Trong đề tài này với mục tiêu nhằm nghiên cứu sựu nhận biết thực trạng giấc ngủ và các yếu tố ảnh đến chất lượng giấc ngủ của người bệnh trong giai đoạn hậu phẫu. Nghiên cứu cắt ngang được tiến hành tại khoa ngoại tổng quát của Bệnh viện đa khoa Tỉnh Bình Dương với cỡ mẫu là 90 người bệnh trong giai đoạn hậu phẫu.
Trang 1NHỮNG YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN CHẤT LƯỢNG GIẤC NGỦ CỦA NGƯỜI BỆNH PHẪU THUẬT BỤNG TRONG GIAI ĐOẠN HẬU PHẪU TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA TỈNH BÌNH DƯƠNG
Nguyễn Thị Trường Xuân*, Pawana Keeratiyutawong**, Wanlapa Kunsongkeit**
TÓM TẮT
Đặt vấn đề: Ngủ là một trong những nhu cầu cơ bản của cơ thể. Một giấc ngủ đạt chất lượng tốt, đủ độ
sâu và đủ thời lượng, là một đòi hỏi thiết yếu trong việc đảm bảo nguồn cung năng lượng cho hoạt động của cơ thể nói chung và của hệ thống miễn dịch nói riêng. Vì vậy, chất lượng giấc ngủ luôn là đề tài có tầm quan trọng
đối với quá trình hồi phục của người bệnh, đặc biệt là người bệnh trong giai đoạn hậu phẫu.
Mục tiêu nghiên cứu: Nhận biết thực trạng giấc ngủ và các yếu tố ảnh đến chất lượng giấc ngủ của người
bệnh trong giai đoạn hậu phẫu.
Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu cắt ngang được tiến hành tại khoa ngoại tổng quát của Bệnh viện
đa khoa Tỉnh Bình Dương với cỡ mẫu là 90 người bệnh trong giai đoạn hậu phẫu. Dữ liệu được thu thập từ tháng 01 đến tháng 03 năm 2013 bằng cách sử dụng 04 bộ câu hỏi tự điền được tham khảo từ các nghiên cứu trước và 01 bộ câu hỏi được phát triển bởi nhà nghiên cứu.
Kết quả:Chất lượng giấc ngủ của người tham gia nghiên cứu ở mức độ kém (M=206,65; SD=47,80). Chất
lượng giấc ngủ bị ảnh hưởng bởi các yếu tố như: đau, bị quấy nhiễu từ môi trường trong phòng bệnh, lo lắng (r
= ‐0,38, p < 0,001; r = ‐0,41, p < 0,001; r = ‐0,36, p < 0.001). Với mỗi một điểm tăng lên trong tổng điểm của yếu
tố quấy nhiễu của môi trường trong phòng bệnh thì chất lượng giấc ngủ sẽ bị giảm xuống .17 lần (R 2 = .17, p < 0,001).
Kết luận: Nhân viên y tế, hệ thống chăm sóc sức khỏe nên đặc biệt quan tâm chú ý đến các yếu tố gây ảnh
hưởng đến chất lượng giấc ngủ của người bệnh trong giai đoạn hậu phẫu. Chương trình giáo dục về tầm quan trọng của chất lượng giấc ngủ của người bệnh trong giai đoạn hậu phẫu cần được quan tâm và phổ biến, góp phần hạn chế tác động tiêu cực của các yếu tố gây ảnh hưởng nhằm giúp người bệnh nâng cao chất lượng giấc ngủ hướng tới mục tiêu hồi phục tốt nhất.
Từ khóa: chất lượng giấc ngủ, người bệnh hậu phẫu, bệnh viện đa khoa Tỉnh Bình Dương
ABSTRACT
FACTORS PREDICTING QUALITY OF SLEEP AMONG POSTOPERATIVE PATIENTS
WITH ABDOMINAL SURGERY IN BINH DUONG HOSPITAL, BINH DUONG PROVINCE,
VIETNAM.
