1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Tỷ lệ và mức độ trầm trọng của tình trạng mòn ngót răng ở một nhóm người Việt Nam trưởng thành

5 94 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 5
Dung lượng 273,73 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nội dung bài viết với mục tiêu nghiên cứu thực hiện để bước đầu khảo sát tỷ lệ mòn răng và mức độ trầm trọng của do acid ở một nhóm người Việt Nam trưởng thành. Mời các bạn cùng tham khảo bài viết để năm thêm chi tiết.

Trang 1

TỶ LỆ VÀ MỨC ĐỘ TRẦM TRỌNG CỦA TÌNH TRẠNG MÒN NGÓT RĂNG

Ở MỘT NHÓM NGƯỜI VIỆT NAM TRƯỞNG THÀNH

Trần Thu Thuỷ*, Trần Đức Thành*, Nguyễn Thị Thanh Hà*

TÓM TẮT

Mở đầu: Răng bị mòn ngót do acid (dental erosion) là một tình trạng mất chất mô răng không do sâu liên

quan đến nhiều yếu tố trong đó đáng kể là lối sống Tình trạng này hiện đang được nghiên cứu rộng rãi ở các nước đã phát triển Cùng với sự phát triển kinh tế xã hội, lối sống của người Việt nam cũng đang dần thay đổi với việc các loại nước giải khát và thực phẩm chế biến sẵn có tiềm năng gây mòn ngót răng ngày càng phổ biến trên thị trường Tuy nhiên cho đến nay dường như vấn đề này vẫn chưa nhận được sự quan tâm đúng mức của giới chuyên môn, cả về mặt lâm sàng cũng như phương diện sức khoẻ cộng đồng Chưa có số liệu báo cáo chính thức nào về tình trạng mòn ngót răng Liệu đây có phải là vấn đề sức khoẻ răng miệng cộng đồng thực sự đáng quan tâm?

Mục tiêu: Nghiên cứu thực hiện để bước đầu khảo sát tỷ lệ mòn răng và mức độ trầm trọng của do acid ở

một nhóm người Việt Nam trưởng thành

Đối tượng và Phương pháp: Sinh viên được khám đánh giá tình trạng mòn ngót răng do acid bằng chỉ số

Basic erosive Wear Examination (BEWE) 301 sinh viên năm thứ 1 Đại học Y Dược thành phố Hồ Chí Minh, tuổi trung bình 29 (23-43), tham gia nghiên cứu

Kết quả: Kết quả cho thấy 31,9% không có dấu hiệu của mòn ngót răng và 68,1% bị mòn ngót răng Về mức

độ, trong số sinh viên bị mòn ngót răng hơn một nửa (57,8% ở mức độ nhẹ (BEWE 1), 28,5 % ở mức độ trung bình (BEWE 2) và có 15,7% ở mức độ năng (BEWE 3) Đa số các ghi nhận mòn ngót răng trên các răng cửa ở mức độ nhẹ (83,5% ở hàm trên, 65,7% hàm dưới) Đối với răng sau, thường gặp nhất là răng số 6 Không có sự khác biệt cả về tỷ lệ và mức độ trầm trọng giữa nam và nữ

Kết luận: Các kết quả bước đầu cho mòn ngót răng không phải là tình trạng hiếm gặp ở mẫu nghiên cứu, có

nguy cơ ảnh hưởng sức khoẻ răng miệng, là một tình trạng cần được quan tâm đúng mức cả về mặt thực hành lâm sàng lẫn sức khoẻ cộng đồng

Từ khoá: Mòn ngót răng

ABSTRACT

PREVALENCE AND SEVERITY OF DENTAL EROSION AMONG A GROUP OF VIETNAMESE

ADULTS

Tran Thu Thuy, Tran Duc Thanh, Nguyen Thi Thanh Ha

* Y Hoc TP Ho Chi Minh * Vol 19 - Supplement of No 2 - 2015: 176 - 180

Background: Dental erosion is a multifactorial condition involved lifestyle and the subject of extensive

research in developed countries Vietnamese lifestyle has been changing with the increase of soft drinks and acidic foods available in the market However this condition still is of no interest to both clinical dental practice and dental public health Is this really a concerned condition in Vietnamese?

