Nội dung của bài viết trình bày về việc phẫu thuật thay khớp gối giúp cho bệnh nhân giảm đau và phục hồi chức năng khớp gối, đánh giá hiệu quả chương trình tập phục hồi chức năng sau phẫu thuật thay khớp gối. Kết quả nghiên cứu cho thấy, việc tập phục hồi chức năng sớm sau phẫu thuật thay khớp gối giúp rút ngắn thời gian nằm viện,không biến chứng thuyên tắc mạch và thuyên tắc phổi.
Trang 1KẾT QUẢ PHỤC HỒI CHỨC NĂNG CỦA KHỚP GỐI SAU THAY KHỚP GỐI TOÀN PHẦN TẠI BỆNH VIỆN CHẤN THƯƠNG CHỈNH HÌNH
Trương Trí Hữu*, Đoàn Quang Phương**
TÓM TẮT
Mở đầu: Phẫu thuật thay khớp gối mang đến giảm đau và phục hồi chức năng khớp gối. Yếu tố tiên lương
chính là phục hồi tầm vận động khớp gối sau mổ phụ thuộc vào tầm vận động khớp gối trước mổ, kỹ thuật mổ và chế độ tập vật lý trị liệu.
Mục đích nghiên cứu: Để đánh giá hiệu quả chương trình tập phục hồi chức năng sau phẫu thuật thay
khớp gối.
Phương pháp nghiên cứu: Mô tả tiền cứu dùng phần mềm thống kê SPSS 16; mức độ chứng cứ IV. Đối
tượng gồm các BN lớn tuổi có chỉ định phẫu thuật thay khớp gối do thoái hóa khớp nặng hay viêm khớp dạng thấp. Tập phục hồi chức năng bắt đầu ngay 24 giờ sau mổ, áp dụng bài tập cơ hiệu quả và tăng dần sức mạnh cơ bắp. Chế độ tập được theo dõi sát trong 12 tuần đầu. Tiếp theo được hoàn thiện tầm độ khớp, hoạt động sinh hoạt hàng ngày, tập dáng đi được hướng dẫn về nhà tập. Đánh giá chức năng trước mổ, sau mổ 1,2.3,6 và 12 tháng). Lượng giá chung về tầm độ khớp, sức cơ, đau, dáng đi và cân bằng cơ thể.
Kết quả: Thực hiện thay khớp gối toàn phần 76 khớp gối của 71 bệnh nhân ( từ 1‐9‐2010 đến 1‐4‐2013),
không thay bánh chè. Thời gian theo dõi trung bình là 26 tháng, thang điểm KS và KFS được so sánh trước và sau mổ. Điểm trung bình KS trước mổ 41,88 và sau mổ 88,20, điểm trung bình KFS trước mổ 41,80 và sau mổ
là 79,78. Kết quả theo thang điểm KS sau mổ là rất tốt 71,1%; tốt 22,2%, khá 5,3%, xấu 1,5%. Gập gối trung bình 115 o Phục hồi sức cơ tứ đầu (0,98 ± 0,54; P < 0,042) và gân cơ chân ngỗng (1,05 ± 0,72; P < 0,041), thang điểm dáng đi (P < 0,047) và điểm thăng bằng (P < 0,045).
Kết luậ: Tập phục hồi chức năng sớm sau phẫu thuật thay khớp gối giúp rút ngắn thời gian năm viện,
không biến chứng thuyên tắc mạch và thuyên tắc phổi. Tập phục hồi chức năng sau mổ giúp cải thiện chức năng khớp gối sau mổ thay khớp gối và có dáng đi tốt đối với người cao tuổi bị thoái hóa khớp nặng
Từ khóa: phẫu thuật thay khớp gối toàn phần, phác đồ tập phục hồi chức năng
ABSTRACT
KNEE FUNCTIONAL OUTCOME AFTER TOTAL KNEE ARTHROPLASTY (TKA) IN HOSPITAL
FOR ORTHOPEDIC‐ TRAUMATOLOGY
Truong Tri Huu, Doan Quang Phuong
* Y Hoc TP. Ho Chi Minh * Vol. 18 ‐ Supplement of No 1 ‐ 2014: 449 ‐ 455
Introduction: The arthritis pain is typically eliminated and function is recovered after TKA.The biggest
predictor of postoperative ROM is preoperative ROM, technique of surgery and rehabilitation program.