Nguyen Thi Truong Xuan, Pawana Keeratiyutawong,Wanlapa Kunsongkeit
* Y Hoc TP. Ho Chi Minh * Vol. 18 ‐ Supplement of No 5‐ 2014: 113 ‐ 117
Background: Quality of sleep has long been known as a basic need of human well‐being. A good quality of
sleep is an essential requirement for the normal functioning of the bodyʹs immune system and ability to fight disease and sickness. Therefore, it is very important to human well‐being, especially to patient who got surgery. However, lack of research reported about quality of sleep among surgicaly patients, especially in Vietnamese literature.
Purposes:This study aims to examine predicting factors on quality of sleep among postoperative patients
* Trường Cao đẳng Y tế Bình Dương Khoa Ngoại ‐ Bệnh viện đa khoa tỉnh Bình Dương
Trang 2Methods: Ninety postoperative abdominal surgery patients in surgical ward at Binh Duong Hospital who
met inclusion criteria were randomly recruited for this predictive correlation study. Subjects were asked for completing four questionnaires including the Richard‐Campbell Sleep Questionnaire (RCSQ), the Numeric Pain Intensity Scale, the Hospital Anxiety and Depression Scale (HADS‐A), the Disturbances from Environmental Care Questionnaire on postoperative period.
Results: The results showed that that mean score of quality of sleep was at a poor level (M = 206.65, SD =
47.80). Quality of sleep was moderately and inversely related to pain, disturbances from environmental care, and anxiety (r = ‐ .38, p < .001; r = ‐ .41, p < .001; r = ‐ .36, p < .001, respectively). The average of mean score of disturbances from environmental care could predict quality of sleep 17% (r 2 = 0.17, p < 0.001).
Conclusions: These findings suggest the need to improve quality of sleep in these patients by controlling the
predicting factors. Besides, health education about quality of sleep and its predicting factors should be provided to improve quality of sleep among postoperative abdominal surgery patients.
Keywords: quality of sleep, postoperative abdominal surgery patient, Binh Duong Hospital.
ĐẶT VẤN ĐỀ
Theo thống kê, vì nhiều lý do, người bệnh
trong giai đoạn hậu phẫu thường bị mất ngủ
(89%)1,2,3,6,9. Nguyên nhân này đã gây tác động
bất lợi không nhỏ đến sự phục hồi của người
bệnh trong giai đoạn hậu phẫu, một giai đoạn
quan trọng trong quá trình hồi phục của một
người bệnh ngoại khoa. Bởi vì, ngủ là một trong
đạt chất lượng tốt, đủ độ sâu và đủ thời lượng, là
một đòi hỏi thiết yếu trong việc đảm bảo nguồn
cung năng lượng cho hoạt động của cơ thể nói
chung và của hệ thống miễn dịch nói riêng3. Các
thí nghiệm đã chứng minh rằng chất nội tiết
đóng vai trò quan trọng trong kích thích đáp
ứng miễn dịch (cytokine) hoạt động mạnh mẽ
khi cơ thể trong trạng thái ngủ sâu23. Tồi tệ hơn,
tình trạng mất ngủ sau mổ còn có thể kéo dài
cho đến sau khi xuất viện, gây ảnh hưởng không
nhỏ đến sức khỏe, đời sống của người bệnh sau
khi xuất viện.
Tuy nhiên, các nghiên cứu về chất lượng giấc
ngủ trên đối tượng người bệnh sau phẫu thuật
còn ít, đặc biệt là ở Việt Nam. Mong rằng, kết
quả của nghiên cứu này sẽ góp phần nâng cao
chất lượng công tác chăm sóc, giúp người bệnh trong giai đoạn hậu phẫu được chăm sóc chú trọng hơn nữa trong việc nâng cao chất lượng giấc ngủ, hướng tới mục tiêu phục hồi sau bệnh một cách tốt nhất.
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU Thiết kế nghiên cứu
Phương pháp cắt ngang mô tả.
