1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

U trung mạc ác tính màng phổi: Hình ảnh lâm sàng bệnh học qua nghiên cứu mô tả 60 trường hợp bệnh nhân

9 54 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 9
Dung lượng 427,71 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nghiên cứu với mục tiêu nhằm khảo sát các đặc điểm lâm sàng bệnh học các trường hợp u trung mạc màng phổi ác tính điều trị tại bệnh viện Phạm Ngọc Thạch. Nghiên cứu với tất cả các bệnh nhân có chẩn đoán xác định u trung mạc màng phổi ác tính, điều trị tại bệnh viện Phạm Ngọc Thạch từ năm 2008 tới năm 2012.

Trang 1

BỆNH HỌC QUA NGHIÊN CỨU MÔ TẢ 60 TRƯỜNG HỢP BỆNH NHÂN 

Nguyễn Hữu Lân*, Nguyễn Huy Dũng * , Lê Tự Phương Thảo ** , Nguyễn Thanh Hiệp ** ,   Nguyễn Sơn Lam *  

TÓM TẮT 

Đặt vấn đề: Có bằng chứng thuyết phục cho thấy u trung mạc màng phổi ác tính (UTMMPAT) có liên 

quan  đến  phơi  nhiễm  nghề  nghiệp  với  tất  cả  các  dạng  amiăng  lưu  hành  trên  thị  trường.  Có  rất  ít  dữ  liệu  nghiên cứu tiến cứu về UTMMPAT ở Việt Nam. 

Mục  tiêu: Khảo sát các đặc điểm lâm sàng‐bệnh học các trường hợp UTMMPAT điều trị tại bệnh viện 

Phạm Ngọc Thạch. 

Phương pháp và đối tượng nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả tiền cứu, tất cả các bệnh nhân có chẩn đoán 

xác định UTMMPAT, điều trị tại bệnh viện Phạm Ngọc Thạch từ năm 2008 tới năm 2012.  

Kết  quả: Có 60 bệnh nhân có chẩn đoán xác định bằng mô học là UTMMPAT. Tuổi trung bình là 59 ± 

15tuổi, tỷ lệ nam/nữ khoảng 1:1 (29:31), qua khai thác bệnh tìm thấy bằng chứng tiếp xúc với amiăng trong 

22 (44,4%) các trường hợp nghiên cứu. 28 (46,7%) bệnh nhân là nông dân. Các triệu chứng lâm sàng chính :  đau ngực (66,7%), ho dai dẳng (56,7%), khó thở (45%), mệt mỏi (8,3%), sốt (8,3%), ho khạc đa m (6,7%), và 

ho ra máu (3,3%). Thời gian từ lúc có triệu chứng đầu tiên tới lúc có chẩn đoán là 28 ± 22ngày. 46 (76,7%)  bệnh nhân có tràn dịch màng phổi dịch đỏ. Kết quả bệnh học có 28 (46,7%) bệnh nhân bị UTMMPAT dạng  biểu  mô,  11  (18,3%)  bệnh  nhân  bị  UTMMPAT  dạng  hỗn  hợp,  9  (15%)  bệnh  nhân  bị  UTMMPAT  dạng  sarcôm, 6 (10%) bệnh nhân bị UTMMPAT dạng bó sợi, 4 (6,7%) bệnh nhân bị UTMMPAT dạng nhú biệt  hoá cao, 2 (3,3%) bệnh nhân bị UTMMPAT dạng bất sản. Kết quả xét nghiệm dịch màng phổi ghi nhận số 

glucose là 5,1mmol/L; ADA là 13,6u/L. Xét nghiệm hoá mô miễn dịch ghi nhận 96% bệnh nhân dương tính với  WT1, 85% với Calretinin, 71,7% với HBME1, 45% với Desmin, 6,7% với CK 7% và 3,3% với TTF‐1. Không 

có bệnh nhân UTMMPAT dương tính với Surfactant Apoprotein A và EGFR. 

Kết luận: Các triệu chứng thường gặp của UTMMPAT là đau ngực, ho dai dẳng, khó thở. Biểu hiện lâm 

sàng và cận lâm sàng của UTMMPAT có sự biến thiên tuỳ theo bệnh nhân. Bệnh học chính của UTMMPAT 

là dạng biểu mô. Phương pháp hoá mô miễn dịch giúp ích rất nhiều cho chẩn đoán UTMMPAT, đặc biệt là hai  chất đánh dấu Calretinin và WT‐1. 

Từ khóa: u trung mạc màng phổi ác tính, dịch màng phổi, chẩn đoán. 

ABSTRACT 

PLEURAL MALIGNANT MESOTHELIOMA: CLINICOPATHOLOGIC FINDINGS IN A 

CONSECUTIVE SERIES OF 60 PATIENTS 

Nguyen Huu Lan, Nguyen Huy Dung, Le Tu Phuong Thao, Nguyen Thanh Hiep, Nguyen Son Lam  

* Y Hoc TP. Ho Chi Minh * Vol. 17 ‐ Supplement of No 3 ‐ 2013: 221 ‐ 229 

Background: There is convincing evidence that pleural malignant mesothelioma (PMM) is associated 

with occupational exposure to all commercial forms of asbestos. There are little prospective data on patients  with pleural malignant mesothelioma traited at Pham Ngoc Thach Hospital. 

* Trường Đại học Y khoa Phạm Ngọc Thạch, TP. Hồ Chí Minh. ** BV Phạm Ngọc Thạch, TP. Hồ Chí Minh. 

Tác giả liên lạc: TS.BS. Nguyễn Hữu Lân  Email: nguyenhuulan1965@yahoo.com.vn    ĐT: 0913185885

Trang 2

Materials and Methods: Patients with a definitive diagnosis of PMM, who were admitted to Pham 

Ngoc Thach hospital between 2008 and 2012, are reported. 

Results: Sixty patients with histologically confirmed diagnosis with PMM were included in the study. 

Mean age was 59 ± 15 years old; male to female ratio was approximately 1:1 (29:31); obvious asbestos  fibers  exposure  was  22  (44.4%)  cases following main causes focused interrogatory.  Twenty  eight  patients  (46.7%) 

were farmers. Overall, main clinical symptoms were chest pain (66.7%), persistent cough (56.7%), dyspnea  (45%),  fatigue  (8.3%),  fever  (8.3%),  expectoration  (6.7%),  and  hemoptysis  (3.3%).  The  relapse  time  from 

the  symtoms’onset  to  diagnosis  was  28  ±  22  days.  Forty  six  (76.7%)  patients  had  presented  hemorrhagic 

pleural  effusion.  Results  from  pathology  were:  28  (46,7%)  Epitheliod  Mesothelioma,  11  (18,3%)  Biphasic  Mesothelioma,  9  (15%)  Sarcomatoid  Mesothelioma,  6  (10%)  Desmoplastic  Mesothelioma,  4  (6,7%)  Well‐ differentiated Papillary Mesothelioma, 2 (3,3%) Anaplastic Mesothelioma. Results from pleural  fluid tests 

glucose,  5.1mmol/l;  ADA,  13.6u/L.  Using  immunohistochemical  labelling,  96%  of  the  included  patients  were positive for WT1, 85% for Calretinin, 71.7% for HBME1, 45% for desmin, 6.7% for CK 7, 3.3% for  TTF1‐1. No patient was positive for Surfactant Protein A and EGFR. 

