1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Kết quả điều trị không phẫu thuật chấn thương thận kín nặng tại Bệnh viện Nhân Dân 115

6 49 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 6
Dung lượng 384,51 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nghiên cứu được tiến hành với mục tiêu nhằm đánh giá kết quả thực tế của việc điều trị không phẫu thuật chấn thương thận kín nặng tại bệnh viện Nhân Dân 115 trong 3 năm từ 1/2007 đến 12/2009. Mời các bạn cùng tham khảo bài viết để nắm rõ nội dung chi tiết.

Trang 1

KẾT QUẢ ĐIỀU TRỊ KHÔNG PHẪU THUẬT CHẤN THƯƠNG THẬN KÍN NẶNG TẠI BỆNH VIỆN NHÂN DÂN 115

Trần Thanh Phong*

TÓM TẮT

Mục Tiêu: Ngày nay với sự tiến bộ của y học, việc điều trị không phẫu thuật chấn thương thận kín nặng đã

đạt được nhiều kết quả khả quan Chúng tôi thực hiện nghiên cứu này nhằm đánh giá kết quả thực tế của việc điều trị không phẫu thuật chấn thương thận kín nặng tại bệnh viện Nhân Dân 115 trong 3 năm từ 1/2007 đến 12/2009

Phương pháp nghiên cứu: Chúng tôi thực hiện nghiên cứu tiến cứu 69 trường hợp bị chấn thương thận

kín nặng nhập viện Nhân Dân 115 Những bệnh nhân nhập viện với tình trạng huyết động không ổn định, đe dọa tính mạng mặc dù đã được hồi sức đầy đủ sẽ được mổ cấp cứu thám sát cầm máu Những trường hợp huyết động ổn định sẽ được theo dõi, điều trị bảo tồn, trong quá trình điều trị có thể sử dụng một số thủ thuật can thiệp tối thiểu như can thiệp nội mạch, nội soi và qua da…

Kết quả: Với 69 bệnh nhân chấn thương thận kín nặng, đã có 5 trường hợp (7,2%) phải mổ cấp cứu vì chảy

máu không kiểm soát được, đe dọa tính mạng (gồm 2 trường hợp độ IV và 3 là độ V, phải cắt thận cả 3 trường hợp độ V và 1 trường hợp độ IV) Sau đó phải mổ trì hoãn thêm 4 trường hợp (5,8%) nữa (2 là độ IV, 2 là độ V)

vì nhiễm trùng quanh thận không giải quyết được bằng những kỹ thuật khác Có 2 trường hợp chấn thương độ

V chảy máu kéo dài được thuyên tắt cầm máu, một số trường hợp nhiễm trùng máu tụ, nang giả niệu được giải quyết tốt bằng dẫn lưu qua da có hoặc không có đặt thông JJ niệu quản Tỉ lệ biến chứng sớm chấn thuơng thận đánh giá tại thời điểm xuất viện là không nhiều

Kết luận: Điều trị không phẫu thuật chấn thương thận kín nặng cho kết quả tương đối tốt với những

trường hợp có huyết động ổn định Tỉ lệ biến chứng sớm của điều trị là không nhiều Chảy máu kéo dài có thể được kiểm soát bằng thuyên tắt mạch chọn lọc, những khối máu tụ nhiễm trùng hoặc nang giả niệu có thể giải quyết bằng dẫn lưu qua da có hoặc không có đặt thông JJ niệu quản

Từ khóa: Điều trị không phẫu thuật, chấn thương thận kín nặng

ABSTRACT

RESULT OF NONOPERATIVE TREATMENT OF MAJOR BLUNT RENAL TRAUMA

AT PEOPLE’S HOSPITAL 115

Tran Thanh Phong * Y Hoc TP Ho Chi Minh * Vol 15 - Supplement of No 1 - 2011: 184 - 189

Objective: Nonoperative treatment of major blunt renal trauma is progressively gaining acceptane This

study to evaluate the success rate and complications of this treatment at the Department of Urology, People’s hospital 115 from January 2007 to December 2009

Materials and Methods: This prospective study include 69 cases of blunt renal trauma between 1/2007

and 12/2009 Patients with hemodynamic instability underwent immediate exploratory laparotomy Nonoperative treatment for patients with hemodynamic stability

Results: Of 69 patients of major blunt renal trauma, Five patients (7.2%) (3 patients of grade V, 2 patients

of grade IV) underwent immediate exploration and nephrectomy was done in 3 patients of grade V and in 1 patient of grade IV Two patients (of grade V) with persistent bleeding underwent angioembolization, Some

