1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Điều trị rò bàng quang - âm đạo bằng phẫu thuật nội soi qua ổ bụng tại Bệnh viện Chợ Rẫy

7 43 1

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 7
Dung lượng 408,87 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Rò bàng quang âm đạo là tai biến thường gặp trong can thiệp sản phụ khoa, bệnh ảnh hưởng lớn đến chất lượng cuộc sống của bệnh nhân. Nghiên cứu nhằm đánh giá tính hiệu quả và tính an toàn của phương pháp điều trị rò bàng quang âm đạo bằng phẫu thuật nội soi qua ổ bụng.

Trang 1

NỘI SOI QUA Ổ BỤNG TẠI BỆNH VIÊN CHỢ RẪY. 

Trần Trọng Trí*, Trần Ngọc Sinh*, Dương Quang Vũ*, Châu Quí Thuận*, Hoàng Khắc Chuẩn*,  

Nguyễn Thị Thái Hà*, Nguyễn Vĩnh Bình**, Nguyễn Đức Huy*, Thái Kinh Luân** 

TÓM TẮT 

Mở đầu và mục tiêu: Rò bàng quang – âm đạo là tai biến thường gặp trong can thiệp sản phụ khoa, bệnh 

ảnh hưởng lớn đến chất lượng cuộc sống của bệnh nhân. Chúng tôi đánh giá tính hiệu quả và tính an toàn của  phương pháp điều trị rò bàng quang âm đạo bằng phẫu thuật nội soi qua ổ bụng. 

Đối  tượng  ‐  phương  pháp  nghiên  cứu: Chúng tôi tiến hành điều trị rò bàng quang âm đạo bằng phẫu 

thuật nôi soi qua ổ bụng cho 39 trường hợp tại bệnh viện Chợ Rẫy từ tháng 10/2005 đến tháng 12/2011. Tuổi  trung bình là 45± 11 tuổi, thời gian mang bệnh trung bình là 31 ± 74 tháng, kích thước lỗ rò trung bình là 1,5 ±  0,6 cm. 

Kết quả: Thời gian phẫu thuật trung bình là 204 ± 105 phút, 4 trường hợp phải truyền máu lúc mổ, lượng 

máu mất trung bình là 182 ± 142 ml, thời gian hậu phẫu trung bình là 11 ±4 ngày. Tỷ lệ thành công là 87,2%. 

Kết  luận: Phẫu thuật nội soi ổ bụng vá rò bàng quang âm đạo là phương pháp điều trị ít xâm hại, hiệu 

quả,an toàn.Phương pháp này mang những ưu điểm của phẫu thuật nội soi vào điều trị dạng bệnh lý này.Phẫu  thuật sớm giúp xua đi nỗi đau về tâm lý và sớm chữa lành bệnh. 

Từ khóa: rò bàng quang âm đạo, điều trị rò bàng quang – âm đạo bằng phẫu thuật nội soi ổ bụng 

ABSTRACT 

LAPAROSCOPIC TRANSABDOMINAL TRANSVESICAL VESICOVAGINAL FISTULA REPAIR AT 

CHO RAY HOSPITAL 

Tran Trong Tri, Tran Ngoc Sinh, Duong Quang Vu, Chau Qui Thuan, Hoang Khac Chuan,  

Nguyen Thi Thai Ha, Nguyen Vinh Binh, Nguyen Duc Huy, Thai Kinh Luan  

* Y Hoc TP. Ho Chi Minh * Vol. 17 ‐ Supplement of No 3 ‐ 2013: 365 ‐ 371 

Background and purpose: A vesicovaginal fistula is a common complication of obstetric and gynecologic 

surgery.  It  impact  on  the  physical  and  psychological  quality  of  life.  We  studied  the  efficiency  and  safety  of  laparoscopic transabdominal transvesical vesicovaginal fistula repair. 

Patients  and  methods: We performed 39 cases of laparoscopic transabdominal transvesical vesicovaginal 

fistula repair at Cho Ray hospital between October 2005 and December 2011. The mean age is 45 ± 11, the time 

of surgery is 31 ± 74 months, and the mean size of vesicovaginal fistula is 1.5 ± 0.6 cm. 

Results: The mean operative time is 204 ± 105 minutes, 4 cases had to have a blood transfusion, the mean 

blood loss is 182 ± 142 ml, there is no postoperative complication, and the mean postoperative hospital stay is 11 

±4 days. The successful rate is 87.2%. 