Conclusion: The most common symptoms of MPM were chest pain, persistent cough and dyspnea. The 

clinical  and  laboratary  manifestation  of  MPM  are  variability  up  to  the  other  patient.  The  method  of  immunohistochemistry is very helpful for the diagnosis MPM, especially with two markers Calretinin and  WT‐1. 

Key words: pleural malignant mesothelioma, pleural fluid, diagnosis. 

ĐẶT VẤN ĐỀ 

UTMMPAT là u tân sinh ở màng thanh dịch 

xuất  phát  từ  các  tế  bào  trung  mạc  đa  năng  và 

đặc trưng bởi sự tăng sinh lan tỏa trong khoang 

màng  phổi(4).  Mối  liên  quan  giữa  tiếp  xúc 

amiăng  với  bệnh  lý  UTMMPAT  được  Wagner 

mô  tả  lần  đầu  tiên  vào  năm  1960(  17).  Hiện  có 

những  bằng  chứng  thuyết  phục  rằng 

UTMMPAT  có  liên  quan  đến  phơi  nhiễm  nghề 

nghiệp đối với các dạng amiăng thương mại lưu 

hành  trên  thị  trường(11).  Theo  Rajendra  P.  và 

cộng sự, tỷ lệ UTMMPAT ngày càng tăng có thể 

do  sự  hiện  diện  amiăng  khắp  nơi  trong  môi 

trường(17). Tuy nhiên, cũng có vài báo cáo trên y 

văn  thế  giới  về  những  trường  hợp  UTMMPAT 

có  tiền  sử  không  tiếp  xúc  với  amiăng(11,17). 

UTMMPAT  là  loại  u  hiếm  gặp(1).  Tại  Việt  nam, 

hiện có rất ít các báo cáo về UTMMPAT. Vì vậy, 

chúng tôi thực hiện nghiên cứu này nhằm mô tả 

đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng các trường hợp 

UTMMPAT  trong  một  loạt  60  trường  hợp 

UTMMPAT được chẩn đoán tại bệnh viện Phạm  Ngọc Thạch, thành phố Hồ chí Minh. 

ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP 

Chúng tôi thực hiện nghiên cứu mô tả tiền  cứu  các  trường  hợp  bệnh  nhân  nhập  viện  tại  bệnh  viện  Phạm  Ngọc  Thạch  từ  tháng  01‐01‐

2008  đến  tháng  31‐12‐2012,  có  chẩn  đoán  xác  định  UTMMPAT  dựa  vào  kết  quả  chẩn  đoán 

mô  học  điển  hình  UTMMPAT  của  các  mẫu  bệnh phẩm sinh thiết màng phổi kín bằng kim,  nội  soi  màng  phổi  và  sinh  thiết  phổi‐màng  phổi  dưới  màn  hình  video  (VATs).  Chúng  tôi  dựa trên phân loại của Tổ Chức Y Tế Thế Giới  kết  hợp  với  Hiệp  Hội  Phòng  Chống  Bệnh  Do  Tiếp  Xúc  Amiăng  năm  2011  sau  Hội  Nghị  AIA‐3 để chẩn đoán mô bệnh học UTMMPAT  bao gồm 4 loại:(1) U trung mạc dạng biểu mô  (Epitheliod  Mesothelioma),  (2)  U  trung  mạc  dạng  sarcôm  (Sarcomatoid  Mesothelioma),  có  biến  thể  là  loại  u  trung  mạc  dạng  bó  sợi  (Desmoplastic Mesothelioma), (3) U trung mạc  dạng  hỗn  hợp  hay  dạng  hai  pha  (Biphasic 

Trang 3

Mesothelioma),  (4)  Các  biến  thể  khác  của 

mesothelioma  như  U  trung  mạc  dạng  giống 

màng  rụng  (Deciduoid  Mesothelioma),  U 

(Lymphohistiocytoid  Mesothelioma),  U  trung 

mạc  dạng  bất  sản  (Anaplastic  Mesothelioma), 

U  trung  mạc  dạng  nhú  biệt  hoá  cao  (Well‐

differentiated  Papillary  Mesothelioma)  và  các 

loại  khác  [U  trung  mạc  dạng  tuyến 

(Adenomatoid  Mesothelioma),  U  trung  mạc 

dạng  chuyển  sản  gai  (Meta‐Squamous 

Mesothelioma)…]  (9).  Tất  cả  các  mẫu  bệnh 

phẩm đều được nhuộm hóa mô miễn dịch kết 

hợp  với  hình  ảnh  mô  học  nhuộm 

Hematoxylin‐Eosin  để  chẩn  đoán  xác  định  và 

chẩn đoán phân biệt với các tổn thương ác tính 

khác  xâm  lấn  vào  màng  phổi  như  carcinome 

tuyến,  carcinome  tế  bào  nhỏ,  ung  thư  hạch 

lympho,  bệnh  bạch  cầu  cấp…  Tất  cả  bệnh 

nhân đều được ghi nhận nghề nghiệp, tiền sử 

bệnh tật, tiền sử tiếp xúc với amiăng, bệnh sử, 

chụp  X‐quang  phổi  qui  ước  hay  chụp  cắt  lớp 

điện toán lồng ngực, thủ thuật chẩn đoán như 

soi  phế  quản  (sinh  thiết  phế  quản,  rửa  phế 

quản‐phế  nang,  sinh  thiết  phổi  xuyên  phế 

quản),  rút  dịch  màng  phổi  (xét  nghiệm  sinh 

hoá,  công  thức  tế  bào,  tế  bào  lạ),  sinh  thiết 

màng  phổi  kín  bằng  kim,  nội  soi  màng  phổi 

và/hoặc  sinh  thiết  phổi  màng  phổi  dưới  màn 

hình  video  (VATs).  Các  số  liệu  sau  khi  thu 

thập sẽ được mã hóa và nhập vào máy vi tính, 

sử  dụng  phần  mềm  Stata  10  để  xử  lý.  Thống 

kê  mô  tả  bao  gồm  tỷ  lệ,  trung  bình,  trung  vị 

của các biến số khác nhau. Chúng tôi sử dụng 

phép kiểm χ2 để so sánh tỷ lệ khác biệt cho các 

biến  định  tính.  Sử  dụng  kiểm  định  thống  kê 

“Shapiro test” để xác định giả thiết phân phối 

chuẩn  của  một  biến  số.  Nếu  biến  số  có  phân 

phối  chuẩn,  sử  dụng  phép  kiểm  t  với  2  mẫu 

độc  lập.  Nếu  biến  số  không  có  phân  phối 

chuẩn, sử dụng kiểm định Mann‐Whitney. Tất 

cả  các  phương  pháp  kiểm  định  giả  thuyết 

được thực hiện  bằng  cách  sử  dụng  kiểm  định 

hai  bên.  Ngưỡng  ý  nghĩa  là  0,05  (p  <  0,05)  để 

chấp nhận hay bác bỏ giả thuyết thống kê.  

