túi thừa hổng tràng, 01 loét hồi tràng có cục máu đông bám (kẹp clip+chích cầm máu), 01 loét túi thừa Meckel có cục máu động bám (chích cầm máu) Tỷ lệ phát hiện được tổn thương là 6/ 6 (100%) trường hợp, can thiệp điều trị 2/ 6 (33%) trường hợp, tỷ lệ can thiệp nội soi thành công 100% trường hợp, 02 trường hợp được phẫu thuật điều trị (GIST và loét túi thừa Meckel), không có trường hợp tai biến và tử vong của thủ thuật

Kết luận: Nội soi ruột non có hiệu quả trong chẩn đoán và điều trị bệnh lý ở ruột non Chúng tôi hy vọng

trong tương lai kỹ thuật này sẽ được áp dụng rộng rãi ở Việt Nam

Từ khóa: nội soi ruột non, xuất huyết tiêu hóa ở ruột non

ABSTRACT

THE ROLE OF DOUBLE BALLOON ENTEROSCOPY (DBE) IN THE DIAGNOSTIC

AND MANAGEMENT OF SMALL BOWEL BLEEDING IN CHORAY HOSPIAL

Pham Huu Tung, Ho Dang Quy Dung, Tran Dinh Tri; Bach Thanh An, Pham Quoc Thong

* Y Hoc TP Ho Chi Minh * Vol 17 - Supplement of No 1 - 2013: 296 - 299

Background and study aims: To assess the feasibility and efficacy of double balloon enteroscopy (DBE) in

the diagnostic and management of small bowel diseases

Patients and Methods: All selective patients with overt bleeding in whom bleeding sources are not

identified by upper gastrointestinal endoscopy or colonoscopy in Cho Ray hospital from May 2011 to July 2011

Results: A total of 6 patients (6 male, no female), age range 17-87 Two patients had both antegrade

(trans-oral) and retrograde (trans-anal) examinations The remaining 3 had trans-oral examination and 1 had trans-anal only The examination time was range 120 minutes The diagnostic successful rate was 6 of 6 patients (100%), 2 patients underwent endoscopic therapy and 2 patients (33.3 %) surgery due to their diseases No complications were encountered The source of bleeding was identified in patients with tumor, ulcers, diverticulum

Conclusions: Double balloon enteroscopy can be a useful diagnostic and therapeutic tool for small bowel