Purpose: to evaluate the effectiveness of a rehabilitation program after total knee arthroplasty.
Method and materials: Prospective observation, data are represented by descriptive statistics (SPSS 16.
soft –ware). Level IV evidence base. Subjects are patients undergoing primary total knee arthroplasty for severe
osteoarthritis and rheumatoid arthritis. Rehabilitation was started within 24 hours post surgery. Rehabilitation using effective exercise and progression to functional strengthening exercises. Rehabilitation programs will take
* Bệnh viện Chấn thương chỉnh hình TP. HCM, ** Bệnh viện Đa khoa Bình Định
Trang 2place over 12 weeks. Then they will receive treatment for range of motion, activities of daily living and gait training, as well as a home exercise program. The investigators will measure function and strength at six time points (pre‐op; 1, 2, 3, 6, and 12 months after TKA). Measurement variables included joint range of motion, muscle strength, pain, gait and balance.
Results: A total of 71 patients with 76 knees from 1‐9‐2010 to 1‐4‐2013 were done fixed bearing posterior‐
stabilized prosthesis, without patella resurfacing. At average 26 months follow‐up the study group showed
shortly hospital stay (by (mean ± standard deviation) 5.09 ± 1.45 days; P < 0.001), no deep venous thrombosis, no pulmonary embolism. Lesser pain (by 2.36 ± 2.47 points; P < 0.027), the Knee Score (KS) and Knee Function
Score (KFS) were increased comparable between pre‐ and post‐operative. The mean pre‐ and KS post‐op were 41.88 and 88.20 respectively. The mean pre‐ and KS post‐op were 41.80 and 79.78 respectively (p<0.05). The proportion of KS score in post‐op was 71.1% of excellent, 22.2% of good, 5.3% of fair, 7.9% of poor. The average flexion was 115°; improved strength in quadriceps (by 0.98 ± 0.54; P < 0.042) and hamstring muscles (by 1.05 ± 0.72; P < 0.041), and higher scores for gait (P < 0.047) and balance (P < 0.045).
Conclusions: Initiation of rehabilitation within 24 hours after total knee arthroplasty reduces the mean
hospital stay, the deep venous thrombosis, pulmonary embolism. Rehabilitation after TKA improves knee joint
function and achieves normal gait balance in the the old patiens of severe arthritis knees.
Key words: total knee arthroplasty (TKA), rehabilitation program
MỞ ĐẦU
Phẫu thuật thay khớp gối mang đến giảm
đau và phục hồi chức năng khớp gối. Mong
muốn chính của bệnh nhân được phục hồi tầm
vận động khớp gối sau mổ và chức năng sinh
hoạt khớp gối cải thiện hơn trước mổ. Vì thế
nghiên cứu chế độ tập vật lý trị liệu thích hợp
sớm mang lai hiệu quả phục hồi chức năng sau
mổ là cần thiết.
Mục tiêu nghiên cứu
Đánh giá hiệu quả chương trình tập phục
hồi chức năng sau phẫu thuật thay khớp gối
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Phương pháp nghiên cứu
Tiền cứu mô tả, dùng phần mềm SPSS 16.5
Chọn mẫu
Tất cả bệnh nhân từ trên 55 tuổi, thoái hóa
khớp gối nặng do viêm khớp dạng thấp, thoái
hóa khớp gối giai đoạn 3, 4 theo phân loại của
Kellgren – Lawrence và điều trị nội khoa không
hiệu quả. tại Bệnh Viện Chấn Thương Chỉnh
Hình Thành Phố Hồ Chí Minh từ tháng 9 năm
2010 đến tháng 9 năm 2012.