KẾT QUẢ 

Nghiên  cứu  này  có  60  bệnh  nhân  UTMMPAT được thu dung với tuổi trung bình 

là  59 ± 15  tuổi  (từ  25  đến  88  tuổi,  trung  vị  58  tuổi),  bao  gồm  29  bệnh  nhân  nam,  tuổi  trung  bình là 60 ± 15 tuổi (từ 37 đến 88 tuổi, trung vị 57  tuổi), 31 bệnh nhân nữ, tuổi trung bình là 59 ± 15  tuổi (từ 25 đến 88 tuổi, trung vị 58 tuổi). Không 

có khác biệt có ý nghĩa thống kê tuổi trung bình  của nam so với nữ (p > 0,8). Về nghề nghiệp, có 

28 (46,7%) bệnh nhân là nông dân, 11 (18,3%) là  nhân  viên  hành  chính,  9  (15%)  bệnh  nhân  làm  nội trợ, 4 (6,7%) công nhân, 2 (3,33%) giáo viên, 1  (1,7%) bệnh nhân hành nghề buôn bán, 1 (1,7%)  thợ  mộc,  1  (1,7%)  tài  xế,  1  (1,7%)  thợ  cơ  khí,  1  (1,7%)  thợ  may,  1  (1,7%)  bệnh  nhân  làm  hầu  bàn. 22 (44,4%) bệnh nhân có tiền sử tiếp xúc với  amiăng.  Khai  thác  tiền  sử  ghi  nhận  37  (61,7%)  bệnh nhân không có bệnh lý đặc biệt trong quá  khứ, 16 (26,7%) bệnh nhân đang điều trị lao do  bác  sĩ  chẩn  đoán  nhầm  tổn  thương  của  bệnh  nhân là lao màng phổi và/hoặc lao phổi, 3 (5%)  bệnh  nhân  bị  bệnh  phổi  tắc  nghẽn  mạn  tính,  2  (3,3%) bệnh nhân bị tăng huyết áp, 1 (1,7%) bệnh  nhân đang mang thai, 1 (1,7%) bệnh nhân đang 

bị tràn khí màng phổi. Số ngày trung bình từ khi 

có triệu chứng lâm sàng đến khi nhập viện là 28 

±  22  ngày  (từ  1  đến  90ngày,  trung  vị  21ngày).  Chiều cao, cân nặng, dấu hiệu sinh tồn của bệnh  nhân  nghiên  cứu  được  trình  bày  trong  bảng  1.  Không  có  sự  khác  biệt  theo  giới  tính  về  chiều  cao, cân nặng và các dấu hiệu sinh tồn của bệnh  nhân tham gia nghiên cứu. 

Bảng 1: Đặc điểm nhân chủng học và dấu hiệu sinh tồn 

Đặc điểm nhân chủng học và dấu hiệu sinh tồn

Trung bình (trung vị)

Chiều cao (cm) 158,8 ± 5,8 (160) Cân nặng (kg) 50,2 ± 8,1(49) Mạch (lần/phút) 93 ± 10 (92) Huyết áp tâm thu (mmHg) 119 ± 16 (120) Huyết áp tâm trương (mmHg) 71 ± 10 (70) Thân nhiệt ( o C) 37,1 ± 0,2 (37) Nhịp thở (lần/phút) 21 ± 2 (20)

Triệu chứng lâm sàng thường  gặp  theo  thứ 

tự là đau ngực (40 bệnh nhân, chiếm 66,7%), ho 

Trang 4

(34  bệnh  nhân,  chiếm  56,7%),  khó  thở  (27  bệnh 

nhân, chiếm 45%), mệt mỏi (5 bệnh nhân, chiếm 

8,3%), sốt (5 bệnh nhân, chiếm 8,3%), khạc đàm 

(4  bệnh  nhân,  chiếm  6,7%),  ho  ra  máu  (2  bệnh 

nhân, chiếm 3,3%).  

28 (46,7%) bệnh nhân tràn dịch màng phổi 

trái,  30  (50%)  bệnh  nhân  tràn  dịch  màng  phổi 

phải, 2 (3,3%) bệnh nhân tràn dịch màng phổi 

hai bên. 9 (15%) bệnh nhân có u màng phổi, 19 

(31,7%)  bệnh  nhân  có  dày  màng  phổi,  32 

(53,3%)  bệnh  nhân  không  phát  hiện  hình  ảnh 

màng phổi bất thường trên phim X quang lồng 

ngực.  

14  (23,3%)  bệnh  nhân  tràn  dịch  màng  phổi 

dịch vàng chanh, 46 (76,7%) bệnh nhân tràn dịch 

màng  phổi  dịch  đỏ  không  đông.  Kết  quả  xét 

nghiệm sinh hóa dịch màng phổi của bệnh nhân 

nghiên cứu được trình bày trong bảng 2. 

Bảng 2: Đặc điểm nhân chủng học và dấu hiệu sinh 

tồn 

Kết quả xét nghiệm sinh hóa

dịch màng phổi

Trung bình (trung vị)

Protid (g/L) 48,4 ± 9,9 (46)

Albumin (g/L) 30,9 ± 7,8 (33)

LDH (u/L) 746 ± 575 (547)

Glucose (mmol/L) 4,7 ± 2,6 (5,1)

ADA (u/L) 14,7 ± 6,2 (13,6)

Số lượng tế bào dịch màng phổi 908 ± 1060tế 

bào/mm3 (trung  vị  500tế  bào/mm3) với ưu  thế  tế 

bào lymphô (chiếm 92,3 ± 4,5%). 7 (11,7%) bệnh 

nhân có tế bào ác tính trong dịch màng phổi. 34 

(56,7%)  bệnh  nhân  được  chẩn  đoán  nhờ  sinh 

thiết màng phổi kín. 26 (43,3%) bệnh nhân được 

chẩn đoán nhờ sinh thiết qua soi màng phổi.  

Kết quả cho thấy có 28 (46,7%) bệnh nhân bị 

UTMMPAT  dạng  biểu  mô,  11  (18,3%)  bệnh 

nhân bị UTMMPAT dạng hỗn hợp, 9 (15%) bệnh 

nhân bị UTMMPAT dạng sarcôm, 6 (10%) bệnh 

nhân bị UTMMPAT dạng bó sợi, 4 (6,7%) bệnh 

nhân  bị  UTMMPAT  dạng  nhú  biệt  hoá  cao,  2 

(3,3%)  bệnh  nhân  bị  UTMMPAT  dạng  bất  sản. 