Conclusions:  Laparoscopic  transabdominal  transvesical  vesicovaginal  fistula  repair  is  minimum  invasive 

surgery,  safe  and  efficient.  Laparoscopic  transabdominal  transvesical  vesicovaginal  fistula  repair  has  the  laparoscopic  advantages.  Repair  of  vesicovaginal  fistulae  should  be  as  expeditious  as  possible  to  minimize  the 

Tác giả liên lạc: BS CK2 Trần Trọng Trí    ĐT: 0918086162    Email: trantrongtricr70@gmail.com 

Trang 2

Key words: vesicovaginal fistula, laparoscopic transabdominal transvesical vesicovaginal fistula repair 

MỞ ĐẦU 

Rò bàng quang‐âm đạo (rò BQ‐ÂĐ) thường 

do  tai  biến  phẫu  thuật  (sau  đây  được  gọi  là  rò 

BQ‐ÂĐ do phẫu thuật), ngoài ra còn có nguyên 

nhân  khác  như  do  sanh  khó,  vết  thương  do  tai 

nạn, các bất thường bẩm sinh, vật lạ, bệnh lý ác 

tính, xạ trị(4,12)… . Trong đó nguyên nhân thường 

gặp nhất là do tai biến trong can thiệp sản phụ 

khoa(2).  Đây  là  một  trong  những  biến  chứng 

đáng lo ngại nhất của phẫu thuật sản phụ khoa. 

Rò BQ‐ÂĐ gây ra những ảnh hưởng lớn về 

tinh thần và sức khoẻ của người bệnh nói chung, 

gây  ra  những  ảnh  hưởng  tâm  lý  khó  chịu  làm 

giảm chất lượng cuộc sống(1,12). Bệnh nhân (BN) 

thường mang tâm lý nặng nề, mặc cảm do nước 

tiểu  rỉ  liên  tục  ra  quần  và  mùi  hôi  khó  chịu. 

Chính  vì  mặc  cảm  này  mà  nhiều  BN  đến  với 

thầy thuốc hàng chục năm sau khi khởi bệnh. 

Bệnh  thường  phải  can  thiệp  phẫu  thuật  vì 

điều trị bảo tồn hiếm khi mang lại kết quả thành 

công  như  mong  đợi.  Nhưng  thành  công  phẫu 

thuật không phải lúc nào cũng mỹ mãn. Ngoài 

ra,  theo  cổ  điển,  phẫu  thuật  viên  không  can 

thiệp khâu rò ngay, BN thường phải chờ đợi đến 

nhiều  tháng  khi  vết  thương  đã  “ổn  định”  mới 

tiến  hành  mổ  khâu  rò  (38).  Việc  điều  trị  phẫu 

thuật rò BQ‐ÂĐ là một trong những thách thức 

qua  nhiều  thập  niên.  Có  nhiều  phương  pháp 

được đặt ra gồm mổ mở kinh điển, phẫu thuật 

nội soi và ngày nay là phẫu thuật nội soi dưới sự 

hỗ trợ của robot(7,8). Có nhiều cách tiếp cận: qua 

ngã bụng, ngã âm đạo, xuyên bàng quang, hoặc 

kết hợp, chọn lựa phương pháp phẫu thuật nào 

tùy thuộc vào tay nghề và kinh nghiệm của từng 

phẫu thuật viên. 

Trong điều kiện nước ta hiện nay, số trường 

hợp tai biến này dường như có giảm đáng kể do 

những  tiến  bộ  đạt  được  trong  chuyên  ngành. 

Nhưng  cũng  do  phát  triển  chuyên  ngành  về 

phẫu  thuật  nội  soi  mà  có  thêm  dạng  lâm  sàng 

mới là rò BQ‐ÂĐ do phẫu thuật nội soi. 

Giá trị của phẫu thuật khâu rò rất to lớn vì  kết  quả  thành  công  không  những  giúp  BN  chữa lành bệnh mà còn xua đi mặc cảm tâm lý  nặng nề. 

Cũng  trong  điều  kiện  phát  triển  của  phẫu  thuật nội soi, với ưu thế ít xâm hại, không phải 

mở  lại  vết  mổ  cũ,  và  cũng  nhờ  ưu  điểm  này  chúng tôi không phải phá vết mổ chưa ổn định 

mà  vẫn  có  thể  can  thiệp  khâu  lỗ  rò  bằng  phẫu  thuật nội soi. 

ĐỐI TƯỢNG ‐ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 

Từ  tháng  10  năm  2005  đến  tháng  12  năm 

2011, tại bệnh viện Chợ Rẫy, chúng tôi tiến hành  phẫu  thuật  nội  soi  ổ  bụng  vá  rò  BQ‐ÂĐ  ở  các  trường  hợp  rò  thể  cao,  rò  không  phức  tạp.  Chúng tôi có 39 BN với các đặc điểm trước mổ  được liệt kê chi tiết ở Bảng 1. 