Objectives: This is the first study on erosive dental wear to assess the prevalence and the severity of a group

of Vietnamese adults

* Bộ môn NKCC - Khoa RHM, Đại học Y Dược TP.HCM

Tác giả liên lạc: TS Trần Thu Thủy ĐT: 0913115959 Email: tranthuthuyrhm@yahoo.com

Trang 2

Methods: First-year students of the Ho Chi Minh University of Medicine and Pharmacy were invited to

participate Students were interviewed about their dietary habits and knowledge of dental erosion Three examiner recorded caries and periodontal status and one examiner recorded dental erosion using the Basic erosive Wear Examination (BEWE)

Results: 107 male and 194 female participated in both the interview and dental examination The student’s

mean age was 29 (23-43) Of the 301 individuals examined, 31.9% showed no signs of erosion and 68.1% presented dental erosion Regarding severity, mild erosion (BEWE scores 1) was observed in more than a half of students (57.8%) while BEWE score 2 and BEWE score 3 (severe erosion) was 28.5% and 15.7% respectively Most of erosions observed on anteriors were score 1 (83.5% upper and 65.7% lower anteriors) In posteriors the first molars were the most often affected There was no significant different in both prevalence and severity between gender

Conclusion: The results suggested that erosive dental wear is a concerned condition for Vietnamese clinical

dental practice and dental public health

Key words: Dental erosion

ĐẶT VẤN ĐỀ

Tuổi thọ con người càng tăng thì nhu cầu và

thách thức để duy trì hàm răng khỏe mạnh và

chức năng càng tăng Trước đây khi nói đến duy

trì sức khỏe răng miệng người ta thường chỉ chú

ý đến việc đối phó với bệnh sâu răng, một bệnh

nằm trong số những bệnh phổ biến nhất ở loài

người Các loại tổn thương mất chất mô răng

khác không do sâu răng trong đó có mòn ngót

răng do acid (dental erosion) ít được hay thậm

chí là không được quan tâm đến Răng bị mòn

ngót do acid là một tình trạng mất chất mô răng

liên quan đến nhiều yếu tố trong đó đáng kể là

lối sống Cùng với việc giảm tỷ lệ và mức độ

trầm trọng của sâu răng ở các nước công nghiệp

hóa thì mòn ngót răng do acid trở thành thách

thức mới cho giới chuyên môn Nhận thức về tác

động của mòn ngót răng đến sức khỏe răng

miệng đã thay đổi Năm 1995 ấn bản đặc biệt

“Etiology, mechanisms and implications of

dental erosions” của tạp chí European Juornal of

Oral Science được xuất bản Kể từ đó mòn ngót

răng đã nhận được sự quan tâm thích đáng ở các

nước đã phát triển, trong cả lãnh vực nghiên cứu

rộng lẫn ứng dụng lâm sàng Số lượng bài báo

công bố tăng đáng kể, từ 5 bài/năm trong thập

niên 1970 đến 10 bài/năm ở những năm 1980 và

hiện này là trên 50 bài công bố/nămtừ các lãnh

vực dịch tễ học, lâm sàng, đến các vật liệu và sản phẩm chăm sóc sức khoẻ(5)

Sự gia tăng đáng kể mòn ngót răng được cho

là có liên quan nhiều đến sự thay đổi lối sống(5) Cùng với sự phát triển kinh tế xã hội, lối sống của người Việt nam cũng đang dần thay đổi với việc các loại nước giải khát và thực phẩm chế biến sẵn có tiềm năng gây mòn ngót răng ngày càng phổ biến trên thị trường Tuy nhiên cho đến nay dường như vấn đề này vẫn chưa nhận được sự quan tâm đúng mức của giới chuyên môn, cả về mặt lâm sàng cũng như phương diện sức khoẻ cộng đồng Chưa có số liệu báo cáo chính thức nào về tình trạng mòn ngót răng Liệu đây có phải là vấn đề sức khoẻ răng miệng cộng đồng thực sự đáng quan tâm? Nghiên cứu thực hiện để bước đầu khảo sát tỷ lệ mòn răng

do acid và mô tả mức độ trầm trọng của mòn ngót răng do acid ở một nhóm người Việt Nam trưởng thành

ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP

Nghiên cứu cắt ngang mô tả thực hiện trên sinh viên Đại học Y Dược Tp.HCM Đề cương nghiên cứu đã được Hội đồng Y đức của Đại Học Y Dược Tp.HCM thông qua Sinh viên liên thông năm thứ nhất (năm học 2013-1014) được mời tham gia nghiên cứu Người đồng ý tham gia nghiên cứu được khám đánh giá tình trạng sức khỏe răng miệng (WHO, 1997) và tình trạng

Trang 3

mòn ngót răng do acid (dental erosion) Nhóm

khám gồm 3 giảng viên bộ môn Nha khoa công

cộng và đã được tập huấn Thông tin một số yếu

tố liên quan đến mòn ngót răng (sức khoẻ chung

và sức khoẻ răng miệng, thói quen chăm sóc

răng miệng, thói quen ăn uống, nguồn thông tin

hướng dẫn cách ăn uống lành mạnh, hoạt động

thể thao) được thu thập qua bảng câu hỏi phỏng

vấn Phạm vi báo cáo này chỉ trình bày tình trạng

mòn ngót răng trong mẫu khảo sát

Khám lâm sàng được thực hiện trên ghế nha

khoa dưới ánh sáng đèn, có lau khô khi cần thiết

Tình trạng mòn ngót răng được đánh giá bằng

chỉ số Basic Erosive Wear Examination (BEWE)(1)