Đối tượng nghiên cứu
Người bệnh sau phẫu thuật bụng nằm tại khoa ngoại tổng quát Bệnh viện đa khoa Tỉnh Bình Dương.
Cỡ mẫu
Dựa vào công thức Tabachnick and Fidell1010, nghiên cứu này đã chọn ra 90 người
bệnh bằng phương pháp lấy mẫu ngẫu nhiên.
Tiêu chuẩn chọn mẫu
Người bệnh sau phẫu thuật bụng nằm tại khoa ngoại tổng quát của Bệnh viện Bình Dương, có thể giao tiếp, đọc, hiểu tiếng Việt, và sẵn sàng tham gia vào nghiên cứu.
Công cụ thu thập dữ kiện
Nghiên cứu sử dụng 04 bộ câu hỏi tự điền được tham khảo từ các nghiên cứu trước và 01
Trang 3hỏi này đều đã được kiểm định độ tin cậy bằng
một nghiên cứu một thực nghiệm với 30 người
bệnh có cùng đặc điểm với mẫu. Kết quả cho
thấy độ tin cậy cao đối với 04 bộ tham khảo
(Cronbach’s α= 95) cũng như bộ tự phát triển
bởi nhà nghiên cứu (CVI = 90; Cronbach’s α
=.86).
Phân tích dữ liệu:
Dữ liệu được nhập và phân tích bằng cách
sử dụng phần mềm phân tích dữ liệu SPSS.
KẾT QUẢ
Nhân khẩu học
Bảng 1: Đặc điểm nhân khẩu học (N=90)
Đặc điểm nhân khẩu học Tần suất Tỷ lệ (%)
Giới tính
Trình độ học vấn
Tình trạng hôn nhân
Tiền sử phẫu thuật
Loại phẫu thuật
Dữ liệu từ bảng 1 cho thấy, đa phần đối
tượng tham gia trong nghiên cứu này là nam
giới (63,3%), tỉ lệ đã tốt nghiệp PTTH cao
(55,6%), đa số đã kết hôn (72,2%), phần lớn
người tham gia nghiên cứu chưa từng trải qua
phẫu thuật (95,6%), phẫu thuật chương trình
nhiều hơn phẫu thuật cấp cứu (53,3%), và tất
cả người tham gia đều được sử dụng thuốc giảm đau.
Thực trạng của các yếu tố: chất lượng giấc ngủ, đau, lo lắng, bị quấy nhiễu do yếu tố môi trường trong phòng bệnh
Bảng 2: Mức độ của chất lượng giấc ngủ, đau, lo
lắng, bị quấy nhiễu của yếu tố môi trường (N=90)
Chất lượng giấc ngủ (500) 206.65 47.80 Kém
Bị quấy nhiễu bởi yếu tố môi trường trong phòng bệnh (120) 47.73 10.68 TB
Ghi chú. M: trung bình, SD : độ lệch chuẩn
Theo dữ liệu bảng 2, chất lượng giấc ngủ của người tham gia nghiên cứu ở mức độ kém. Trong khi đó, các yếu tố gây ảnh hưởng đến chất lượng chất ngủ như đau, lo lắng, bị quấy nhiễu của yếu tố môi trường ở mức độ trung bình.
Mối liên quan giữa từng yếu tố đau, lo lắng, quấy nhiễu của môi trường trong phòng bệnh với chất lượng giấc ngủ
Bảng 3: Mối liên quan giữa từng yếu tố, đau, lo lắng,
quấy nhiễu của môi trường trong phòng bệnh với chất lượng giấc ngủ (N=90)
Chất lượng giấc ngủ (r)
Yếu tố quấy nhiễu từ môi trường trong
* p < .05, ** p < .01, *** p < .001
Dữ liệu từ bảng 3 cho thấy, chất lượng giấc ngủ bị ảnh hưởng bởi các yếu tố đau, lo lắng,
quấy nhiễu của môi trường trong phòng bệnh (r
= ‐ .38, p < .001; r = ‐ .41, p < .001; r = ‐ .36, p < .001).