Bảng 1. Đặc điểm BN trước mổ. 

Thăm âm đạo phát hiện bất thường 31/36

Thuốc cản quang vào âm đạo trên hình ảnh chụp bàng quang có cản quang

1/1

Tất  cả  các  BN  nghiên  cứu  đều  được  khai  thác bệnh sử, tiền sử và khám lâm sàng đầy đủ  trước  mổ.  Chúng  tôi  thực  hiện  các  test  xanh  methylene  và  soi  bàng  quang  để  xác  định  rò,  chẩn  đoán  phân  biệt,  đánh  giá  vi  trí  và  kích  thước lỗ rò. BN được giải thích rõ về bệnh lý và  phương  pháp  phẫu  thuật  kể  cả  khả  năng  thất  bại sau mổ. Tất cả các trường hợp đều được gây 

mê nội khí quản, được theo rõi với máy gây mê 

Trang 3

có  monitor  theo  dõi.  BN  nằm  tư  thế  sản  phụ 

khoa hoặc nằm đầu thấp 30o. Máy gây mê ở phía 

đầu  BN.  Phẫu  thuật  viên  đứng  bên  trái  BN, 

người  phụ  đứng  đối  diện,  dụng  cụ  viên  đứng 

cùng bên phẫu thuật viên chính. Màn hình điều 

khiển (monitor) đặt ở phía, dưới 2 chân BN. 

Đưa thông niệu quản ngược dòng lên đến bể 

thận, thường chọn thông nòng niệu quản số 6‐7 

Fr, đặt lên cao 20 – 25cm, sau đặt kiểm tra xem 

nước  tiểu  có  ra  tốt  hay  không,  khi  cần  thiết 

chúng  tôi  di  chuyển  nòng  niệu  quản  sao  cho 

thông  nòng  hoạt  động  tốt.  Thông  niệu  quản 

được đặt trong suốt quá trình phẫu thuật và tiếp 

tục  lưu  thêm  24  –  48  giờ  sau  mổ  hoặc  lâu  hơn 

tùy trường hợp. 

Soi  bàng  quang  đưa  dây  hướng  dẫn  qua  lỗ 

rò xuống âm đạo, qua đó  từ  âm  đạo  đặt  thông 

Foley 10Fr hoặc to hơn tùy kích thước lỗ rò vào 

bàng quang, bơm bóng cố định Foley kéo xuống 

âm đạo. Một số trường hợp đầu chúng tôi tự chế 

một cuộn gạc tròn đặt trong bao cao su đưa vào 

âm đạo chèn vào lỗ rò để tránh xẹp bàng quang. 

Thường  chúng  tôi  cần  3  hoặc  4  trocar  tùy 

trường hợp. Vào trocar 10mm đầu tiên ở rốn, 1 

trocar  10  mm  ở  hố  chậu  phải  –  1  trocar  5  mm 

bên  đối  diện,  vị  trí  đặt  trung  điểm  của  đường 

giữa mào chậu và rốn. Nếu cần thiết đặt thêm 1 

trocar 5m trên xương mu. 

Thám  sát  ổ  bụng,  nếu  có  mạc  nối  bám  vết 

mổ  chúng  tôi  cắt  mạc  nối  dính.  Đưa  ruột  lên 

phía  trên  ổ  bụng,  tạo  khoang  trống  vùng  tiểu 

khung.  Treo  bàng  quang  lên  thành  bụng.  Bóc 

tách  mặt  sau  bàng  quang  và  âm  đạo.  Mở  phúc 

mạc túi cùng bàng quang âm đạo. 

Cắt mở bàng quang đi thẳng vào đường rò, 

sau  khi  vào  bàng  quang  nhìn  rõ  2  miệng  niệu 

quản  vì  đã  có  2  nòng  niệu  quản  được  đặt  vào 

bàng quang trước đó. Khi bóc tách vào đường rò 

ta  dễ  dàng  nhận  thấy  đường  rò  nhờ  có  thông 

Foley đã được đặt trước đó. Tiến hành tách mặt 

sau bàng quang và âm đạo thành hai lớp riêng 

biệt. Cắt lọc mô xơ chai hoặc hoại tử nếu có. 

Sau  khi  bóc  tách  2  lớp  âm  đạo  và  bàng 

quang rõ ràng, tiến hành khâu âm đạo và bàng 

quang 2 lớp riêng biệt bằng chỉ Vicryl 2.0, khâu  mũi rời hoặc mũi liên tục. 