Chỉ số BEWE gồm bốn mức độ từ 0 tới 3: 0-

Không có mòn răng, 1- Bắt đầu mất kết cấu bề

mặt men, 2- Tổn thương dễ dàng nhận thấy và

liên quan dưới 50% diện tích bề mặt, 3- Mô cứng

mất trên 50% diện tích bề mặt BEWE 2 và BEWE

3 thường tổn thương mòn ngót đã vào tới mô

ngà răng Các trường hợp có dấu chứng mòn

ngót đều được chụp hình ghi nhận

Xử lý số liệu: Số liệu thu thập được nhập

bằng phần mềm Epi Data 3.1 và xử lý thống kê

với phần mềm SPSS 17

KẾT QUẢ VÀ BÀN LUẬN

Mẫu nghiên cứu gồm 301 sinh viên năm thứ

nhất hệ liên thông, 194 nữ và 107 nam Tuổi

trung bình của mẫu nghiên cứu là 29 (biên độ từ

23-43 tuổi) Đây là khảo sát đầu tiên về tình trạng

mòn ngót răng do acid trên người trưởng thành

ở Việt nam, vì thế đối tượng nghiên cứu được

chọn là nhóm sinh viên hệ liên thông ít nhất đã

tốt nghiệp một hệ đào tạo đại học và có thể đã đi

làm một vài năm Mẫu này có độ tuổi tương đối

tương đương với nhóm người trưởng thành hơn

là nhóm sinh viên năm nhất thường quy mới

trúng tuyển với độ tuổi trẻ từ 17-20

Về tỷ lệ, có 30,9% đối tượng không có dấu

hiệu mòn ngót răng và 69,1% có biểu hiện mòn

ngót răng Mulic báo cáo tỷ lệ mòn ngót là 54% ở

sinh viên Đại học Oslo tuổi từ 18-35(7) Tỷ lệ mòn

ngót răng của sinh viên Malaysia là 68%(6), khá

tương đồng với sinh viên ĐHYD Tp.HCM Số liệu về tỷ lệ bị mòn ngót răng trên thế giới dao động với biên độ khá rộng, theo báo cáo tổng hợp của Jaeggi và Lussi tỷ lệ này là từ 4-100% ở người trưởng thành (18-88 tuổi)(4) Việc so sánh

tỷ lệ giữa các nghiên cứu khác nhau trên thế giới cho đến nay không được thuận lợi lắm do không đồng nhất về chỉ số đánh giá hoặc tuổi của mẫu nghiên cứu Tuy vậy, với hai phần ba đối tượng

có dấu hiệu của mòn ngót răng cho thấy mòn ngót răng khá phổ biến ở mẫu nghiên cứu trên sinh viên Đại học Y Dược Tp.HCM

Biểu đồ 1: Mức độ trầm trọng của tình trạng mòn

ngót răng

Biểu đồ 1 mô tả tỷ lệ mòn ngót răng trong mẫu sinh viên theo mức độ của tổn thương Về mức độ, trong số sinh viên bị mòn ngót răng hơn một nửa (57,8%) ở mức độ nhẹ (BEWE 1), 28,5 %

ở mức độ trung bình (BEWE 2) và có 15,7% ở mức độ nặng (BEWE 3) Các số liệu này khá tương đồng với báo cáo về tình trạng mòn ngót răng của sinh viên Đại học Oslo (18-35 tuổi) với 54% có ít nhất 1 răng bị mòn ngót, 24% sang thương trong phạm vi men răng và 30% sang thương đã tiến triển vào ngà răng(7)

Hình 1 trình bày hình ảnh lâm sàng các mức

độ mòn ngót ghi nhận trên mẫu nghiên cứu Mức độ nặng (BEWE 3) hầu hết xảy ra ở mặt nhai răng cối lớn Mức độ nhẹ thường gặp ở nhóm răng cửa (83,7% răng cửa hàm trên và 65,7% răng cửa hàm dưới) Mòn ngót răng do acid diễn tiến âm thầm, ở giai đoạn khởi đầu hầu như không có triệu chứng Những thay đổi bề mặt răng gia đoạn đầu thường (bề mặt răng mất lớp kết cấu bề mặt, răng có hình ảnh sáng lóng lánh như lụa) dễ bị bỏ qua Vì vậy vai trò của bác

sĩ răng hàm mặt rất quan trọng để nhận diện những dấu hiệu ban đầu, chẩn đoán, theo dõi và