Mẫu gồm 76 khớp gối, trên 71 bệnh nhân gồm 68 nữ, 3 nam, trong đó 5 bệnh nhân được thay khớp gối hai bên ở hai thời điểm cách nhau ít nhứt 3 tháng. Thời gian theo dõi trung bình 18 tháng (thời gian ngắn nhất 13 tháng, lâu nhất 26 tháng).
Phương pháp phẫu thuật
Thay khớp gối toàn phần có xi măng loại
hy sinh dây chằng chéo sau, không thay xương bánh chè. Sủ dụng ga rô áp lực khoảng 300 mmHg, xả ga rô cầm máu trước khi khâu vết thương. Cắt mâm chày vuông góc với trục xương chày dốc ra sau trung bình 5 độ, sử dụng dụng cụ cắt bên ngoài tủy. cắt lồi cầu lát cắt xa dang khoảng 6 độ so với trục giải phẫu của thân xương đùi. Giải phóng phần mềm và cân bằng đúng khi đặt khớp nhân tạo. Dẫn lưu kín sau mổ từ 24‐ 48 giờ. Giảm đau sau mổ tê thần kinh đùi duy trì sau mổ 24 giờ. Không dùng kháng đông trừ một vài ca có tiền sử bênh lý tim mạch
BN được đánh giá chức năng khớp gối theo thang điểm Knee Scociety scoring system.
BN được hướng dẫn tập vận động trị liệu trước mổ về phục hồi tầm vận động khớp gối
Trang 3tháng, 6 tháng, 12 tháng.
X quang được đánh giá trước mổ, và sau
mổ 3 tháng theo hai bình diện thẳng, nghiêng
90 độ trên tư thế đứng thẳng chịu toàn bộ sức
nặng, chụp tiếp tuyến xương bánh chè gối gập
30‐ 45 độ.
Đo sự chênh lệch giới hạn gấp gối giữa trước
mổ và sau mổ, cũng như duỗi gối giữa trước mổ
và sau mổ.
Phác đồ tập luyện(13,14)
Ngày thứ nhất sau mổ
Tập vận động cổ chân: Người bệnh nằm
trên giường, hít sâu và gấp mu chân, giữ yên tư
thế này trong 5 giây, sau đó thở ra và thả lỏng cổ
chân, nghỉ 5 giây rồi lặp lại động tác đó. Tập liên
tục khoảng 20 lần. Động tác này giúp giảm sưng
nề và ngăn chặn sự hình thành cục máu
đông.Bài tập cơ tứ đầu: Mục đích làm co cơ tứ
đầu đùi. Bệnh nhân nằm ngửa, gối duỗi thẳng,
ấn khoeo chân xuống sát giường, giữ 5 giây rồi
thả lỏng. Lặp lại 20 lần.
Ngày thứ hai sau mổ
Bài tập trượt gót chân: Bài tập giúp tăng
biên độ vận động khớp gối và sức cơ đùi. Bệnh
nhân nằm ngửa, kéo trượt gót chân bên mổ về
phía mông xa nhất có thể và mức độ đau có thể
chịu được, giữ 5 giây rồi trược duỗi gối về vị trí
ban đầu. Lặp lại 20 lần.
Tập nâng thẳng chân: Bệnh nhân nằm ngửa,
hít sâu và nâng thẳng chân mổ với gối duỗi
thẳng lên cách mặt giường khoảng 20 cm, giữ 5
giây rồi đặt chân về vị trí ban đầu. Lặp lại 20 lần.
Động tác giúp tăng sức cơ tứ đầu đùi.
Bài tập cơ mông: Mục đích làm mạnh khối
cơ mông.Bệnh nhân nằm ngửa, nghiêng và ép
mông bên chân mổ vào giường, giữ 5 giây rồi
thả lỏng. Lặp lại 20 lần.
Bài tập gấp và duỗi gối có nâng đỡ: Bệnh
nhân ngồi dậy sát thành giường, đưa 2 chân ra
ngoài thành giường, dùng chân không mổ đặt
dưới gót chân mổ, gấp và duỗi gối xa đến mức
rồi thả lỏng. Lặp lại 20 lần. Động tác này giúp cải thiện biên độ vận động khớp gối và tăng sức cơ
tứ đầu đùi.