Đặt  thông  niệu  đạo  –  bàng  quang  bằng  thông Foley 20 – 24 Fr, bơm rửa kiểm tra. Kiểm  tra  lại  ổ  bụng,  dẫn  lưu  cùng  đồ  Douglas,  khâu  lại lỗ trocar. 

Chúng  tôi  ghi  nhận  các  thông  số  như  thời  gian  mổ,  lượng  máu  mất,  các  tai  biến  và  biến  chứng có thể xãy ra, tỷ lệ thành công được đánh  giá  3  tháng  sau  mổ.  Xử  trí  số  liệu  bằng  phần  mềm Epi Info 3.5.1. 

KẾT QUẢ 

Thời  gian  mổ  trung  bình  là  204  ±  105  phút,  Tất  cả  các  trường  hợp  đều  được  thực  hiện  qua  nội soi ổ bụng, một trường hợp phải chuyển mổ 

mở  do  dính.  Có  3  trường  hợp  mất  máu  phải  truyền  trong  lúc  mổ,  chiếm  tỷ  lệ  12,1%,  các  tai  biến khác như thủng trực tràng, tổn thương niệu  quản  và  các  cơ  quan  lân  cận  không  ghi  nhận  trong  các  trường  hợp  nghiên  cứu.  Tỷ  lệ  thành  công là 34/39 trường hợp chiếm tỷ lệ 87,2%. 

Bảng 2. Kết quả phẫu thuật vá rò bàng quang âm đạo 

qua nội soi ổ bụng. 

Số ngày rút dẫn lưu cùng đồ Douglas

Số trường hợp biến chứng 0

BÀN LUẬN 

Về nguyên nhân sinh bệnh 

Nguyên nhân sinh bệnh của rò BQ‐ÂĐ khác  nhau ở từng vùng trên thế giới. Ở các nước phát  triển, hơn 75% trường hợp rò BQ‐ÂĐ là do tổn  thương  bàng  quang  trong  phẫu  thuật  sản  phụ  khoa, phẫu thuật niệu khoa và phẫu thuật vùng  chậu. Tổn thương do phẫu thuật đối với đường  niệu dưới thường gặp nhất là sau cắt tử cung, ở  các nước phát triển nguyên nhân gây rò BQ‐ÂĐ  còn do các bệnh lý ác tính, xạ trị vùng chậu, sang  chấn  sản  khoa.  Tỷ  lệ  tổn  thương  bàng  quang 

Trang 4

1%. Trong đó tỷ lệ rò xuất hiện sau cắt tử cung là 

0,1  –  0,2%.  Rò  bàng  quang  âm  đạo  sau  cắt  tử 

cung  thường  do  vô  tình  cắt  bàng  quang  gần 

mỏm  cụt  âm  đạo.  Nếu  không  nhận  biết  trong 

mổ, nang nước tiểu vùng chậu sẽ hình thành và 

sẽ được dẫn lưu một cách tự nhiên qua mỏm cụt 

và đường rò sẽ hình thành. 

Ở các nước đang phát triển, rò bàng quang– 

âm  đạo  thường  do  cuộc  chuyển  dạ  kéo  dài  do 

bất  xứng  giữa  đầu  thai  nhi  và  khung  chậu. 

Thành  âm  đạo,  bàng  quang,  cổ  bàng  quang  và 

đoạn niệu đạo gần cổ bàng quang bị chèn ép bởi 

thai nhi kéo dài gây thiếu máu nuôi và hoại tử. 