Yếu tố dự đoán mức độ ảnh hưởng với chất lượng giấc ngủ
Bảng 4: Yếu tố dự đoán mức độ ảnh hưởng với chất
lượng giấc ngủ (N=90)
Quấy nhiễu của môi trường trong phòng
bệnh
* p < .05, ** p < .01, *** p < .001. Ghi chú: biến số phụ thuộc: chất lượng giấc ngủ.
Trang 4ngủ của người nghiên cứu có thể được dự đoán
được bởi yếu tố quấy nhiễu của môi trường
trong phòng bệnh. Với mỗi một điểm tăng lên
trong tổng điểm của yếu tố quấy nhiễu của môi
trường trong phòng bệnh thì chất lượng giấc
ngủ sẽ bị giảm xuống .17 lần (R 2 = ,17, p < ,001).
BÀN LUẬN
Kết quả nghiên cứu cho thấy, chất lượng giấc
ngủ của người tham gia nghiên cứu ở mức độ
kém. Đây là một kết quả cần được quan tâm.
Nhân viên y tế cần có các biện pháp thích hợp để
cải thiện chất lượng giấc ngủ nhằm giúp cho
nguời bệnh nâng cao sức khỏe, rút ngắn thời
gian lành bệnh bằng cách kiểm soát tốt các yếu
tố nguy cơ.
bị ảnh hưởng bởi các yếu tố đã được chọn để
khảo sát như đau, lo lắng, bị quấy nhiễu từ yếu
tố môi trường trong phòng bệnh. Sau phẫu
thuật, người bệnh bị đau như là một hậu quả tất
yếu của sự tổn thương cơ, thần kinh, mạch máu.
Bên cạnh đó, lo lắng là yếu tố không thể tránh
khỏi, người bệnh lo lắng về khả năng lành bệnh,
tiến triển phục hồi, cũng như một số vấn đề
thuộc phạm vi riêng tư như gia đình, tài
chính…Thêm vào đó, như là một yếu tố truyền
thống, phòng bệnh tại các khoa phòng luôn có
người nuôi bệnh túc trực bên cạnh người bệnh,
vì vậy việc chất lượng giấc ngủ của người bệnh
bị ảnh hưởng từ tiếng ồn do thân nhân nuôi
bệnh gây ra là điều không thể tránh khỏi. Người
bệnh khó thích nghi với điều kiện nằm viện và bị
quấy nhiễu bởi tiếng ồn trong phòng bệnh như
tiếng chuông điện thoại di động, tiếng trò
chuyện của thân nhân nuôi bệnh, ánh sáng đèn.
Kết quả của nghiên cứu này tương tự như kết
quả của các nghiên cứu trước, người bệnh bị mất
ngủ sau phẫu thuật do đau, lo lắng, không thích
nghi với điều kiện nằm viện là phổ biến và
chiếm tỉ lệ khá cao (89%)41,4,6,9.
Từ kết quả trên ta thấy rằng, dù chăm sóc
giảm đau sau mổ cho người bệnh đã được chú
trọng, 100% người bệnh được dùng thuốc giảm đau sau mổ, nhân viên y tế trong hệ thống chăm sóc vẫn cần chú trọng hơn nữa công tác chăm sóc giảm đau, sử dụng các phương pháp giảm đau vật lý kết hợp với dùng thuốc, để đem lại hiệu quả giảm đau tốt nhất cho người bệnh, giúp cải thiện chất lượng giấc ngủ.Thêm vào đó, việc tăng cường công tác chăm sóc trên lĩnh vực tâm
lý trước và sau phẫu thuật cũng nên được chú trọng, giúp người bệnh an tâm để hạn chế tác động tiêu cực của yếu tố này lên chất lượng giấc ngủ. Riêng đối với yếu tố bị quấy nhiễu từ môi trường trong phòng bệnh, theo như kết quả khảo sát, nếu có thể kiểm soát tốt, chất lượng giấc ngủ của người bệnh chắc chắn sẽ được nâng cao. Vì vậy, nhân viên y tế cần có kế hoạch cắt giảm bớt độ phiền nhiễu của yếu tố này. Ví dụ,
có thể tắt giảm bớt đèn ở những vị trí không cần thiết vào ban đêm, có quy định giờ tắt mở đèn trong phòng bệnh cụ thể; có chương trình giáo dục về nội quy bệnh viện hằng tuần, có biển báo nhắc nhở mọi người giữ yên lặng khi vào bệnh viện, có biển báo cấm chuông điện thoại trong phòng bệnh, thường xuyên nhắc nhở thân nhân giữ yên tĩnh phòng bệnh.