Trang 2

patients (of grade IV and grade V) with progressively increasing urinoma or hematoma or infection were treated

by percutaneous drainage with or without ureteral stent Four patients (5.8%) (two of grade IV and two patients

of grade V) underwent delayed exploration for perinephric collection and nephrectomy was done all of two patients of grade V Complications of blunt renal trauma were low

Conclusion: Nonoperative treatment of major blunt renal trauma is feasible in patients who are

hemodynamically stable Superselective arterial embolization can be an excellent option in patients with continuing hemorrhage Hematoma or urinoma were treated by percutaneous drainage with or without ureteral stenting

Key words: Nonoperative treatment, Blunt renal trauma

ĐẶT VẤN ĐỀ

Chấn thương và vết thương thận ngày nay có

xu hướng gia tăng tại các nước phát triển cũng

như các nước đang phát triển Với những tiến bộ

của y học, quan điểm về điều trị chấn thương

thận đã có nhiều thay đổi Trước đây, những

chấn thương thận nặng thường được điều trị

phẫu thuật, tuy nhiên tỉ lệ phải cắt thận rất lớn

Ngày nay với những tiến bộ về phương tiện chẩn

đoán hình ảnh, những phát triển về kỹ thuật qua

da và nội soi đường niệu, những kỹ thuật trong

can thiệp nội mạch và gây thuyên tắt mạch(2, 6),

cùng với những phát triển về phương diện hồi

sức, đa số các trường hợp chấn thương thận

thường được điều trị nội khoa với kết quả tốt(1, 7),

vì thế đã hạ thấp tỉ lệ phải cắt thận, giảm chi phí

điều trị và tránh được những nguy cơ của một

cuộc phẫu thuật(3, 5) Trên cơ sở đó chúng tôi thực

hiện đề tài này nhằm mục tiêu đánh giá hiệu quả

của việc điều trị không phẫu thuật trong chấn

thương thận kín nặng

Mục tiêu nghiên cứu

Tổng quát

Đánh giá kết quả điều trị không phẫu thuật

chấn thương thận kín nặng

Chuyên biệt

1 Đánh giá tỉ lệ thành công của điều trị

không phẫu thuật theo từng phân độ chấn

thương thận

2 Xác định những biến chứng sớm có thể

gặp trong quá trình điều trị và theo dõi chấn

thương thận kín

ĐỐI TƯỢNG - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU Đối tượng nghiên cứu

Các trường hợp chấn thương thận kín nặng (độ III, IV, V theo bảng phân độ của hiệp hội phẫu thuật chấn thương Hoa Kỳ) được chẩn đoán và điều trị tại bệnh viện Nhân Dân 115 từ tháng 1/2007 đến tháng 12/2009

Không đưa vào mẫu nghiên cứu các trường hợp vết thương xuyên thấu thận, nhưng bệnh nhân đã được mổ thám sát thận từ tuyến trước

Phương pháp nghiên cứu

Tiền cứu mô tả cắt ngang Từ tháng 1/2007 đến tháng 12/2009

Nơi thực hiện đề tài: Khoa Ngoại Niệu bệnh viện Nhân Dân 115

Bệnh nhân trong mẫu nghiên cứu sẽ được ghi nhận các biến số nghiên cứu (đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng, các biện pháp điều trị và theo dõi, cũng như các biến chứng…)

Cắt lớp điện toán: là xét nghiệm hình ảnh

học chủ yếu để chẩn đoán và phân độ chấn thương thận cũng như phát hiện các tổn thương

đi kèm Chụp mạch máu thận khi nghi ngờ có tổn thương cuống thận

Chúng tôi phân độ tổn thương thận theo phân

độ của Hội phẫu thuật chấn thương Hoa Kỳ

Điều trị chấn thương thận

- Phẫu thuật cấp cứu: Chấn thương thận nặng, chảy máu không thể kiểm soát bằng hồi sức nội khoa, nguy cơ đe doạ tính mạng bệnh nhân

Trang 3

Nếu bệnh nhân phẫu thuật vì tổn thương cơ

quan khác trong ổ bụng (vỡ gan, lách…), chúng

tôi mở phúc mạc thành sau để thám sát thận khi

có chỉ định

- Điều trị không phẫu thuật, bảo tồn thận:

Những chấn thương thận nặng, đã được hồi

sức một cách tích cực và có diễn tiến lâm sàng

thuận lợi

Kháng sinh dự phòng trong trường hợp tổn

thương thận có liên quan đến hệ thống bài tiết,

những bệnh nhân được đặt thông niệu đạo…

Những bệnh nhân tiểu máu kéo dài, phải

truyền nhiều máu thì chúng tôi cho chụp mạch

máu thận và gây thuyên tắt chọn lọc để cầm

máu

Những trường hợp rò nước tiểu không tự

giới hạn, sẽ được đặt thông niệu quản (sonde JJ)

dẫn lưu nước tiểu để tạo điều kiện cho thận

lành tự nhiên

Nếu bệnh nhân bị nhiễm trùng khối máu tụ

và nước tiểu quanh thận, sẽ được dẫn lưu qua da

Bất kể những diễn biến không thuận lợi trong

quá trình điều trị và theo dõi, nếu không thể giải

quyết tối ưu bằng những phương tiện trên, cần

một cuộc phẫu thuật triệt để thì chúng tôi sẽ tiến

hành phẫu thuật

Thu thập và xử lý số liệu

Số liệu được ghi nhận vào bảng thu thập số

liệu

Nhập số liệu vào máy vi tính và xử lý bằng

phần mềm SPSS 11.5

Kiểm định sự tương quan giữa các biến số

nghiên cứu nếu có bằng các phép kiểm thống kê

λ2 và Student với ngưỡng ý nghĩa được chọn α <

0,05

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

Trong thời gian từ tháng 1/2007 đến tháng

12/2009 đã có 69 trường hợp chấn thương thận

kín nặng được điều trị và theo dõi tại khoa

Ngoại Niệu bệnh viện Nhân Dân 115 với kết

quả như sau:

Tuổi

Độ tuổi trung bình: 32,16 ± 13,12 tuổi (6 – 85)

Bảng 1: Phân bố theo tuổi

Tuổi Số bệnh nhân (n) Tỷ lệ (%)

Tổng 69 100

Giới tính

- Nam: 42 trường hợp (60,9%)

- Nữ: 27 trường hợp (39,1%)

- Tỷ lệ nam/ nữ: 1,5

Nguyên nhân chấn thương

Bảng 2: Nguyên nhân chấn thương

Nguyên nhân chấn thương Số bệnh nhân Tỷ lệ (%)

Tai nạn giao thông 42 60,9

Tai nạn thể thao 3 4,4

Thận bị chấn thương

- Thận phải : 33 trường hợp (47,8%)

- Thận trái : 36 trường hợp (52,2%)

- Tỷ lệ chấn thương thận phải/ thận trái: 1/1

Không có trường hợp nào chấn thương cả 2 thận cùng lúc

Tổn thương phối hợp

Tổn thương thận đơn thuần: 41 trường hợp, chiếm 59,4%, chấn thương thận có kèm thương tổn khác: 28 trường hợp, chiếm 40,6%, chấn thương phối hợp thường gặp nhất là chấn thương gan, lách

Đặc điểm cận lâm sàng

Xét nghiệm sinh hoá

- Hồng cầu: 3,71 ± 0,86 triệu/mm3 (1,54 – 5,6)

- Hct: 34,12 ± 6,12% (14,10 – 46,05)

- Bạch cầu: 14,72 ± 6,14 k/mm3 (5,62 – 29,9)

Trang 4

- Creatinin: 1,13 ± 0,57 mg% (0,7 – 6,7)

Chụp động mạch thận

Trong mẫu nghiên cứu có 2 trường hợp nghi

ngờ có tổn thương động mạch thận chính trên

chụp cắt lớp vi tính nhưng vì tình trạng bệnh

nặng và có kèm thương tổn khác nên không chụp

được mạch máu thận, nhưng sau đó khi bệnh ổn

định, được siêu âm Doppler mạch máu thận thấy

tưới máu thận tốt

Chụp cắt lớp điện toán

Tất cả bệnh nhân đều được chụp cắt lớp điện

toán để phân độ chấn thương thận, cũng như

phát hiện các thương tổn phối hợp

Bảng 3: Phân độ chấn thương thận

Phân độ Số trường hợp (n) Tỷ lệ (%)

Tổng 69 100

Điều trị chấn thương thận

Bảng 4: Điều trị chấn thương thận nặng

Điều trị Số trường hợp (n) Tỷ lệ (%)

Điều trị không phẫu thuật 64 92,8

Phẫu thuật cấp cứu 5 7,2

Phẫu thuật cấp cứu

Có 5 trường hợp (4%) phải phẫu thuật cấp

cứu vì chảy máu không kiểm soát được, đe dọa

tính mạng bệnh nhân, trong đó:

- Có 2 trường hợp là chấn thương độ IV, được

mổ vì có kèm chấn thuơng bụng, mổ thám sát

phối hợp với chấn thương bụng, 1 ca phải cắt

thận cầm máu, khâu cầm máu bảo tồn 1 trường

hợp

- Có ba trường hợp là chấn thương độ V, cả

ba trường hợp đều được cắt thận để cầm máu

Điều trị không phẫu thuật

+ Có 38 trường hợp (55%) là chấn thương

thận độ III, được điều trị bảo tồn không phẫu

thuật, tất cả đều thành công, không ghi nhận biến

chứng nào đáng kể

+ Có 20 trường hợp chấn thương thận độ IV được điều trị không phẫu thuật Trong đó có : 2 trường hợp (9%) phải phẫu thuật để khâu lại thận vỡ, 5 trường hợp được đặt thông JJ giúp dẫn lưu nước tiểu, hỗ trợ điều trị rò thoát nước tiểu kéo dài, giúp thận lành tự nhiên và đã đạt kết quả tốt, 4 trường hợp được dẫn lưu qua da (2 trường hợp điều trị nhiễm trùng khối máu tụ quanh thận, 2 là để dẫn lưu nang giả niệu) đạt kết quả tốt

+ Có 6 trường hợp chấn thương thận độ V được điều trị theo dõi sau chấn thương, trong đó:

2 trường hợp (22%) phải mổ sau đó để cắt thận vì bệnh nhân đau nhiều và thận vỡ nát mất chức năng, 2 trường hợp tiểu máu kéo dài phải chụp động mạch thận và gây thuyên tắc để cầm máu, sau đó được đặt JJ để dẫn lưu nước tiểu kết hợp dẫn lưu qua da, cho kết quả tốt, 2 trường hợp được dẫn lưu qua da để điều trị khối nhiễm trùng quanh thận, thận lành tự nhiên ổn

Bảng 5:Tỷ lệ điều trị không phẫu thành công theo

từng phân độ chấn thương thận:

Mức độ chấn thương thận

Tỉ lệ điều trị không phẫu thuật thành công (%)

Lượng máu truyền

Không phải truyền máu với 47 trường hợp (68,2%)

Truyền máu trong 22 trường hợp (31,8%) Lượng máu truyền trung bình là 3,2 đơn vị, nhiều nhất là 11 đơn vị, ít nhất là 1 đơn vị, chủ yếu dùng trong những trường hợp chấn thương thận nặng hoặc có thương tổn phối hợp gây mất nhiều máu

Thời gian điều trị

- Thời gian nằm viện trung bình: 7,4 ± 4,16 ngày

- Ngắn nhất: 3 ngày

- Nằm lâu nhất: 27 ngày, đây là trường hợp chấn thương thận độ V, được thuyên tắc mạch

Trang 5

cầm máu, sau đó chảy máu thứ phát, được truyền

tổng cộng 11 đơn vị máu, điều trị nội khoa tạm ổn

Biến chứng sớm của chấn thương thận kín

- Nhiễm trùng khối máu tụ quanh thận: 8

trường hợp (11,6%)

- Chảy máu kéo dài: 2 trường hợp (2,9%)

- Nang giả niệu: 2 trường hợp (2,9%)

BÀN LUẬN

Tuổi bệnh nhân

Theo Mazeman E, Biserte J(4), 80% trường hợp

chấn thương thận trong lứa tuổi rất trẻ, dưới 25

tuổi Theo Vũ Nguyễn Khải Ca(8), độ tuổi trung

bình là 30,5 tuổi Nghiên cứu của chúng tôi, độ

tuổi trung bình 32,16 tuổi, giống như những

nghiên cứu trong nước và thế giới, đây là độ tuổi

đang học tập và lao động trong xã hội

Giới

Chấn thương thận kín thường gặp ở nam

Theo Mazeman E(4) tỉ lệ này là 76,21%, nữ 23,79%

Ở Việt Nam, chấn thương thận xảy ra chủ yếu ở

giới nam, chiếm từ 73 – 80%, nữ giới chiếm

khoảng 20 – 25%(8) Trong nghiên cứu chúng tôi,

bệnh nhân nam chiếm 60,9%, nữ 39,1% Tỉ lệ

nam/ nữ = 1,5 Sự khác biệt về giới có ý nghĩa

thống kê (với p < 0,05)