Những nguyên nhân khác gây rò BQ‐ÂĐ là 

do  dụng  cụ  niệu  khoa  hoặc  sản  phụ  khoa,  các 

phẫu thuật sau phúc mạc, mạch máu hoặc phẫu 

thuật  vùng  chậu,  các  bệnh  nhiễm  trùng  hoặc 

viêm, vật lạ, do bẩm sinh, sang chấn trong sinh 

hoạt tình dục(12)… 

Trong  nghiên  cứu  của  chúng  tôi,  nguyên 

nhân  sinh  bệnh  chủ  yếu  là  sau  cắt  tử  cung, 

chiếm 29/39 TH (74,4%), đứng thứ nhì là do mổ 

lấy thai chiếm 8/39 TH (20,5%), các nguyên nhân 

khác  như  dị  vật  bàng  quang…  chiếm  số  lượng 

nhỏ.  Bệnh  viện  chúng  tôi  là  bệnh  viện  tuyến 

trên,  nguồn  bệnh  chủ  yếu  từ  2  bệnh  viện  sản 

khoa  lớn  của  khu  vực  miền  Nam  (bệnh  viện 

Hùng  Vương,  bệnh  viện  Từ  Dũ  và  một  bệnh 

viện phía nam) nên nguyên nhân do phẫu thuật 

chiếm tỷ lệ tương đối lớn. Trường hợp dị vật là 

một BN nữ chưa có gia đình, 24 tuổi được bệnh 

viện  tỉnh  phẫu  thuật  với  chẩn  đoán  ban  đầu  là 

sỏi bàng quang, chẩn đoán sau mổ là dị vật âm 

đạo – bàng quang do BN thủ dâm, dị vật là một 

ống  nhựa  được  để  lâu  trong  âm  đạo  gần  một 

năm. 

Có một dạng lâm sàng mới  được  chúng  tôi 

ghi nhận là sau phẫu thuật nội soi ổ bụng đễ cắt 

tử  cung  gây  biến  chứng  rò  BQ  _  ÂĐ  4/39TH 

(10,3%). Biến chứng này thường xảy ra ở những 

trung tâm mớ bắt đầu triển khai phẫu thuật nội 

soi.Một  số  trường  hợp  chúng  tôi  ghi  nhận  có 

những  nơ  chỉ  khâu  trong  lòng  bàng  quang  khi 

soi bàng quang chúng tôi phát hiện. Có lẽ, ở lần 

mổ  trước  trong  khi  khâu  cầm  máu  phẫu  phuật  viên đã khâu nhằm vào bàng quang mà không  biết. Chưa có trường hợp nào được ghi nhận sỏi  bám nơ chỉ khâu. 

Thời điểm phẫu thuật 

Thời điềm để phẫu thuật vá rò BQ‐ÂĐ hiện  nay đang còn bàn cãi. Việc vá rò phải được tiến  hành  sớm  để  xua  đi  những  gánh  nặng  về  mặc  tâm  lý  mà  BN  đang  gánh  chịu,  đồng  thời  thời  điểm phẫu thuật phải được xem xét sao cho các  yếu  tố  phẫu  thuật  tốt,  thuận  lợi  cho  quá  trình  lành  sẹo  góp  phần  cho  phẫu  thuật  thành  công. 

Đa  số  quan  điểm  đồng  tình  nên  phẫu  thuật  trì  hoãn 3‐ 6 tháng sau cuộc sinh khó để việc phân  định  giữa  mô  lành  và  mô  hoại  tử  rõ  rệt,  hiện  tượng phù nề và quá trình viêm ổn định. Đối với  các lỗ rò do xạ trị thời gian trì hoãn nên kéo dài 6  – 12 tháng. 

Tuy nhiên, trong những thập niên gần đây,  mặc dù những giả thuyết trì hoãn được đưa ra,  các  đường  rò  đơn  giản  có  thể  được  phẫu  thuật  tạo  hình  sớm  ngay  khi  được  chẩn  đoán(3),  điều  này có ý nghĩa rất lớn vì nó giải tỏa sớm tâm lý  nặng  nề  của  BN.  Tuy  nhiên  trong  một  vài  trường  hợp,  thời  điểm  phẫu  thuật  tốt  nhất  tùy  vào  từng  BN  cụ  thể  (Blaivas  và  cộng  sự,  1995).  Raz và cộng sự (1993) khuyến cáo rằng những lỗ 

rò không phức tạp sau cắt tử cung ngã bụng có  thể phẫu thuật ngay nếu có khả năng phẫu thuật  qua  ngã  âm  đạo.  Tuy  nhiên  trong  một  vài  trường hợp sau cắt tử cung ngã âm đạo cần phải  chờ  đợi  2  –  3  tháng  mới  phẫu  thuật.Ngược  lại,  nếu  phải  tạo  hình  qua  ngã  bụng  sau  một  cuộc  phẫu  thuật  vùng  bụng  đặc  biệt  khó  khăn,  nên  chờ  đợi  một  thời  gian  để  hiện  tượng  viêm  ổn  định. Nên khám âm đạo định kỳ mỗi 1 – 2 tuần 

để  kiểm  tra  mô  âm  đạo  và  có  kế  hoạch  phẫu  thuật vào thời điểm thích hợp (Carr và Webster,  1996). 

Tiếp  cận  qua  ngã  âm  đạo  có  thể  được  tiến  hành  2  –  3  tuần  sau  thương  tổn  ban  đầu  nếu  điều trị bảo tồn thất bại và BN có thể trạng tốt. 

Mô  âm  đạo  thường  không  bị  biến  đổi  do  lần 

Trang 5

qua ngã bụng. 