Tập khép và dạng háng
Ngày thứ 3 đến tuần lễ đầu tiên
Bài tập gấp và duỗi gối không nâng đỡ:
Bệnh nhân ngồi dậy, để 2 chân ra sát thành giường, gấp và duỗi gối chủ động chân mổ xa đến mức có thể và chịu đau được. Mỗi động tác giữ 5 giây rồi thả lỏng. Lặp lại 20 lần.
Tập đi bằng khung hổ trợ: Đến ngày thứ
3, bệnh nhân bắt đầu tập đi bằng khung hổ trợ. Đặt khung tập đi khoảng 10‐15cm phía trước mặt, giữ cho lưng thẳng và cúi người dựa vào khung tập đi, đưa chân bên lành vào giữa khung, cẩn thận không xoay chân, sau đó bước chân còn lại lên.
Tuần thứ nhất đến tuần thứ tư sau mổ
Hoạt động: Chịu lực trên chân mổ, bắt đầu
sử dụng 2 nạng hay khung khi đi.
Tầm vận động: Tăng biên độ vận động gấp
và duỗi gối nhờ các bài tập trượt gót chân và bài tập cơ tứ đầu ở mức độ hài lòng sao cho khớp gối duỗi gần hoàn toàn và gấp khoảng 90°.
Sức cơ: Tăng cường sức cơ bằng bài tập
nâng thẳng chân với khớp gối duỗi thẳng.
Chăm sóc vết thương: Không để vết mổ bị
ướt khoảng 2 tuần sau mổ, thường cắt chỉ vết
mổ vào ngày thứ 10 – 14 sau mổ.
Mục đích: Ở tuần lễ thứ 3 – 4, khớp gối có
thể gấp 90° và duỗi gần hoàn toàn.
Tuần thứ 5 đến tuần thứ 8 sau mổ
Hoạt động: Bệnh nhân có thể đi 2 nạng khoảng cách ngắn 100 mét.
Tầm vận động: Khi khớp gối gấp được 90°,
bệnh nhân có thể tập đạp xe tại chỗ không có kháng lực. Điều này có thể cải thiện tầm vận động khớp. Bài tập tăng dần từ không kháng lực cho đến có kháng lực ở mức độ hài lòng. Ngày
tập 1 – 2 lần, mỗi lần 10 – 15 phút Sức cơ: Tiếp tục các bài tập cơ tứ đầu và bài
Trang 4Mục đích: Ở tuần lễ thứ 8, khớp gối có thể
gấp 105° và duỗi hoàn toàn.
Tuần thứ 9 đến tuần thứ 12
Hoạt động: Bệnh nhân chịu lực hoàn toàn và
có thể đi 1 nạng nếu cảm thấy an toàn.
Tầm vận động: Tiếp tục các bài tập cải thiện và
duy trì vận động. Cuối cùng bệnh nhân có thể
gấp gối 105° hoặc hơn. Điều này cho phép bệnh
nhân có thể hoạt động sinh hoạt hàng ngày một
cách độc lập
Sức cơ: Tiếp tục các bài tập tăng sức cơ để
cho bệnh nhân có thể đi lại thoải mái và dễ
dàng.
Để có một khớp gối khỏe mạnh và lâu
bền, bệnh nhân nên tránh làm một số động tác
sau: ngồi xổm, quỳ gối, không được xoay gối,
mang vác nặng, chạy, nhảy, đi nhanh
KẾT QUẢ
‐ Thực hiện thay khớp gối toàn phần tổng
cộng 76 khớp gối, trên 71 bệnh nhân gồm 68 nữ,
3 nam, trong đó 5 bệnh nhân được thay khớp
gối hai bên. Thời gian theo dõi trung bình 18
tháng (thời gian ngắn nhất 13 tháng, lâu nhất 26 tháng). Bệnh nhân tuổi từ 56‐ 89 gặp nhiều nhất khoảng 60‐69 tuổi, chiếm tỷ lệ 45,07%.