disease This technique should be widely used in Vietnam

* Khoa Nội soi - BV Chợ Rẫy

Tác giả liên lạc: BS Phạm Hữu Tùng ĐT: 0983121105 Email: huutungbvcr@yahoo.com

Trang 2

Y Học TP Hồ Chí Minh * Tập 17 * Phụ bản của Số 1 * 2013 Nghiên cứu Y học

Keywords: Double balloon enteroscopy, Small bowel bleeding

ĐẶT VẤN ĐỀ

Nội soi ruột non bằng bóng đôi (Double

balloon enteroscopy - DBE) là kỹ thuật nội soi

mới, được phát minh bởi Yamamoto và cộng sự

tại Đại học Jichi Medical Nhật Bản, lần đầu tiên

được công bố và ứng dụng trong lâm sàng vào

năm 2001 Hệ thống DBE bao gồm ống soi dài

200cm, over-tube dài 145cm có bóng làm băng

latex tại đầu mỗi ống Cả hai bóng được điều

khiển bơm lên và xả xuống bởi hệ thống bơm

khí DBE được dựa trên cơ sở kỹ thuật phối hợp

của 2 bóng nhằm đưa máy soi vào từng đoạn của

ruột Ống soi có thể đưa vào từ đường miệng

hoặc từ đường hậu môn, cho phép quan sát để

chẩn đoán, sinh thiết và can thiệp điều trị các

bệnh lý ở ruột non, như cầm máu trong xuất

huyết, cắt polyp, gắp dị vật, nong và đặt stent

Với những tiến bộ gần đây trên thế giới đã

giới thiệu hai phương pháp mới cho phép khảo

sát được ruột non đó là DBE và nội soi viên

nang, cả hai kỹ thuật này đã được áp dụng và bổ

sung cho nhau: Nội soi viêm nang cho ra hình

ảnh và DBE cho chẩn đoán và điều trị tổn

thương

Ở Việt Nam, phương pháp DBE chỉ mới

được áp dụng ở một số ít trung tâm Do vậy, qua

một số trường hợp ban đầu được thực hiện tại

Bệnh viện Chợ Rẫy chúng tôi muốn xem xét khả

năng áp dụng và hiệu quả của DBE trong chẩn

đoán và điều trị bệnh lý ở ruột non

ĐỐI TƯỢNG - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Tiêu chẩn chọn bệnh

Tất cả các bệnh nhân xuất huyết tiêu hóa

không tìm thấy tổn thương qua nội soi dạ dày và

nội soi đại tràng

Tiêu chuẩn loại trừ

Cũng giống như trong nội soi dạ dày và nội

soi đại tràng, người trưởng thành không đồng ý

thực hiện thủ thuật, tình trạng huyết động bệnh

nhân không ổn định cho phép thực hiện thủ

thuật một cách an toàn

Phương pháp nghiên cứu

Báo cáo hàng loạt ca lâm sang

Dụng cụ và kỹ thuật

- Hệ thống máy nội soi Fujinon: Ống soi EN-450P5, EN-450T5

- Hệ thống bơm bóng, overtube TS-12140, TS-13140

- Dụng cụ nội soi: Kim chích cầm máu, Clip…

Tiến hành theo các bước như sơ đồ kỹ thuật sau:

1: Đưa ống soi vào trong overtube

2 Đặt máy soi đến tá tràng (D2 hoặc D3)

3 Bơm bóng đầu ống soi để cố định ống soi

4 Luồn overtube vào và bơm bóng của overtube để cố định vào thành ruột non

5 Tiếp tục luồn ống soi vào sâu bên trong lòng ruột non

6 Bơm bóng đầu ống soi để cố địng ruột non

7 Xả bóng của overtube

8 Luồn overtube dọc theo ống soi và bơm bóng của overtube để cố định vào thành ruột non

9 Xác định chắc chắn ruột đã được cố định bởi 2 bóng Rút và nắn đồng thời ống soi và overtube

10 Xả bóng ống soi

11 Lặp lại các bước 5-10 để đưa ống soi đi sâu hơn

Chuẩn bị bệnh nhân

Trước soi: Chuẩn bị như nội soi đại tràng, cho uống thuốc xổ Fleet soda hoặc Fortrans Trong khi soi:

- Theo dõi: M, HA, Sp02

- Tiền mê bằng: Dolargan và Midazolam

KẾT QUẢ

Từ tháng 5 đến tháng 7 năm 2011, chúng tôi

đã tiến hành nội soi ruột non trên 6 bệnh nhân

Trang 3

Nghiên cứu Y học Y Học TP Hồ Chí Minh * Tập 17 * Phụ bản của Số 1 * 2013

với 8 lần nội soi (2 bệnh nhân được soi từ 2

đường miệng và hậu môn): 5 lần từ đường

miệng và 3 lần từ hậu môn Tuồi từ 17-87; Giới: 6

nam, 0 nữ Chiều dài trung bình ruột non khảo

sát được: 250cm soi từ đường miệng và 150cm

soi từ đường hậu môn (ước tính) Thời gian soi

trung bình mỗi lần soi: 120 phút

Tổn thương phát hiện được: 01 trường hợp u

dưới niêm xuất huyết (GIST – xác định bằng

phẫu thuật và mô bệnh học), 02 trường hợp loét

hổng tràng, 01 bênh nhân có nhiều túi thừa hổng

tràng, lúc nội soi soi không thấy tổn thương

đang xuất huyết, 01 loét hồi tràng có cục máu

đông bám (Forrest IIb), 01 loét túi thừa Meckel

có cục máu động bám Tỷ lệ phát hiện được tổn

thương là 6/6 (100%) trường hợp, can thiệp điều

trị 2/6 (33%) trường hợp

Trong nhóm nghiên cứu có 2 trường hợp được phẫu thuật điều trị là 01 bệnh nhân u dưới niêm có loét bề mặt ở hổng tràng (GIST) 01 trường hợp là loét túi thừa Meckel, bệnh nhân xuất huyết tái phát nhiều lần, kết quả nội soi là loét có cục máu đông bám bề mặt ổ loét, chúng tôi tiến hành chích cầm máu bằng HSE 3%, đánh dấu bằng mực chuyên dụng, bệnh nhân được mổ nội soi 1 tuần sau soi 01 trường hợp loét hồi tràng xuất huyết, có cục máu đông bám bề mặt, trường hợp này được can thiệp kẹp 1 clip kết hợp với chích cầm máu, bệnh nhân ổn định và xuất viện Các bệnh nhân còn lại không có chỉ định can thiệp nội soi cũng như phẫu thuật Không có trường hợp tai biến và tử vong của thủ thuật

U dưới niêm mạc ở ruột non (GIST) Hình ảnh loét túi thừa Meckel’s qua nội soi ruột non

BÀN LUẬN

Chỉ định và khả năng điều trị

Nội soi ruột non được chỉ định cho những

bệnh nhân nghi ngờ bệnh lý ở ruột non và cần

phải chẩn đoán chính xác để quyết định điều trị

Những chỉ định và can thiệp cụ thể như(5): Tổn

thương nghi ngờ bởi nội soi viên nang (capsule

endoscopy) cần được chẩn đoán và điều trị, xuất

huyết tiêu hóa đại thể hoặc tiềm ẩn mà chưa tìm

thấy nguyên nhân khi nội soi dạ dày và nội soi

đại tràng đều cho kết quả âm tính, chẩn đoán và

điều trị hẹp ruột non (sinh thiết, nong, đặt stent),

u ruột non cần được sinh thiết hoặc cần cắt đốt

qua nội soi, chụp mật tuỵ ngược dòng và can

thiệp điều trị bệnh lý mật tụy trên ngững bệnh

nhân mổ nối Billroth II hoặc Roux-en-Y, chỉ định

lấy dị vật ở ruột non, tháo lồng ruột non, nội soi

đại tràng trong những trường hợp khó như dính

ruột…Vì bước đầu tiếp cận với kỹ thuật mới nên chỉ định của chúng tôi còn hạn chế, chỉ thực hiện trên những bệnh nhân có xuất huyết rõ ràng để

hy vọng sẽ tìm thấy tổn thương dễ dàng hơn Với kết quả ban đầu đáng khích lệ và kỹ thuật ngày càng hoàn thiện, chúng tôi hy vọng trong tương lai nội soi ruột non sẽ được chỉ định rộng rãi hơn nhằm phát huy khả năng chẩn choán và điều trị không những bệnh lý ở ruột non mà cả bệnh lý mật tụy trên những bệnh nhân phẫu thuật Billroth II và Roux-en-Y

Nhận xét về kỹ thuật và vai trò của nội soi ruột non trong xuất huyết ruột non

Thời gian soi kéo dài và over-tube đưa qua đường miệng là nguyên nhân gây khó chịu cho bệnh nhân Do vậy, đòi hỏi phải tiền mê trong khi thực hiện thủ thuật Kỹ thuật nội soi ruột non đòi hỏi bác sỹ nội soi có kinh nghiệm và màng