Trong  nghiên  cứu  của  chúng  tôi,  có  13/39 

trường  hợp  (33,3%)  được  phẫu  thuật  sớm  (<  1 

tháng), nhìn chung đa số BN (27/39 trường hợp 

chiếm  69,2%)  được  phẫu  thuật  trước  3  tháng, 

trường  hợp  được  mổ  sớm  nhất  là  10  ngày  sau 

mổ.Các trường hợp này đều thành công sau mổ, 

điều  này  một  lần  nữa  khẳng  định  quan  niệm 

những lỗ rò đơn giản có thể phẫu thuật sớm khi 

được  phát  hiện  và  vẫn  mang  đến  tỷ  lệ  thành 

công  cao.  Trong  tổng  số  39  trường  hợp  mổ  rò 

bang  quang  âm  đạo  28/39  (71,8%)  trường  hợp 

chung tôi mổ trước ba tháng chỉ có một trường 

hợp  thất  bại  chiếm  tỷ  lệ  3,6%  còn  lại  27/28 

(96,4%) cuộc mổ thành công. Do đó việc mổ sớm 

cho  bệnh  nhân  và  không  cần  chờ  đợi  một  lần 

nữa được khẳng định. 

Thời gian mổ 

Thời gian phẫu thuật trong nghiên cứu được 

tính  từ  lúc  bắt  đầu  soi  bàng  quang  đặt  thông 

niệu  quản  cho  đến  khi  kết  thúc  khâu  lại  các  lỗ 

trocar. Thời gian mổ trung bình của chúng tôi là 

204 ± 105 phút, ngắn nhất là 80 phút và dài nhất 

là 520 phút. So với các nghiên cứu từ năm 2008 

trở  về  trước,  chúng  tôi  nhận  thấy  thời  gian  mổ 

của  chúng  tôi  có  rút  ngắn  lại.  Tuy  nhiên,  hai 

nghiên cứu gần đây của Shah (2009)(13) và  Syed 

Jamal  Rizvi  (2010)(11) có  thời  gian  mổ  tương  đối 

ngắn là 145 phút. 

Thời gian mổ phụ thuộc nhiều vào tay nghề 

phẫu  thuật  viên,  kinh  nghiệm  phẫu  thuật  và 

mức  độ  khó  của  từng  ca  bệnh.  Trong  những 

trường hợp đầu tiên, thời gian mổ của chúng tôi 

tương  đối  dài,  có  trường  hợp  kéo  dài  đến  520 

phút, những ca về sau do rút được kinh nghiệm 

của  những  ca  ban  đầu  chúng  tôi  có  cải  tiến  kỹ 

thuật  như  đặt  Foley  vào  đường  rò  ngăn  cản 

thoát khí CO2 tránh làm hẹp phẫu trường, giúp 

việc bóc tách dễ dàng hơn, thời gian mổ cải thiện 

đáng  kể.  Trường  hợp  phẫu  thuật  có  thời  gian 

ngắn nhất của chúng tôi là 80 phút. 

Biến chứng 

Biến chứng là một thử thách của phẫu thuật 

mà  phẫu  thuật  viên  nào  cũng  phải  vượt  qua.  Một thủ thuật được gọi là thành công nếu phẫu  thuật đó mang đến kết quả tốt và không có biến  chứng. Qua 39 trường hợp ban đầu, chúng tôi có 

1  trường  hợp  phải  chuyển  mổ  mở  như  đã  nêu  trên. Bốn trường hợp chúng tôi cần phải truyền  máu, lượng máu truyền nhiều nhất là 1000ml và 

ít nhất là 350ml. Những trường hợp truyền máu 

là những trường hợp  khó,  do  dính  nhiều,  lỗ  rò  lớn  phức  tạp  khiến  thời  gian  mổ  kéo  dài  và  lượng máu mất nhiều hơn. Các biến chứng như  tổn  thương  niệu  quản,  tổn  thương  cơ  quan  lân  cận không ghi nhận. So sánh với các tác giả khác  trên thế giới chúng tôi nhận thấy biến chứng vẫn 

có  thể  xảy  ra.  Sotelo  (2005)  có  1  trường  hợp  thủng ruột lúc vào trocar do dính và có 1 trường  hợp  chảy  máu  do  tổn  thương  động  mạch  thượng vị dưới khi vào trocar, trường hợp chảy  máu  này  phải  cầm  máu  bằng  dụng  cụ  Carter‐ Thomason  và  ổn.  Một  số  tác  giả  chủ  động  chuyển  mổ  mở  tránh  kéo  dài  thời  gian  mổ  do  cuộc  mổ  khó,  tránh  các  biến  chứng  do  mổ  nội  soi lâu (Otsuka), một số tác giả chuyển sang mổ 

hở  do  dính.  Biến  chứng  nhiễm  trùng  cũng  ghi  nhận trong các nghiên cứu. 