Thời gian nằm viện liên quan đến giai đoạn hồi phục sớm, như khả năng rời khỏi giường bệnh và xuất viện. Bệnh nhân tự ngồi dậy được.Khớp gối duỗi gần hoàn toàn.Khớp gối gấp khoảng 90°, có thể ít hơn 90° nhưng quan trọng mức độ gấp phải tiến bộ từng ngày.Bệnh nhân biết cách đi nạng hoặc dùng khung hổ trợ: Kết quả thời gian nằm viện TB: 5 ngày (p<0,01).
‐ Thời gian hồi phục ngắn cho phẫu thuật thay khớp gối toàn phần khoảng từ bệnh nhân không cần dùng nạng và có thể đi xung quanh nhà không đau, không dùng thuốc giảm đau và trong đêm ngủ ngon mà không dùng thuốc: trung bình 7 tuần (p<0,01).
‐ Thời gian phục hồi dài cho bệnh nhân thay khớp gối toàn phần: liên quan đến sự lành khỏi vết mổ và cấu trúc phần mềm bên trong; bệnh nhân có thể trở lại hoạt động sinh hoạt hàng ngày: trung bình 4 tháng (p<0,01).
Bảng 1: Kết quả phục hồi trục và chức năng khớp gối
Vẹo ngoài 0- 20: n= 1 Vẹo ngoài 0- 5: n= 3 Vẹo ngoài 0-5: n=3 Vẹo trong 0- 20: n= 75 Vẹo trong 0- 5: n= 16 Vẹo trong 0-5: N=16 Trục lồi cầu đùi trên mp thẳng đứng
Trục mâm chày trên mp thẳng đứng Vẹo trong 8- 15 độ 0: n= 59 ca
Vẹo ngoài 0-5: n= 11 Vẹo trong 0-3: n= 6
0: n= 59 ca Vẹo ngoài 0-5: n= 11 Vẹo trong 0-3: n= 6 Trục lồi cầu trên mp nghiêng bên
Độ dốc từ trước ra sau của mâm chày
trên bình diện nghiêng bên
Bảng 2: Kết quả phục hồi tầm độ khớp
khớp gối duỗi
Mất duỗi 5- 10 độ: n= 14 N = 76 gối Mất duỗi 5 độ- 10 độ Duỗi 0 độ Duỗi 0-5 độ Duỗi0-10 độ
Trang 5
Tầm vận động
khớp gối khi gấp
Bảng 3: Mức độ cải thiện gấp gối sau mổ. Sự khác
biệt độ gấp gối trung bình trước mổ và sau mổ có ý
nghĩa thống kê (‐t = ‐2,064, df = 75, p < 0,05).
Trước mổ Sau mổ 3 tháng Sau mổ 12
tháng
Gấp gối trung
bình
101 103 115
Yếu tố ảnh hưởng phục hồi chức năng sau
mổ
Tầm vận động trước mổ và điểm chức năng
khớp sau mổ.
Biểu đồ 1: Có sự tương quan thuận giữa tầm vận
động trước mổ và điểm chức năng sau mổ có ý nghĩa
thống kê (r = 0,524, F = 26, p< 0,05)
Bảng 4: Biến chứng sau phẫu thuật thay khớp gối
Biến chứng Số lượng khớp gối
Gãy xương 1
Trật khớp 0
Thuyên tắc mạch 0
Tổn thương thần kinh mạch
máu
0
BÀN LUẬN
Ưu điểm của tập luyện sớm:
‐Trong nghiên cứu của chúng tôi thường
băng ép chân mổ và cho bệnh nhân tập vận
nhằm hạn chế biến chứng tắc mạch. Tập ngồi sớm và tập hô hấp sâu hít thở bụng. Kết quả nghiên cứu không có trường hợp nào xảy ra biến chứng thuyên tắc mạch. Các báo cáo của phương Tây nếu không điều trị dự phòng thuốc kháng đông, tỉ lệ huyết khối tĩnh mạch sâu là 85% và tỉ lệ thuyên tắc phổi là 1,5‐10% ở những bệnh nhân thay khớp gối nhân tạo(5). Bệnh sinh của thuyên tắc tĩnh mạch liên quan đến 3 yếu tố: tình trạng tĩnh mạch, yếu tố tăng đông và tổn thương nội mạch. Có nhiều yếu tố làm tăng nguy cơ thuyên tắc như: hút thuốc lá, béo phì, xơ vữa động mạch.