Nhuộm  hóa  mô  miễn  dịch  có  4  (6,7%)  bệnh 

nhân dương tính với Cytokeratin phân tử lượng 

thấp (CK7), 2 (3,3%) bệnh nhân dương tính với 

Thyroid Transcription Factor‐1 (TTF‐1), 27 (45%) 

bệnh  nhân  dương  tính  với  Desmin,  43  (71,7%)  bệnh  nhân  dương  tính  với  Mesothelioma  Antibody‐1  (HBME‐1),  51  (85%)  bệnh  nhân  dương tính với Calretinin, 58 (96,7%) bệnh nhân  dương  tính  với  Wilm  Tumor  Antibody‐1  (WT‐ 1). Tất cả các bệnh nhân đều có kết quả âm tính  khi  nhuộm  hóa  mô  miễn  dịch  với  Surfactant  Protein  A  (SP‐A)  và  Epidermal  Growth  Factor  Receptor  (EGFR).  Toàn  bộ  bệnh  nhân  có  niêm  mạc  phế  quản  bình  thường  qua  soi  phế  quản.  Bảng 3 trình bày kết quả xét nghiệm công thức  máu. Bảng 4 trình bày kết quả xét nghiệm sinh  hóa  máu.  Bảng  5  trình  bày  kết  quả  xét  nghiệm  khí máu động mạch của bệnh nhân nghiên cứu. 

pH nước tiểu = 6,1 ± 0,8, tỷ trọng nước tiểu = 1,01 

±  0,01.  Không  có  sự  khác  biệt  theo  giới  tính  về  các  chỉ  số  công  thức  máu,  sinh  hóa  máu,  khí  máu  động  mạch  và  nước  tiểu  của  bệnh  nhân  tham gia nghiên cứu. 

Bảng 3: Kết quả xét nghiệm công thức máu 

Kết quả xét nghiệm công thức máu

Trung bình (trung vị)

Số lượng bạch cầu (K/uL) 9,70 ± 4,65 (8,6) Bạch cầu đa nhân trung tính (%) 67,6 ± 12,6 (69,3) Bạch cầu đa nhân ái toan (%) 3 ± 2,9 (2,1) Bạch cầu đa nhân ái kiềm (%) 0,8 ± 0,4 (0,7)

Tế bào Lympho (%) 21,4 ± 10,7 (19,2) Bạch cầu đơn nhân (%) 7,8 ± 3,1 (7,5) Hồng cầu (M/uL) 4,3 ± 0,8 (4,3) Hemoglobin (g/dL) 11,9 ± 1,9 (12) Dung tích hồng cầu (%) 36,1 ± 5,8 (36,2) Thể tích trung bình hồng cầu (f/L) 83,2 ± 11 (84) Lượng hemoglobin trung bình trong

một hồng cầu (pg)

28 ± 2,9 (28,1) Nồng độ hemoglobin trung bình

33,3 ± 1,8 (33,5) Tiểu cầu (K/uL) 328,5 ± 134,8 (324)

Bảng 4: Kết quả xét nghiệm sinh hóa máu 

Kết quả xét nghiệm sinh hóa

máu

Trung bình (trung vị)

Glucose (mmol/L) 6,1 ± 2 (5,7) Natri (mmol/L) 136,4 ± 4,7 (137) Kali (mmol/L) 4 ± 0,6 (3,9) Calci (mmol/L) 2,6 ± 2,8 (2,2) Cloride (mmol/L) 99,7 ± 4,3 (100) Urê (mmol/L) 6,8 ± 6,7 (5,2) Creatinin (umol/L) 82,2 ± 16,5 (83)

Trang 5

Kết quả xét nghiệm sinh hóa

máu

Trung bình (trung vị)

AST (U/L) 36,7 ± 26,7 (31)

ALT (U/L) 31,5 ± 19,7 (25)

Bilirubin toàn phần (umol/L) 9,5 ± 5,3 (12,9)

Bilirubin trực tiếp (umol/L) 4,2 ± 3,6 (3)

Bilirubin gián tiếp (umol/L) 9,5 ± 5,3 (8,4)

Protein toàn phần (g/L) 67,1 ± 14,2 (68)

Bảng 5: Kết quả xét nghiệm khí máu động mạch 

Kết quả xét nghiệm khí máu

động mạch

Trung bình (trung vị)

pH 7,44 ± 0,03 (6)

PCO 2 (mmHg) 35,5 ± 3,9 (35,6)

PO2 (mmHg) 73,5 ± 14,7 (76)

TCO 2 (mmol/L) 24,9 ± 2,5 (25,6)

HCO 3 (mmol/L) 23,8 ± 2,3 (24,6)

Beb (mmol/L) 0,25 ± 2,2 (0,4)

BE ecf (mmol/L) -0,63 ± 2,5 (0)

AaDO 2 (mmHg) 47,1 ± 47,5 (32,5)

RI 0,8 ± 0,9 (0,45)

BÀN LUẬN  

UTMMPAT  là  loại  u  hiếm  gặp.  Tỷ  lệ  bệnh 

UTMMPAT phát hiện ở Nam Phi cao hơn ba lần 

so với Mỹ, có thể do không có bất kỳ hoạt động 

khai  thác  hoặc  xay  nghiền  amiăng  ở  Mỹ,  trong 

khi  các  hoạt  động  này  là  trung  tâm  của  ngành 

công nghiệp amiăng ở Nam Phi. Tỷ lệ mắc bệnh 

của Canada thấp hơn nhiều so với Nam Phi mặc 

dù  Canada  vẫn  khai  thác  mỏ  nhưng  chỉ  khai 

thác  chrysotile  trong  khi  Nam  Phi  khai  thác 

Crocidolite  và  Amosite,  cả  hai  (Crocidolite  và 

Amosite) đều được xem là yếu tố sinh ung thư ở 

người  nhiều  hơn  là  chrysotile.  Theo  một  số  tác 

giả(19),  tuổi  trung  bình  của  bệnh  nhân  tại  thời 

điểm chẩn đoán là 57,2 tuổi (từ 24 đến 87 tuổi); 

nam gặp nhiều hơn nữ với tỷ lệ nam:nữ là 10:1. 