Nhìn  chung,  tỷ  lệ  biến  chứng  vẫn  xảy  ra  ở  các  nghiên  cứu,  để  khắc  phục  các  biến  chứng  này,  cần  chú  ý  nhận  định  khi  vào  trocar  tránh  tổn thương động mạch thượng vị, vào trocar hở  nếu nghi ngờ dính ruột, chủ động chuyển mổ hở  nếu bóc tách  khó  khăn,  tránh  kéo  dài  thời  gian 

mổ,  giảm  thiểu  lượng  máu  mất  và  tránh  tổn  thương các cơ quan lân cận. 

Tỷ lệ thành công 

Tỷ  lệ  thành  công  nói  lên  mức  độ  thành  công của một phương pháp phẫu thuật, trong  nghiên  cứu  của  chúng  tôi  một  trường  hợp  chuyển  mổ  mở,  còn  lại  38  trường  hợp  được  phẫu  thuật  nội  soi  qua  ổ  bụng  vá  rò,  có  34  trường  hợp  thành  công  sau  mổ  chiếm  tỷ  lệ  87,2%. Nhìn chung so với tỷ lệ thành công của  các  tác  giả  khác  trên  thế  giới  là  tương  đương. 

Trang 6

Eilber  và  cộng  sự  nhấn  mạnh  cách  tiếp  cận, 

ông khuyến cáo phẫu thuật viên nên chọn cách 

tiếp cận nào thuận lợi và quen thuộc với mình 

nhất nhằm đem lại tỷ lệ thành công cao(11). Tỷ 

lệ thành công phụ thuộc vào tính chất, nguyên 

nhân  gây  rò  và  tay  nghề  của  phẫu  thuật 

viên.Theo y văn, tỷ lệ thành công dao động từ 

65%  đến  100%(12).  Những  nguyên  tắc  phẫu 

thuật cần lưu ý để quyết định tính thành công 

của phẫu thuật được Turner‐Warwick (1986)(16) 

mô  tả  bao  gồm:  đánh  giả  tỉ  mỉ  trước  mổ  loại 

trừ những lỗ rò phức tạp, tách riêng biệt thành 

của  bàng  quang  và  thành  của  âm  đạo,  cắt  bỏ 

mô chết và khâu lại đảm bảo cho mô không bị 

căng. 

Người  đầu  tiên  mô  tả  phương  pháp  vá  rò 

BQ‐ÂĐ qua phẫu thuật nội soi ổ bụng là Nezhat 

(1994)  (30),  ông  nhấn  mạnh  6  nguyên  tắc  trong 

phẫu thuật nội soi giúp vá rò thành công là: (1) 

bộc lộ lỗ rò và mô xung quanh đủ rộng, (2) cắt 

lọc hết các mô xơ, (3) khâu không bị căng và tưới 

máu tốt, (4) sử dụng đúng loại chỉ khâu, (5) chèn 

vào giữa những loại mô khác nhau như mạc nối, 

phúc mạc… sao cho chỗ khâu bàng quang cách 

xa lỗ rò, (6) dẫn lưu bàng quang tốt sau mổ. Qua 

các  trường  hợp  phẫu  thuật  chúng  tôi  ghi  nhận 

được nếu càng tôn trọng những nguyên tắc trên 

thì khả năng thành công càng cao. 

Bảng 3: So sánh tỷ lệ thành công trong nghiên cứu 

với các tác giả khác trên thế giới. 

chuyển mổ mở)

TH chuyển mổ mở)

Với  tỷ  lệ  thành  công  như  trên,  có  thể  nói 

phẫu thuật vá rò BQ‐ÂĐ qua nội soi ổ bụng có 

tỷ  lệ  thành  công  tương  đương  các  tác  giả  khác 

trên  thế  giới  và  có  thể  áp  dụng  an  toàn  trong  điều kiện thực tiễn. 

KẾT LUẬN 

Phẫu thuật nội soi ổ bụng điều trị rò BQ‐ÂĐ 

là phương pháp hiệu quả, an toàn, mang những  lợi  điểm  của  phẫu  thuật  nội  soi  vào  điều  trị  rò  BQ‐ÂĐ  và  hoàn  toàn  có  thể  thực  hiện  được  trong điều kiện thực tiễn. 