Nguyên nhân chấn thương

Nguyên nhân chấn thương ở các nước phát

triển đứng đầu là tai nạn giao thông: Pháp:

66,67%(4) Ở Việt Nam: từ 49,3% đến 78,8%(8)

Theo thống kê của chúng tôi, nguyên nhân chấn

thương thận hàng đầu là tai nạn giao thông:

60,9%, kế đến là tai nạn lao động: 20,3% Những

va chạm gián tiếp do té cao thường gây tổn

thương mạch máu là chủ yếu, cơ chế chấn

thương kiểu này ít gặp, nên dạng thương tổn

mạch máu cũng không nhiều trong nghiên cứu

chúng tôi

Các tổn thương phối hợp

Theo Santucci và cs (2003)(3), chấn thương

thận có phối hợp với các thương tổn khác là 61%,

của tác giả Vũ Nguyễn Khải Ca(8) là 49,02%

Theo số liệu của chúng tôi, tỉ lệ chấn thương thận có kèm tổn thương cơ quan khác là 28/69 trường hợp (40,6%) Đứng đầu là các thương tổn vùng bụng như gan, lách, kế đến là gãy xương chi

Điều trị chấn thương thận

Mục tiêu điều trị chấn thương thận là bảo tồn tối đa chức năng thận, hạn chế biến chứng đến mức tối thiểu Những trường hợp có huyết động không ổn định, đe doạ tính mạng cần phải được phẫu thuật kịp thời để cứu sống bệnh nhân Những trường hợp huyết động ổn định, điều trị nội khoa bảo tồn thận là chọn lựa hàng đầu ngay

cả với những tổn thương thận rất nặng nếu được đánh giá tốt và có điều kiện theo dõi(1, 3, 5)

Nhiều nghiên cứu khẳng định việc điều trị bảo tồn chấn thương thận nặng rất khả quan, giảm thời gian nằm viện, giảm lượng máu mất, tránh được cuộc phẫu thuật có khả năng phải cắt thận(1, 3, 7) Tuy nhiên phẫu thuật vẫn phải được cân nhắc trong một số tình huống chọn lọc Tất cả các tác giả đều thống nhất nên có chỉ định tuyệt đối phẫu thuật trong vài trường hợp: chảy máu không kiểm soát được đe doạ tính mạng, tổn thương đứt mạch máu cuống thận, thuyên tắc động mạch thận hai bên hoặc tắc động mạch thận

ở bệnh nhân chỉ một thận cần phẫu thuật để tái tạo tuần hoàn thận(3)

Chấn thương thận độ III

Theo Hội phẫu thuật chấn thương Hoa Kỳ, thương tổn thận độ III là đường vỡ nhu mô từ vỏ thận vào tuỷ thận nhưng chưa đến hệ thống đài

bể thận, không thoát thuốc cản quang ra ngoài thận Đa số được điều trị nội khoa bảo tồn cho kết quả tốt

Điều trị nội khoa bảo tồn 38/38 trường hợp (100%), chúng tôi thấy điều trị không phẫu chấn thương thận độ III đơn thuần rất tốt, an toàn và hiệu quả, ít biến chứng như nhận định của nhiều tác giả(3, 5, 7)

Chấn thương thận độ IV

Các tác giả có khuynh hướng điều trị ngoại

Trang 6

của y học ngày nay, hầu hết bệnh nhân đều có

thể điều trị bảo tồn, theo dõi và giải quyết những

biến chứng bằng những can thiệp tối thiểu, ít

xâm lấn Chỉ can thiệp ngoại khoa khi thật sự cần

thiết(1, 3, 5) Vì thế đã hạ thấp tỉ lệ phẫu thuật xuống

khoảng 10%(5) Trong nghiên cứu, chúng tôi có 22

trường hợp chấn thương thận độ IV, chúng tôi đã

điều trị không phẫu thuật thành công 18 trường

hợp (82%) Những biến chứng thường gặp là

nhiễm trùng khối máu tụ và thoát rò nước tiểu

kéo dài Tuy nhiên hầu hết được điều trị thành

công bằng dẫn lưu qua da và đặt thông JJ niệu

quản

Chấn thương thận độ V

Tổn thương thận độ V không phổ biến, chiếm

tỉ lệ 5%(1) Bệnh nhân thường nhập viện trong tình

trạng choáng và có thương tổn phối hợp trong ổ

bụng Hầu hết các trường hợp phải phẫu thuật

cấp cứu để kiểm soát chảy máu đe doa tính mạng

người bệnh, nhưng tỉ lệ phải cắt thận rất cao

Điều trị bảo tồn cho những bệnh nhân chấn

thương thận độ V cũng được nhiều tác giả đề

cập Altman AL nghiên cứu 13 bệnh nhân chấn

thương thận độ V và nhận thấy điều trị nội khoa

bảo tồn khả thi ở một số bệnh nhân, đó là những

trường hợp huyết động ổn định khi nhập viện và

không có dấu hiệu thương tổn mạch máu, cuống

thận trên cắt lớp điện toán(1)