Trong nghiên cứu của Rajendra Prasad và cộng 

sự,  tuổi  trung  bình  của  bệnh  nhân  UTMMPAT 

là 60 tuổi, nhưng có thể xảy ra ở mọi lứa tuổi, và 

tỷ  lệ  nam:nữ  là  4:1 (17).  Bagheri  R.  và  cộng  sự 

cũng  ghi  nhận  80%  bệnh  nhân  UTMMPAT  là 

nam giới, từ 50 đến 60 tuổi (1). Trong nghiên cứu 

của chúng tôi, tuổi trung bình của bệnh nhân tại 

thời điểm chẩn đoán là 59 ± 15 tuổi (từ 25 đến 88 

tuổi, trung vị 58 tuổi), cũng tương tự như các kết 

quả nghiên cứu của các tác giả trên; nhưng tỷ lệ 

mắc bệnh không có sự khác biệt giữa nam và nữ 

(tỷ lệ nam:nữ là khoảng 1:1, khác biệt so với các  báo  cáo  ở  các  nước  khác.  Chúng  tôi  nhận  thấy  không có khác biệt đáng kể về vị trí bên phổi bị  tổn  thương:  28  (46,  7%)  bệnh  nhân  tràn  dịch  màng  phổi  trái,  30  (50%)  bệnh  nhân  tràn  dịch  màng  phổi  phải,  2  (3,3%)  bệnh  nhân  tràn  dịch  màng phổi hai bên, cũng tương tự như báo cáo  của Solomons K. là 46% có tổn thương đầu tiên 

ở  màng  phổi  trái,  50%  ở  màng  phổi  phải,  3%  không  ghi  nhận  được  vị  trí  tổn  thương  đầu  tiên(19).  Theo  Rajendra  Prasad  và  cộng  sự,  tỷ  lệ  tổn  thương  UTMMPAT  ở  màng  phổi  phải  là  60%, màng phổi trái là 40%(17). Trong các nghiên  cứu  của  một  số  tác  giả,  khai  thác  tiền  sử  ghi  nhận rằng sự tiếp xúc với amiăng là yếu tố phơi  nhiễm quan trọng trong UTMMPAT, từ 18‐97%  bệnh  nhân  tùy  theo  nghiên  cứu(1,3,19).  Trong  nghiên cứu của chúng tôi, chỉ có 22 (44,4%) bệnh  nhân  có  tiền  sử  tiếp  xúc  với  amiăng.  Theo  Rajendra  Prasad  và  cộng  sự,  khoảng  20%  bệnh  nhân UTMMPAT được chứng minh không tiếp  xúc với amiăng, yếu tố nguy cơ gây UTMMPAT  không phải amiăng có lẽ liên quan đến một chất  dạng asbesto tự nhiên (Erionite, một khoáng sản  của gia đình Zeolite), vốn được cho là có thể gây  UTMMPAT.  Hai  trong  ba  trường  hợp  báo  cáo  của Rajendra Prasad và cộng sự là nông dân tiếp  xúc với thuốc trừ sâu và hóa chất nông nghiệp.  Theo  các  tác  giả  này,  sự  tiếp  xúc  với  thuốc  trừ  sâu  và  hóa  chất  nông  nghiệp  nhiều  khả  năng  dẫn  đến  UTMMPAT.  Ngoài  ra,  hút  thuốc  lá  có  thể có tác dụng hiệp đồng trong những trường  hợp trên. Nhưng theo Rajendra Prasad và cộng 

sự, không hẳn có mối liên quan giữa tiếp xúc với  hóa  chất  nông  nghiệp  và  UTMMPAT(17).  Trong  nghiên  cứu  của  chúng  tôi,  46,7%  bệnh  nhân  tham gia nghiên cứu là nông dân. 

Theo  Solomons  K.,  đau  ngực  và  khó  thở  là  triệu chứng xuất hiện trong 75% các trường hợp  UTMMPAT, trong đó có 29% bệnh nhân chỉ khó  thở,  18%  bệnh  nhân  chỉ  đau  ngực,  28%  bệnh  nhân  có  cả  khó  thở  và  đau  ngực(19).  Rajendra  Prasad và cộng sự cho rằng UTMMPAT có khởi  đầu âm thầm, thường bệnh nhân đau ngực dai  dẳng, triệu chứng đầu tiên hay gặp là đau ngực 

Trang 6

(66%)  và  thời  gian  trung  bình  từ  khi  đau  ngực 

đến  khi  chẩn  đoán  là  3  tháng,  thường  là  đau 

ngực  kiểu  màng  phổi(17).  Nghiên  cứu  của  Baris 

Y.I. và cộng sự ghi nhận 60% bệnh nhân có triệu 

chứng  đầu  tiên  là  khó  thở  và  đau  ngực,  30% 

bệnh  nhân  có  triệu  chứng  mệt  mỏi  và  sụt  cân, 

10%  bệnh  nhân  có  ngón  tay  dùi  trống.  Khoảng 

thời  gian  từ  lúc  bệnh  nhân  có  triệu  chứng  tràn 

dịch màng phổi hoặc khó thở cho đến khi chẩn 

đoán xác định là 2 đến 3 tháng(2). Trong nghiên 

cứu  của  Bagheri  R.  và  cộng  sự,  triệu  chứng 

thường gặp nhất là đau ngực (67%), khó thở khi 

gắng  sức  (67%),  mệt  mỏi  kéo  dài  (45%).  62,5% 

bệnh nhân có thời gian trung bình từ khi có triệu 

chứng  đến  khi  có  chẩn  đoán  xác  định  là  6 

tháng(1).  Kết  quả  nghiên  cứu  của  chúng  tôi  cho 

thấy triệu chứng lâm sàng thường gặp theo thứ 

tự  là  đau  ngực  (66,7%),  ho  (56,7%),  khó  thở 

(45%),  mệt  mỏi  (8,3%),  sốt  (8,3%),  khạc  đàm 

(6,7%), ho ra máu (3,3%). Số ngày trung bình từ 

khi có triệu chứng lâm sàng đến khi nhập viện 

27,7  ±  21,5  ngày  (từ  1  đến  90  ngày,  trung  vị  21 

ngày). Việc chẩn đoán UTMMPAT hiếm khi xác 

định được bằng các kỹ thuật không xâm lấn như 

chụp  X  quang  lồng  ngực,  soi  phế  quản,  tế  bào 

học  dịch  màng  phổi  và  chụp  cắt  lớp  điện  toán 

lồng  ngực (17).  Trong  nghiên  cứu  của  chúng  tôi, 

các  xét  nghiệm  sinh  hoá  máu,  dịch  màng  phổi, 

công  thức  tế  bào  dịch  màng  phổi  không  giúp 

chẩn  đoán  UTMMPAT;  toàn  bộ  bệnh  nhân  có 

niêm  mạc  phế  quản  bình  thường,  không  phát 

hiện bệnh lý qua soi phế quản ống mềm; 9 (15%) 

bệnh  nhân  có  u  màng  phổi,  19  (31,7%)  bệnh 

nhân  có  dày  màng  phổi,  32  (53,3%)  bệnh  nhân 

không  phát  hiện  hình  ảnh  màng  phổi  bất 

thường  trên  phim  x  quang  lồng  ngực;  11,7% 

bệnh  nhân  có  tế  bào  ác  tính  trong  dịch  màng 

phổi.  Rajendra  Prasad  và  cộng  sự  nhận  định 

sinh thiết khối u màng phổi hở thường được sử 

dụng để chẩn đoán xác định, 10‐36% trường hợp 

chẩn  đoán  UTMMPAT  có  thể  được  làm  bằng 

kim  sinh  thiết  màng  phổi  kín(17).  Trong  nghiên 

cứu của chúng tôi, 56,7% bệnh nhân được chẩn 

đoán nhờ sinh thiết màng phổi kín, 43,3% bệnh 

nhân  được  chẩn  đoán  nhờ  sinh  thiết  qua  soi  màng phổi.  