Phục hồi chức năng
Để cải thiện tầm vận động khớp gối sau phẫu thuật thay khớp thì phục hồi chức năng đóng vai trò rất quan trọng, đặc biệt các bài tập vận động trị liệu trước và sau phẫu thuật. Cần tập luyện ngay ngày đầu sau mổ để tránh biến chứng dính khớp. Các bài tập nhằm mục đích tăng cường sức mạnh của cơ và tăng biên độ vận động gấp duỗi khớp gối, giúp bệnh nhân sớm trở lại các hoạt động sinh hoạt hàng ngày. Sau phẫu thuật thay khớp gối khoảng 2‐3 tháng, đa
số bệnh nhân cảm thấy hài lòng về vấn đề đau
và phục hồi chức năng(3,14). Những bệnh nhân tuân thủ chế độ tập luyện tốt có khả năng phục hồi nhanh hơn. Ngược lại, nếu không tập phục hồi chức năng bệnh nhân có nguy cơ viêm dính khớp, viêm cơ cốt hóa và cứng khớp sau mổ(12).
Có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến phục hồi chức năng sau phẫu thuật thay khớp gối. Tầm vận động trước mổ giảm là một yếu tố nguy cơ quan trọng nhất ảnh hưởng đến cứng khớp gối sau
mổ(8), giới hạn này có lẻ do bộ máy duỗi và co rút bao khớp, viêm khớp sau chấn thương và viêm khớp nhiễm trùng trước đó. Một số bệnh
lý khác như thấp khớp thiếu niên và viêm cột sống dính khớp cũng gây ra cứng khớp sau mổ.
Trang 6ca cứng khớp sau mổ. Đái tháo đường và bệnh
lý phổi cũng ảnh hưởng đến tầm vận động sau
mổ(8,6,7). Thái độ tập luyện của bệnh nhân có vai
trò quan trọng trong phục hồi chức năng: bệnh
nhân chán nản hoặc ngưỡng đau thấp gây khó
khăn cho phục hồi tầm vận động khớp(2).
Ngoài ra các yếu tố khác như: tuổi, giới, béo
phì cũng ảnh hưởng đến tầm vận động khớp
sau mổ(11). Do hiễu rõ tầm quan trọng của phục
hồi chức năng sau phẫu thuật thay khớp, chúng
tôi đưa ra những lời khuyên và yêu cầu bệnh
nhân phải tuân thủ đúng chương trình phục hồi
chức năng, đặc biệt chú trọng việc tập sớm sau
mổ, trước khi xuất viện gối gấp 90° và gối duỗi
0° và tiếp tục chương trình phục hồi chức năng ở
nhà.
Trong lô nghiên cứu của chúng tôi, độ gấp
gối trung bình sau mổ là 103°. Kết quả này cũng
tương tự kết quả báo cáo của các tác giả khác.
Ranawat và cộng sự đã phẫu thuật 125 khớp gối,
độ gấp gối trung bình sau mổ là 111°(13), Nguyễn
Thành Chơn đã phẫu thuật 72 khớp gối, độ gấp
gối trung bình sau mổ là 102°(9).