Đã có 4 trường hợp (44%) chấn thuơng thận

độ V được điều trị không phẫu thuật thành công

Tuy nhiên trong quá trình điều trị và theo dõi, đã

có 2 trường hợp phải thuyên tắc mạch máu thận

chọn lọc để cầm máu, cũng như sử dụng các can

thiệp tối thiểu như dẫn lưu qua da, đặt thông JJ

niệu quản giúp dẫn lưu tốt tụ dịch quanh thận để

thận lành sẹo tự nhiên

Biến chứng sớm của chấn thương thận kín

Trong quá trình điều trị và theo dõi, chúng tôi

thấy tỉ lệ biến chứng sớm của chấn thương thận

kín là không nhiều, gồm có: nhiễm trùng khối

máu tụ quanh thận (11,6%), chảy máu kéo dài

(2,9%), nang giả niệu (2,9%) Những biến chứng

này có thể kiểm soát tốt bằng các can thiệp tối

thiểu Tuy nhiên vì số lượng nghiên cứu chưa nhiều và thời gian nghiên cứu không đủ dài nên chưa thể có sự đánh giá toàn diện các vấn đề

KẾT LUẬN

- Chấn thương thận kín độ III điều trị không phẫu thuật 100% cho kết quả tốt, với chấn

thương thận độ IV và V, điều trị không phẫu

thuật thành công lần lượt là 82% và 44%

- Các biến chứng sớm trong quá trình theo dõi là: nhiễm trùng khối máu tụ 11,6%; chảy máu kéo dài 2,9%; nang giả niệu 2,9%

- Chảy máu kéo dài trong chấn thương thận

có thể được kiểm soát tốt bằng thuyên tắc mạch máu thận chọn lọc, đặt thông niệu quản và dẫn lưu qua da là những can thiệp tối thiểu có thể giúp điều trị không phẫu thuật thành công những trường hợp chấn thương thận nặng, tránh được một cuộc mổ nhiều nguy cơ

Vì mẫu nghiên cứu chưa đủ lớn, thời gian theo dõi chưa dủ dài nên cần thêm những nghiên cứu lớn hơn để có đánh giá toàn diện hơn

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Altman.AL , Haas.C, Dinchman.KH, Spirnak.JP (2000), “ Selective nonoperative management of blunt grade 5 renal

injury”, J.Urol, 164(1), pp 27-30

2 Christopher A HAAS, Melissa D Reigle, Andrew A Selzman, Jack S Elder, J Partrick Spirnak ( 2009) “ Use of Ureteral Stent

in the Management of Major Renal Trauma with Urinary

Extravasation : Is There a Role ? “, Journal of Endourology, Vol

12 (6)

3 Hammer.CC,Santucci.RA (2003),“Effect of an institutional policy of nonoperative treatment of grade I to IV renal injuries

”, J.Urol, 169(5), pp 1751-3

4 Mazeman E.Debeugny P, Biserte J (1984), “Les traumatismes

fermés du rein à propos de 225 observations ”, Ann Urol, pp

517-526

5 Margenthaler.JA, Weber.TR, Keller.MS (2002), “ Nonoperative management of blunt renal trauma: A prospective study”,

American Surgeon, 68(12), pp.1097-1103

6 Mansi M, Alkhudair W ( 2009), “ Conservative management with percutaneous intervention of major blunt renal injuries “,

The American Journal of Emergency Medicine, Vol 15(7), pp

633-637

7 Stawicki S P ( 2007) “ Trends in Nonoperative Management of

Traumatic Injuries : A Synopsis “, OPUS 12 Scientist 2007, Vol 1

(1), pp 19-35

8 Vũ Nguyễn Khải Ca (2001), Chẩn đoán và điều trị phẫu thuật

chấn thương thận, Luận văn thạc sỹ y học, Đại học Y Hà Nội

Ngày đăng: 21/01/2020, 23:27

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w