Tổ Chức Y Tế Thế Giới và Hiệp Hội Phòng  Chống  Bệnh  Liên  Quan  Tới  Amiăng  phân  loại  UTMMPAT  gồm  4  dạng:  (1)  UTMMPAT  dạng  biểu  mô  (thường  gặp  nhất),  (2)  UTMMPAT  dạng  sarcôm  (biến  thể  là  dạng  bó  sợi),  (3)  UTMMPAT dạng hỗn hợp, (4) UTMMPAT khác  (dạng nhú biệt hoá cao, dạng màng rụng, dạng  bất sản, dạng lymphô‐mô bào…)(9). Nghiên cứu  của Bagheri R. và cộng sự cho thấy tỷ lệ các loại  UTMMPAT  theo  thứ  tự  giảm  dần  là  loại  biểu 

mô  (62,5%),  loại  hổn  hợp  (25%),  loại  sarcome  (12,5%)(1).  Tỷ  lệ  các  loại  UTMMPAT  trong  nghiên cứu của chúng tôi là 46,7% bệnh nhân bị  UTMMPAT  dạng  biểu  mô,  15%  bệnh  nhân  bị  UTMMPAT  dạng  sarcôm,  10%  bệnh  nhân  bị  UTMMPAT  dạng  bó  sợi,  18,3%  bệnh  nhân  bị  UTMMPAT  dạng  hỗn  hợp,  6,7%  bệnh  nhân  bị  UTMMPAT  dạng  nhú  biệt  hoá  cao,  3,3%  bệnh  nhân bị UTMMPAT dạng bất sản.  

Hóa  mô  miễn  dịch  là  một  kỹ  thuật  quan  trọng  trong  chẩn  đoán  UTMMPAT,  đặc  biệt  trong chẩn đoán phân biệt UTMMPAT với ung  thư  biểu  mô  tế  bào  tuyến  xâm  lấn  vào  màng  phổi.  Sự  phân  biệt  này  cực  kỳ  quan  trọng  cả  trong  mục  đích  tiên  lượng  bệnh  lẫn  pháp  y (20). 

Sự  biệt  hóa  tế  bào  gai  hiếm  khi  xảy  ra  trong  u  trung mạc, vì vậy nhuộm hóa mô cho chẩn đoán  ung  thư  biểu  mô  tế  bào  gai  màng  phổi  không  được hữu dụng cao(16). 

Các sợi CK là các sợi trung gian tạo nên bộ  khung của các tế bào biểu mô, kèm tạo sự nâng 

đỡ chính cho toàn thể cấu trúc của các biểu mô.  Trong  cơ  thể  người  có  khoảng  20  loại  CK  khác  nhau. CK là chất đánh dấu đầu tiên dùng trong  chẩn  đoán  xác  định  nguồn  gốc  u  biểu  mô,  đặc  biệt là ung thư biểu mô tế bào gai. Có rất nhiều  loại  CK  nằm  trong  các  cơ  quan  của  cơ  thể.  CK  dương  tính  cao  (khoảng  90%)  trong  các  trường  hợp  ung  thư  biểu  mô  phổi,  đặc  biệt  là  loại  CK  phân  tử  lượng  thấp(7).  Trong  nghiên  cứu  của  chúng  tôi,  CK7  dương  tính  ở  6,7%  (4/60  bệnh  nhân) UTMMPAT.  

Trang 7

TTF‐1  là  một  yếu  tố  phiên  mã  chứa 

homeodomain để điều tiết hoạt động phiên mã 

của  các  gen  tuyến  giáp  trong  tế  bào  nang. Nó 

được  chọn  lọc  thể  hiện  trong  tuyến  giáp,  phổi, 

và trong não trung gian. Một số nghiên cứu cho 

thấy TTF‐1 là cần thiết để tạo hình các cơ quan 

này. Trong ung thư tế bào biểu mô tuyến, TTF‐1 

hiếm  khi  hiện  diện  trong  các  khối  u  có  nguồn 

gốc ngoài phổi, TTF‐1 cũng có thể phân biệt giữa 

UTMMPAT  và  ung  thư  màng  phổi  loại  tế  bào 

biểu  mô  tuyến  di  căn  từ  phổi,  vì  nhuộm  miễn 

dịch  TTF‐1  luôn  âm  tính  trong  tổn  thương  u 

trung mạc màng phổi ác tính(13). Nghiên cứu của 

chúng  tôi  cho  thấy  TTF‐1  dương  tính  ở  3,3% 

(2/60 bệnh nhân) UTMMPAT. 

Chất  tạo  sức  căng  bề  mặt  của  phổi  Lung 

Surfactant  là  một  phức  hợp  lipoprotein  được 

tổng hợp và chế tiết từ những phế bào type II 

của phế nang. Thành phần chính của SP‐A này 

là protein với cấu tạo là glycoprotein đã được 

giảm  biến  tính  có  phân  tử  lượng  khoảng  35 

kD.  Trong  tràn  dịch  màng  phổi  ác  tính,  nồng 

độ SP‐A cao chỉ có ở những bệnh nhân với ung 

thư biểu mô tế bào tuyến. Các nghiên cứu hiện 

nay cho thấy mức độ rất thấp của SP‐A  trong 

dịch màng phổi của UTMMPAT. Sự hiện diện 

của  SP‐A  có  thể  dùng  để  phân  biệt  ung  thư 

màng  phổi  loại  tế  bào  biểu  mô  tuyến  và 

UTMMPAT,  vì  SP‐A  chưa  bao  giờ  được  phát 

hiện  trong  UTMMPAT  bằng  hoá  mô  miễn 

dịch(18). Trong nghiên cứu của chúng tôi, SP‐A 

âm  tính  ở  toàn  bộ  60  bệnh  nhân  UTMMPAT 

tham gia nghiên cứu. 