Điểm khớp gối và điểm chức năng
khớp gối
Phẫu thuật thay khớp gối nhân tạo nhằm
mục đích giảm đau, phục hồi tầm vận động
khớp, phục hồi trục cơ học, tạo độ vững của
khớp gối và đặc biệt là cải thiện chất lượng
sống. Do đó, điểm khớp gối và điểm chức
năng khớp được cải thiện sau phẫu thuật thay
khớp nhân tạo. Điểm TB khớp gối 41,88 và
điểm chức năng khớp trước mổ 41,80 là rất
thấp, một phần do tâm lý sợ mổ, sức chịu
đựng đau và thời gian điều trị nội khoa kéo
dài của bệnh nhân, cho nên đến khi mổ nhiều
khớp gối đã bị hư nặng, biến dạng và giảm
chức năng nhiều làm ảnh hưởng đến kết quả
sau mổ. Tuy nhiên, điểm khớp gối và điểm
chức năng khớp được cải thiện rõ rệt, điểm
khớp gối 88,20 và điểm chức năng khớp 79,78,
do kỹ thuật mổ ngày càng hoàn thiện dần,
trong đó chú trọng đến cân bằng phần mềm và
cân bằng khoảng gấp tốt. Đặc biệt, vai trò của phục hồi chức năng có ý nghĩa quan trọng cho
sự thành công của phẫu thuật thay khớp nhân tạo.
Kết quả nghiên cứu của chúng tôi tương tự kết quả báo cáo của các tác giả khác. Ranawat và cộng sự đã phẫu thuật 125 khớp gối, điểm khớp gối trước mổ là 44 và điểm khớp gối sau mổ là
93(13), Nguyễn Thành Chơn(9) đã phẫu thuật 72 khớp gối, điểm khớp gối trước mổ là 50,6 và điểm khớp gối sau mổ 89,5.
Yếu tố ảnh hưởng phục hồi chức năng sau mổ
Tầm vận động trước mổ và điểm chức năng khớp sau mổ.Tầm vận động trước mổ giảm là một yếu tố nguy cơ quan trọng nhất ảnh hưởng đến cứng khớp gối sau mổ(8), giới hạn này có lẻ
do bộ máy duỗi và co rút bao khớp, viêm khớp sau chấn thương và viêm khớp nhiễm trùng trước đó. Một số bệnh lý khác như thấp khớp thiếu niên và viêm cột sống dính khớp cũng gây
ra cứng khớp sau mổ. Hơn nữa, Jordan và cộng
sự(6) đã báo cáo 17 ca thay khớp gối trên bệnh nhân bị bại liệt chỉ ra 2 ca cứng khớp sau mổ. Đái tháo đường và bệnh lý phổi cũng ảnh hưởng đến tầm vận động sau mổ(6,7,8). Thái độ tập luyện của bệnh nhân có vai trò quan trọng trong phục hồi chức năng: bệnh nhân chán nản hoặc ngưỡng đau thấp gây khó khăn cho phục hồi tầm vận động khớp(2).
Ritter và cộng sự(15) đã phẫu thuật 4227 khớp gối của 3066 bệnh nhân trong thời gian 15 năm cùng một bệnh viện. Ông đã sử dụng cùng một loại khớp nhân tạo cho tất cả các bệnh nhân. Ông nhận thấy mối tương quan rõ rệt giữa tầm vận động khớp gối trước mổ và tầm vận động khớp gối sau mổ. Những khớp gối bị hạn chế gấp gối trước mổ thì được cải thiện sau mổ, những khớp gối có tầm vận động trước mổ lớn hơn 120° thì tầm vận động sau mổ không cải thiện nhiều. Tuy nhiên, nếu khớp gối bị co rút nặng thì ảnh hưởng nhiều đến tầm vận động khớp gối sau mổ(15).Ngoài ra các yếu tố khác như: tuổi, giới, béo phì cũng ảnh hưởng đến tầm
Trang 7KẾT LUẬN
Phẫu thuật thay khớp gối nhân tạo là một
trong những phương pháp điều trị hiệu quả cho
những bệnh nhân bị thoái hóa khớp gối nặng ở
giai đoạn cuối, thay khớp gối nhân tạo làm giảm
đau, phục hồi chức năng khớp và cải thiện chất
lượng sống cho bệnh nhân.