Trang 4

xử lý để ngăn ngừa sự mất chất mô răng tiến

triển tiếp tục

Hình 1: Hình ảnh lâm sàng mòn ngót răng (từ trái

sang phải): Bắt đầu mất cấu trúc bề mặt, men răng

bóng láng như lụa (BEWE1); Mòn ngót mất chất

dưới 50% diện tích bề mặt (BEWE2); Mòn ngót tiến

triển sâu tới lớp ngà răng trên 50% diện tích mặt

nhai (BEWE3)

Phân bố theo vị trí, mòn ngót răng ghi

nhận được ở trên tất cả các mặt răng, thường gặp

ở mặt nhai và mặt má của răng cối hàm trên và

hàm dưới, mặt má răng cửa hàm trên Trong

nghiên cứu chỉ ghi nhận 3 trường hợp mòn ngót

mặt khẩu cái răng cửa trên và đều ở mức độ

BEWE 1 Mòn ngót răng thường gặp nhất là ở

mặt nhai răng cối lớn, đặc biệt là răng cối lớn thứ

1, đặc điểm phân bố vị trí tương tự như các ghi

nhận trong y văn(2,3,8) Vị trí thường gặp tiếp theo

là mặt ngoài răng cửa hàm trên Các trường hợp

BEWE 3 đều ở mặt nhai răng cối lớn Nhìn

chung ghi nhận về phân bố vị trí mòn ngót và độ

trầm trọng trong nghiên cứu này tương tự các ghi nhận trong y văn(4)

So sánh giữa nam và nữ, không thấy sự khác biệt theo giới ở cả tỷ lệ và mức độ trầm trọng của mòn ngót răng (Bảng 1) Theo tổng hợp của Jaeegi và Lussi từ các số liệu có được tỷ

lệ mòn ngót răng ở nam hơi cao hơn nữ(4)

Bảng 1: Tỷ lệ và mức độ mòn răng theo giới

KẾT LUẬN

Ghi nhận tình trạng mòn ngót răng do acid ở 69% cá thể trong nhóm khảo sát cho thấy đây là một tình trạng khá phổ biến trong mẫu khảo sát Không có sự khác biệt giữa nam và nữ về tỷ lệ cũng như mức độ mòn ngót

Mòn ngót gặp ở đủ các mặt răng: mặt nhai, mặt má, mặt lưỡi Vị trí hay gặp mòn ngót nhất

là mặt nhai răng cối lớn, kế đến là mặt ngoài răng cửa hàm trên Vị trí ghi nhận tổn thương nặng nhất (BEWE 3) thường ở mặt nhai răng cối lớn thứ 1 Đa số các tổn thương mòn ngót ở răng cửa đều ở mức độ nhẹ (BEWE 1)

Các kết quả bước đầu cho mòn ngót răng không phải là tình trạng hiếm gặp ở mẫu nghiên cứu, có nguy cơ ảnh hưởng sức khoẻ răng miệng Đây chỉ là một nghiên cứu khảo sát bước đầu, cần có các nghiên cứu tiếp tục trên trên nhiều phương diện trong lãnh vực này Đồng thời hy vọng các số liệu ban đầu này sẽ tạo được

sự quan tâm của giới chuyên môn, hướng tới duy trì và gia tăng sức khoẻ răng miệng cho cộng đồng

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Bardlett D, Ganss C, Lussi A (2008) Basic erosive wear examination (BEWE): a new scoring system for scientific and

clinical needs Clin Oral Invest, 12(Suppl 1):S65–S68

2 El Aidi H, Bronkhorst EM, Truin GJ (2008) A longitudinal study

of tooth erosion in adolescents J Dent Res, 7: 731-735

Trang 5

3 Ganss C, Klimek J, Giese K (2001) Dental erosion in children

and adolescents-a cross-sectional and longitudinal investigation

using study models Community Dent Oral Epidemiol; 29: 264-271

4 Jaeggi T, Lussi A (2014) Prevalence, incidence and distribution

of erosion In: Lussi A Erosive Tooth Wear, Monogr Oral Sci., vol

25, 55-73 Karger, Basel

5 Lussi A (2014) Erosive Tooth Wear – A Multifactorial Condition

of Growing Concern and Increasing Knowledge In: Lussi A,

Erosive Tooth Wear, Monogr Oral Sci vol 25, 1–8 Karger, Basel

6 Manaf ZA et al (2012) Relationship between food habits and

tooth erosion occurrence in Malaysian University students

Malays J Med Sci 2012, Apr 19(2):56-66

7 Mulic A (2012) On dental erosive wear among different groups

in Norway Doctoral thesis, 10-13 The Faculty of Dentistry, University of Oslo, Norway

8 Rodriguez JM, Austin RS, Bartlett DW (2012) In vivo

measurements of tooth wear over 12 months Caries Res; 46: 9-15

Ngày phản biện nhận xét bài báo: 26/02/2015 Người phản biện: TS Ngô Đồng Khanh Ngày bài báo được đăng: 10/04/2015

Ngày đăng: 21/01/2020, 23:46

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w