Calretinin  là  protein  29  Kda  thuộc  thành 

phần của nhóm lớn gia đình các protein gắn kết 

calci(7). Calretinin là một trong những chất đánh 

dấu  đầu  tiên  được  coi  là  hữu  ích  trong  chẩn 

đoán u trung mạc. Nhiều nghiên cứu đã khẳng 

định  sự  hữu  ích  trong  nhuộm  hóa  mô  với 

calretinin  trong  chẩn  đoán  phân  biệt  giữa 

UTMMPAT  và  ung  thư  biểu  mô  tế  bào  tuyến, 

chỉ  có  một  số  tương  đối  ít  các  nghiên  cứu  cho 

thấy  có  biểu  hiện  calretinin  dương  tính  trong 

ung  thư  biểu  mô  tế  bào  gai  của  phổi.  Những 

nghiên  cứu  hiện  nay  cho  thấy  calretinin  đều  dương tính trong tất cả các u trung mạc, nên đây  chính  là  tiêu  chuẩn  chẩn  đoán  đầu  tiên.  Trong  khi đó có 40% ung thư biểu mô tế bào gai dương  tính với calretinin. Calretinin có khả năng dương  tính lan tỏa trong mô tới 100% các trường hợp u  trung mạc dạng biểu mô, nhưng chỉ dương tính  từng ổ rải rác trong 10% tất cả các loại ung thư  biểu mô tế bào tuyến, 18% dương tính trong tất 

cả các loại ung thư biểu mô tế bào gai(16). Trong  nghiên  cứu  của  chúng  tôi,  85%  (51/60  bệnh  nhân) UTMMPAT có phản ứng dương tính với  calretinin. 

Desmin  là  loại  sợi  protein  trung  gian  thuộc  nhóm 53 kDa. Kháng thể này có đặc hiệu cao với  desmin và không có phản ứng chéo với các sợi  protein trung gian khác, nó có phản ứng với các  sợi có vách trong các mô cơ vân (cả cơ vân bám  xương  và  cơ  tim)  và  trong  mô  cơ  sẽ  bắt  màu  nhuộm  rõ  nhất  ở  vùng  sợi  Z  đặc  trưng  của  tế  bào  cơ  vân.  Kháng  thể  kháng  desmin  thường  được dùng để xác định các u có nguồn gốc mô 

cơ.  Nó  có  thể  có  phản  ứng  cả  trong  sarcôm  cơ  trơn và sarcôm cơ vân(6). Desmin được phát hiện  trong  56%  các  u  trung  mạc  ác  tính  và  âm  tính  trong các loại ung thư biểu mô của phổi, do đó 

nó có thể được dùng để chẩn đoán phân biệt các 

u này(8). Nghiên cứu của chúng tôi cũng cho thấy  Desmin  dương  tính  trong  45%  (27/60  bệnh  nhân) UTMMPAT. 

HBME‐1  được  phát  hiện  trên  bề  mặt  các  tế  bào trung mạc là một chất sinh miễn dịch trong 

u trung mạc dạng biểu mô. Kháng thể này có thể  xuất hiện trên bề mặt các tế bào trung mạc bình  thường và tế bào u trung mạc, đôi khi cả trên các 

tế bào biểu mô khác. Khi nhuộm dương tính có  thể thấy bắt màu ở rìa tế bào hoặc  trong  các  vi  nhung  mao  của  tế  bào.  Kháng  thể  đơn  dòng  HBME‐1 chủ yếu để chẩn đoán phân biệt giữa u  trung  mạc  dạng  biểu  mô  và  ung  thư  biểu  mô  tuyến(12). Sự hiện diện kháng thể HBME‐1 dương  tính  trên  bờ  bàn  chải  của  các  tế  bào  trung  mạc  cho  phép  chẩn  đoán  phân  biệt  được  giữa  u  trung mạc màng phổi và ung thư biểu mô tế bào 

Trang 8

điện tử cũng cho thấy được các dấu hiệu này và 

được làm rõ hơn khi quan sát dưới kính hiển vi 

quang  học(5).  HBME‐1  dương  tính  trong  tất  cả 

các  trường  hợp  u  trung  biểu  mô  ác  tính  dạng 

biểu  mô  nhưng  dương  tính  chỉ  39%  trong  ung 

thư  phổi  loại  tế  bào  biểu  mô  tuyến(15).  Trong 

nghiên cứu của chúng tôi, HBME‐1 dương tính 

trong 71,7% (43/60 bệnh nhân) UTMMPAT. Các 

trường hợp dương tính với HBME‐1 đa số là loại 

UTTMMPAT dạng biểu mô (91,2%). 

EGFR  tồn  tại  trên  bề  mặt  tế  bào  và  được 

kích  hoạt  bằng  cách  gắn  kết  với  các  điểm  kết 

dính (ligand) cụ thể của nó, bao gồm cả yếu tố 

tăng trưởng biểu bì và chuyển đổi yếu tố tăng 

trưởng  α  (TGFα).  Sau  khi  kích  hoạt  bởi  các 

phối tử yếu tố tăng trưởng, EGFR trải qua một 

quá trình chuyển đổi từ một hình thức không 

hoạt  động  thành  một  nhị  phối  tử  đồng  nhất 

hoạt  động  (homodimer).  Đột  biến  dẫn  đến 

tăng  biểu  hiện  EGFR  quá  mức  được  gọi  là  sự 

tăng  hoạt  quá  mức  đưa  đến  một  số  bệnh  ung 

thư,  bao  gồm  ung  thư  phổi,  ung  thư  đường 

tiêu  hoá  và  u  tế  bào  thần  kinh  đệm  đa  dạng. 

Trong ung thư phổi đột biến gen EGFR xảy ra 

đa  số  ở  các  loại  ung  thư  không  phải  tế  bào 

nhỏ,  đa  số  là  ung  thư  biểu  mô  tuyến(9).  Trong 

60  ca  nghiên  cứu  của  chúng  tôi  thụ  thể  EGFR 

âm tính trong cả 60 trường hợp (100%). 

Thụ thể WT‐1 biểu hiện ngoài màng tế bào 

của  một  gen  mà  gen  này  mã  hóa  một  yếu  tố 

phiên mã có chứa bốn phân tử kẽm với chuỗi 

dài DNA gắn kết với ở diểm tận có protein N. 

Nó  có  vai  trò  quan  trọng  trong  sự  phát  triển 

bình  thường  của  hệ  thống  niệu  sinh  dục,  và 

đột  biến  gen  này  xuất  hiện  nhiều  nhất  trong 

bệnh  lý  bướu  Wilm  ở  trẻ  em.  Bằng  phương 

pháp nhuộm hoá mô miễn dịch, protein WT‐1 

được  tìm  thấy  trong  nhân  tế  bào  75%  các 

trường hợp u trung mạc ác tính và trong 93% 

ung  thư  biểu  mô  buồng  trứng  dạng  thanh 

dịch, và trong u trung mạc lành tính và u biểu 

mô  lành  ống  dẫn  trứng.  Do  đó,  khác  với  các 

chất  đánh  dấu  khác  trong  chẩn  đoán  u  trung 

mạc  màng  phổi,  WT‐1  dương  tính  chủ  yếu  trong nhân tế bào. Điều này giúp ích cho việc  chẩn  đoám  u  trung  mạc  với  các  loại  ung  thư  biểu  mô  xâm  lấn  vào  màng  phổi,  đặc  biệt  là  ung thư biểu mô tuyến(10,14). Trong nghiên cứu  của  chúng  tôi,  có  58/60  (96,7%)  trường  hợp  dương tính với WT‐1. Đây là chất đánh dấu có 

độ đặc hiệu cao nhất trong các chất đánh dấu  dùng  chẩn  đoán  dương  tính  cho  u  trung  mạc  màng  phổi.  Phân  tích  hai  chất  đánh  dấu  Calretinin và WT‐1 cho thấy có 50 trường hợp  dương  tính  cả  hai  chất  WT‐1  và  Calretinin;  8  trường  hợp  dương  tính  với  WT‐1  nhưng  âm  tính với Calretinin; 2 trường hợp  âm tính với  WT‐1 nhưng dương tính với Calretinin. 