KẾT LUẬN
Theo kết quả nghiên cứu, chất lượng giấc ngủ của người bệnh sau phẫu thuật chắc chắn sẽ
bị ảnh hưởng bởi đau, lo lắng, và bị quấy nhiễu
từ yếu tố môi trường trong phòng bệnh. Vì vậy, nhân viên y tế, hệ thống chăm sóc sức khỏe nên đặc biệt quan tâm chú ý đến các yếu tố gây ảnh hưởng này, đặc biệt là yếu tố môi trường trong phòng bệnh. Việc xây dựng kế hoạch chăm sóc
để kiểm soát tốt các yếu tố gây ảnh hưởng đến chất lượng giấc ngủ là việc làm cần thiết nhằm nâng cao chất lượng chăm sóc, giúp người bệnh hồi phục nhanh nhất và toàn diện nhất.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 Chung F, Un V, & Su. (1996). Các triệu chứng thường gặp ở
người bệnh hậu phẫu sau gây mê bằng nội khí quản. Can
Journal Anaesthesia, 43(11), 1121‐1127.
2 Irwin M, McClintik J, Costlow C, Fortner M, White J, & Gillin
JC. (1996). Sự gián đoạn giấc ngủ về đêm và sự giảm sút khả
Trang 5Societies for Experimental Biology Journal, 10, 643‐648.
3 Knutson KL, Spiegel K, Penev P, & VanCauter E. (2007). Tác
động của mất ngủ trên chuyển hóa. Sleep Medicine Review,
11(3), 163‐178.
4 Ku CM, & Ong BC. (2003). Tổng hợp y văn trong giai đoạn
hiện thời về triệu chứng nôn và ói sau mổ. Singapore Medicine
Journal, 44(7), 366‐374.
5 Long NH. (2010). Các nhân tố liên quan đến các triệu chứng sau
mổ ở người bệnh phẫu thuật bụng. Master’s thesis, Department
of Adult Nursing, Burapha University.
6 Pavlin D, Chen C, Penaloza D, & Buckley F. (2004). Khảo sát
đau và các triệu chứng ảnh hưởng lên quá trình phục hồi sau
phẫu thuật. Journal of Clinical Anesthesia, 16, 200‐206.
7 Richards DA. (1987 a). Công cụ đo lường chất lượng giấc ngủ.
Focus on Critical Care, 14(4), 34‐40.
8 Richardson KC, O’Sullivan PS, & Phillips RL. (2007). Đánh giá phương pháp đo lường chất lượng giấc ngủ trên người bệnh
cấp tính. Journal of Nursing Measurement, 8, 2‐2000.
9 Schulz P, Zimmerman L, Pozehl B, Barnason S, & Nieveen J. (2009). Chiến lược quản lý các triệu chứng ở người bệnh cao
tuổi sau phẫu thuật mạch vành. Applied Nursing Research,
24(2), 65‐73.
10 Tabachnick BG, & Fidell LS. (2001). Phương pháp chọn mẫu.
Boston: Allyn and Bacon.
11 Zigmond AS, & Snaith RP. (1983).Thang đo lo lắng và trầm
cảm. Acta Psychiatric Scandinavica, 67(6), 361‐370.
Ngày nhận bài báo: 05/9/2014 Ngày phản biện nhận xét bài báo: 29/9/2014 Ngày bài báo được đăng: 20/10/2014