Trang 4

Y Học TP Hồ Chí Minh * Tập 17 * Phụ bản của Số 1 * 2013 Nghiên cứu Y học

tăng sáng, đặc biệt cho những người mới bắt đầu

thực hiện nội soi ruột non(1) Chúng tôi thực hiện

nội soi ruột non không có màng tăng sáng do

vậy chiều dài ruột non được khảo sát ngắn hơn

so với các nghiên cứu, đặc biệt là nội soi từ

đường hậu môn dễ tạo xoắn nếu không có màng

tăng sáng rất khó khăn cho việc tháo xoắn

Khả năng chẩn đoán của nội soi ruột non

bằng bóng đôi 43-90%(3,4) Các biến chứng nặng

của DBE khoảng 1% các trường hợp(2) Các biến

chứng gây ra có thể liên quan đến Overtube,

bóng, và các thủ thuật điều trị(6) Các biến chứng bao gồm thủng, xuất huyết, viêm tụy cấp…Trong nhóm nghiên cứu của chúng tôi không có trường hợp có biến chứng, có lẽ là vì chúng tôi không can thiệp thủ thuật có nguy cơ xuất huyết hay thủng, bước đầu thực hiện nên chúng tôi không cố đưa máy soi vào sâu mà dừng thủ thuật khi thấy được tổn thương (đối với bệnh nhân có nguy cơ cao) hoặc khi thấy không thể đưa máy soi vào xa hơn nữa

Hiện nay việc chẩn đoán bệnh lý ruột non

còn nhiều hạn chế Một số phương thường được

sử dụng hiện nay như CT scan, X-quang đường

tiêu hoá có cản quang, siêu âm để chẩn đoán u

ruột non hay chụp mạch máu (DSA) để chẩn

đoán xuất huyết …Tuy nhiên, khả năng chẩn

đoán bệnh lá rất thấp và không thể can thiệp

điều trị Nội soi ruột non là một tiến bộ mới

trong chẩn đoán và điều trị bệnh lý ở ruột non,

nhiều công trinh nghiên cứu cho thấy nội soi

ruột non có hiệu quả cao trong chẩn đoán và

điều trị, tai biến thấp(5)

Kỹ thuật nội soi bóng đôi có thể thực hiện

được bởi bác sỹ nội soi có kinh nghiệm Bệnh

nhân cần phải được tiền mê, do vậy có thể thực

hiện thủ thuật tại phòng mổ hoặc tại phòng soi

có đầy đủ thiết bị theo dõi Overtube và Balloon

được sử dụng 1 lần vì vậy chi phí cho thủ thuật

tương đối cao, nhưng so với chi phí và hậu quả

của phẫu thuật thì nội soi ruột non cũng có thể

chấp nhân được trong hoàn cảnh kinh tế ở Việt

Nam hiện nay

KẾT LUẬN

Bước đầu thực hiện nội soi ruột non bằng hệ

thống nội soi ruột non bóng đôi, với số lượng

bệnh nghiên cứu còn ít, nhưng với kết quả ban

đầu đáng khích lệ, chúng tôi ghi nhận rằng nội soi bóng đôi hoàn toàn có thể thực hiện tại Việt Nam, rất cần thiết và có hiệu quả trong chẩn đoán và điều trị bệnh lý ở ruột non Chúng tôi

hy vọng trong tương lai kỹ thuật này sẽ được áp dụng rộng rãi ở Việt Nam

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Endoscopy, 38, pp 22 - 26

“Double-balloon enteroscopy: The first fifty investigations in the Czech Republic” Folia Gastroenterol Hepatol, 4 (4): pp 135 – 148

comparison of capsule endoscopy and double-balloon enteroscopy in patients with suspected small-bowel bleeding” Endoscopy, 38, pp 59-66

“Efficacy of Double-Balloon Enteroscopy in the Evaluation and Treatment of Bleeding and Non-Bleeding Small Bowel Disease” Gastroenterol; 45, pp 237–243

Contraindications, and Preoperative Examination” Double-Balloon Endoscopy:Theory and Practice, pp 9-13

Complications” Double-Balloon Endoscopy: Theory and Practice, pp 47-49

H, Kawabe T, Omata M, Koibe K (2011), “Single-balloon versus double-balloon endoscopy for achieving total enteroscopy: a randomized, controlled trial” Gastrointestinal Endoscopy, 73, pp 734-739

Ngày đăng: 22/01/2020, 00:17

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w