KẾT LUẬN 

Nhiều biểu hiện lâm sàng, hình  ảnh  học  và  sinh hoá‐huyết học thay đổi trên mỗi bệnh nhân. 

Kỹ  thuật  nhuộm  hoá  mô  miễn  dịch  có  lợi  ích  chẩn  đoán  xác  định  u  trung  mạc  và  chẩn  đoán  phân  biệt  với  các  ung  thư  biểu  mô  khác  di  căn  vào  màng  phổi.  Trong  đó,  hai  chất  đánh  dấu  Calretinin và WT‐1 là hai chất có độ đặc hiệu cao  nhất.  Riêng  chất  đánh  dấu  HBME‐1  có  giá  trị 

trong  UTMMPAT  dạng  biểu  mô. Việc  điều  tra, 

hỏi bệnh sử kỹ càng cũng là yếu tố rất cần thiết 

để tìm hiểu những nguồn gây bệnh như amiăng 

và các yếu tố liên quan khác.  

TÀI LIỆU THAM KHẢO 

1 Bagheri  R,  Haghi  SZ,  Rahim  MB  (2011).  Malignant  Pleural  Mesothelioma: Clinicopathologic and Survival  Characteristic 

in a Consecutive Series of 40 Patients. Ann Thorac Cardiovasc 

Surg, 17: 130‐136. 

2 Baris  YI,  Saracci  R,  Sirnonatol  Skidmore  JW,  et  al.  (1981).  Malignant mesothelioma and radiological chest abnormalities 

in  two  villages  in  central  Turkey”.  An  epidemiological  and 

environmental investigation, Lancet, 1: 984. 

3 BeckJake MR(1976). Asbestos‐related diseases of the lung and  other organs; their epidemiology and implications fot clinical 

practice. Am Rev Respir Dis, 114: 187‐227. 

4 Churg  A,  Roggli  V,  Galateau‐Salle  F,  et  al.  (2004).  Mesothelioma.  Pathology  and  Genetics  of  Tumours  of  the  Lung, Pleura, Thymus and Heart. Lyon: IARC Press; pp.128‐

136. 

5 Dahlstrom JE, Maxwell LE, Brodie N et al. (2001). Distinctive  microvillous  brush  border  staining  with  HBME‐1  distinguishes  pleural  mesotheliomas  from  pulmonary 

adenocarcinomas. Pathology, 33(3): 287‐291. 

Trang 9

6 Debus E, Weber K, Osborn M (1983). Monoclonal antibodies 

to desmin, the muscle‐specific intermediate filament protein. 

The EMBO Joumal, 2(12): 2305‐2312. 

7 Hoda  MI,  Mohamed  AAN,  Iman  LA  et  al.  (2006).  Pleural 

Mesothelioma:  Diagnostic  Problems  and  Evaluation  of 

Pronostic  Factors.  Journal  of  the  Egyptian  Nat.  Cancer  Inst., 

18(4): 303‐310. 

8 Hurlimann J (1994). Desmin and neural marker expression in 

mesothelial cells and mesotheliomas. Hum Pathol, 25(8): 753‐

757. 

9 Inai  K.  (2010).  Pathological  Diagnosis  of  Asbestos‐Exposure‐

Related‐Diseases & Pathological Diagnosis of Mesothelioma. 

Consultancy  on  asbestos‐related  disease,  Viet  Nam,  Courses 

Training : 15‐25. 

10 Kushitani  K,  Inai  K  (2006).  Immunohistochemical  Makers 

Panels  for  Distinguishing  between  Epitheliod  Mesothelioma 

and  Lung  Adenocarcinoma.  Hiroshima  University  Journal, 

Japan: 546‐550. 

11 Magnani C, Agudo A, González CA et al. (2000). Multicentric 

study  on  malignant  pleural  mesothelioma  and  non‐

occupational exposure to asbestos. British Journal of Cancer, 

83(1): 104‐111. 

12 Mokhtari  M,  Sadeghi  M,  Talebi  A  (2005).  Monoclonal 

antibody  HBME‐1  usefulness  in  differentiation  of  benign 

neoplasm and differentiated thyroid carcinoma. Acta Medica 

Iranica, 43(2): 85‐88. 

13 Ng  WK,  Chow  JC,  Ng  PK  (2002).  Thyroid  Transcription 

Factor‐1  is  Highly  Sensitive  and  Specific  in  Differentiating 

Metastatic  Pulmonary  from  Extrapulmonary 

Adenocarcinoma  in  Effusion  Fluid  Cytology  Specimens. 

Cancer, 25, 6(1): 43‐48. 

14 Nguyen  Son  Lam  (2010).  The  Methods  to  Diagnose  for  Asbestose‐Related  Diseases  at  Pham  Ngoc  Thach  Hospital‐ Viet Nam. The Third Asian Asbestose Initiative International 

Seminar, Fukuoka, Japan: 11‐16. 

15 Ordonez  NG  (2005).  immunohistochemical  diagnosis  of  epithelioid  mesothelioma.  Arch  Pathol  Lab  Med,  129:  1407‐

1414. 

16 Ordonez  NG  (2006).  The  diagnostic  utility  of  immunohistochemistry in distinguishing between epithelioid  mesotheliomas  and  squamous  carcinomas  of  the  lung:  a 

comparative study”. Mod. Pathol., 19: 417‐428. 

17 Rajendra  P,  Surya  K,  Pulak  M  et  al.  (1998).  Mesothelioma  a 

report on 3 cases. Ind J Tub, 45: 29‐30. 

18 Shijubo N, Honda Y, Fujishima T et al. (1995). Lung surfactant  protein‐A and carcinoembryonic antigen in pleural effusions  due  to  lung  adenocarcinoma  and  malignant  mesothelioma. 

Eur Respir J, 8, 403‐406. 

19 Solomons  K.  (1984).  Malignant  mesothelioma‐clinical  and  epidemiological features. A report of 80 cases. S Afr Med J, 66: 

407‐412. 

20 Trupiano  JK,  Geisinger  K.R.,  Willingham  M.C.  et  al.  (2004).  Diffuse  malignant  mesothelioma  of  the  peritoneum  and 

pleura, analysis of markers. Modern Pathology, 17: 476‐481. 

  Ngày nhận bài báo      15‐06‐2013  Ngày phản biện nhận xét bài báo:  10‐07‐2013  Ngày bài báo được đăng:     25–09‐2013   

 

Ngày đăng: 22/01/2020, 00:04

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w