Thời  gian  chờ  đợi  phẫu  thuật  là  không  cần  thiết  đối  với  những  lỗ  rò  đơn  giản,  phẫu  thuật  sớm giúp xua đi nỗi đau về mặt tâm lý và sớm  chữa lành bệnh. Tỷ lệ thành công, tai biến, biến  chứng nhìn chung không có sự khác biệt so với  các  nghiên  cứu  khác  trên  thế  giới.  Đây  là  loạt  nghiên cứu điều trị rò BQ‐ÂĐ bằng phẫu thuật  nội  soi  ổ  bụng  có  cỡ  mẫu  lớn  nhất  so  với  các  nghiên cứu đã được công bố trên y văn. 

TÀI LIỆU THAM KHẢO 

1 Ahmad S, Nishtar A, Hafeez GA, Khan Z (2005), Management 

of  vesico‐vaginal  fistula  in  women.Int  J  Gynaecol  Obstet;  88,  pp.71‐75. 

2 Angoli  R,  Penalver  M,  Muzii  L,  et  al.  (2003),  Guildelines  of  how to manage vesico‐vaginal fistula.Crit Rev Oncol Hemato:  48(3): pp.295‐304 

3 Blaivas  JG,  Heritz  DM,  Romanzi  LI  (1995),  Early  versus  late  repair  of  vesicovaginal  fistula:  Vaginal  and  abdominal  approaches. J Urol; 153: 1110‐3. 

4 Chapple  C,  Turner‐Warwick  R  (2005).  Vesico‐vaginal  fistula.  BJU Int; 95(1):pp.193‐214. 

5 Chau  SO,  Facog  MDH,  Huang  U,  et  al  (2004),  Laparoscopic  repair  of  vesicovaginal  fistula.  Journal  of  laparoscopic  and  advanced surgical technique, Volume 14, No. 1:pp: 17 ‐ 21 

6 Dercy Jal Chibber, Hemendra Pritesh Jain (2005), Laparoscopic  O’Conor  repair  for  vesico‐vaginal  and  vesico‐uterine  fistula.BJU International 96: 1, 183 – 186 (Gross Reef). 

7 Hemal AK, Kolla SB, Wadhwa P (2008). Robotic reconstruction  for  recurrent  supratrigonal  vesicovaginal  fistulas.J  Urol.  Sep; 

180 (3). 

8 Melamud  O,  Eichel  L,  Turbow  B,  Shanberg  A  (2005)  Laparoscopic  vesicovaginal  fistula  repair  with  robotic  reconstruction.Urology Vol. 65 Issue 1. pp: 163 ‐ 166 

9 Nezhat  CH,  Nezhat  F,  Nezhat  C,  Rottenberg  H  (1994),  Laparoscopic  repair  of  a  vesicovasginal  fistula  a  case  report.Obstet Gynecol, 83 (5 pt2): 859 – 901. 

10 Otsuka  RAP  (2008)  Laparoscopic  Repair  of  Vesicovaginal  Fistula Journal of Endourology, pp525‐528 

11 Rizvi SJ, Gupta R, Patel S, Trivedi A, Trivedi P, Modi P (2010),  Modified laparoscopic abdominal vesico‐vaginal fistula repair  –  Mini‐O’Conor  Vesicotomy,  Journal  of  Laparoendoscopic  &  advanced surgical techniques. Vol 20(1). pp: 13 ‐ 15 

12 Rovner  ES  (2007),  Urinary  tract  fistula,  Campbell  Walsh,  Urology 9th, 2322 – 2360. 

Trang 7

13 Shah  SJ,  Desai  KD,Shukla  KD,Jain  N,Nath  AK,Bajaniya  S 

Vesicovaginal  Fistula  repair,  Journal  of  Endourology,  vol  23 

(7),pp.1135‐1137 

14 Sotelo  R  (2005),  Laparoscopic  repair  of  vesicovaginal 

fistula.The Journal of Urology, 173 (5): 1615 – 8,  

15 Tiong HY, Shim T, Lee YM, Tan JK (2007) Laparoscopic repair 

of vesicovaginal fistula International urology and nephrology, 

vol 39 (4) pp: 1085 ‐ 90 

16 Wang W. Hadley HR (1990), Nondelayed transvaginal repair 

of high‐lying vesicovaginal fistula.J Urol: 144: 34 – 6. 

17 Wong  C,  (2006)  Laparoscopic  Transadominal  Transvesical  Vesicalvaginal  Fistula  Repair  Journal  of  Endourology,  vol  20  (4) pp240‐243 

 

 

Ngày đăng: 21/01/2020, 23:55

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w