Phục hồi chức năng đóng góp vai trò quan
trọng cho sự thành công của phẫu thuật thay
khớp gối nhân tạo.Tập vận động sớm không
đau đớn cải thiện được biên độ vận động khớp
sau mổ, tránh được các biến chứng thuyên tắc
mạch hay cứng khớp.Tầm vận động trước mổ có
ảnh hưởng đến kết quả chức năng khớp sau mổ.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 Bùi Hồng Thiên Khanh (2007). ʺThay khớp gối toàn phần (có
kết hợp xương, ghép xương) trên bệnh nhân thoái hóaʺ. Kỷ
yếu hội nghị thường niên chấn thương chỉnh hình Thành Phố Hồ
Chí Minh, tr. 81‐82.
2 Fisher DA, Watts MR, Davis K (2007). ʺLooks good but feels
bad: factors that contribute to poor results after total knee
arthroplastyʺ. J Arthroplasty 22(6 suppl 2), pp. 39–42.
3 Fitzgerald JD, Marcantonio ER, Poss R, Goldman L, et al
(2004). ʺPatient quality of life during the 12 months following
joint replacement surgeryʺ. Arthritis Rheum, 51: 100–109.
4 Gandhi R, Leone J, Petruccelli D, Winemaker M, Adili A
(2006). ʺPredictive risk factors for stiff knees in total knee
arthroplastyʺ. J Arthroplasty 21(21): 46–52.
5 Geerts WH, Pineo GF, et al (2008). ʺPrevention of venous
thromboembolism: American College of Chest Physicians
evidence‐based clinical practice guidelines (8th edition)ʺ.
Chest, 133(136 Suppl): 381–453.
6 Jordan L, Sculco TP (2007). ʺTotal knee arthroplasty in
patients with poliomyelitisʺ. J Arthroplasty; 22(4), p 543–548.
7 Meding JB, Keatng ME, Klay A, Ritter MA, Faris PM, Berend
ME (2003). ʺTotal knee replacement in patients with diabetesʺ.
Clin Orthop, 416: 208–216.
8 Nelson CH, Lotke PA (2005). ʺStiffness after total knee
arthroplastyʺ. J Bone Joint Surg. 87‐A(Supp81 Pt82): 264–270.
9 Nguyễn Thành Chơn (2011). ʺĐánh giá kết quả phẫu thuật thay khớp gối toàn phần điều trị thoái hóa khớp gối nặngʺ.
Luận án bác sĩ chuyên khoa II, tr 50‐65.
10 Nguyễn Văn Quang (2006). ʺSinh cơ học khớp gốiʺ. Tạp chí Y
học TPHCM. Chuyên đề Cơ Xương Khớp, Đại học Y Dược
TPHCM, tập 10 phụ bản số 12, tr.19‐13.
11 Nicoli DR (2007). ʺThe influence of age, gender and body mass index on knee society scores before and after total knee
replacementʺ. Journal of Bone and Joint Surgery. British. Vol 91‐
B,(Issue Supp 1,), pp. 71.
12 Parvizi J, Tarity TD, Steinbeck MJ, Politi RG, Joshi A, Purtill
JJ, Sharkey PF (2006). ʺManagement of stiffness following total
knee arthroplastyʺ. The Journal of Bone and Surgery, Volume 88
(4): 175‐181.
13 Ranawat CS (1997). ʺThe press‐fit condylar modular total knee system, four to six year results with a posterior‐cruciate
substituting designʺ. JBJS(A), 79: 342‐348.
14 Rissanen PA, Sintonen H, Slatis P, Paavolainen P (1996). ʺQuality of life and functional ability in hip and knee
replacements: a prospective studyʺ. Qual Life Res, 5: 56–64.
15 Ritter MA, Davis KE, Meding JB, Berend ME (2003). ʺPredicting range of motion after total knee arthroplasty. Clustering, log‐linear regression, and regression tree
analysisʺ. J Bone Joint Surg Am, 85‐A:1278–1285.
Ngày nhận bài báo: 30/10/2013 Ngày phản biện nhận xét bài báo: 18/11/2013 Ngày bài báo được đăng: 05/01/2014