1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Nhu cầu, yêu cầu điều trị chỉnh hình răng mặt của học sinh 12 tuổi tại thành phố Thủ Dầu Một - Tỉnh Bình Dương năm 2012

8 98 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 8
Dung lượng 259,87 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nghiên cứu có mục tiêu nhằm xác định tỷ lệ các đặc điểm sai khớp cắn, nhu cầu, yêu cầu điều trị chỉnh hình răng mặt của học sinh 12 tuổi tại thành phố Thủ Dầu Một (TP.TDM), tỉnh Bình Dương năm 2012. Mời các bạn cùng tham khảo bài viết.

Trang 1

NHU CẦU, YÊU CẦU ĐIỀU TRỊ CHỈNH HÌNH RĂNG MẶT

CỦA HỌC SINH 12 TUỔI TẠI THÀNH PHỐ THỦ DẦU MỘT -

TỈNH BÌNH DƯƠNG NĂM 2012

Nguyễn Thị Kim Yến*, Nguyễn Thị Kim Anh**

TÓM TẮT

Mục tiêu: Xác định tỷ lệ các đặc điểm sai khớp cắn, nhu cầu, yêu cầu điều trị CHRM của học sinh 12 tuổi tại

thành phố Thủ Dầu Một (TP TDM), tỉnh Bình Dương năm 2012

Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu cắt ngang với cỡ mẫu gồm 420 học sinh 12 tuổi được khám răng

mặt để xác định các đặc điểm khớp cắn, nhu cầu điều trị CHRM của học sinh theo IOTN; xác định yêu cầu điều trị CHRM của học sinh qua bảng câu hỏi

Kết quả: Đặc điểm sai khớp cắn có tỷ lệ cao nhất là sai lệch vị trí răng >2mm (61,7%), kế đến là cắn chìa

>4mm (13,8%), cắn phủ >4mm (12,6%), cắn chéo răng trước (10,2%), cắn chéo răng sau (6,4%); tương quan răng cối theo phân loại Angle hạng I (66%), hạng II (3,6%), hạng III (11%) Học sinh có nhu cầu điều trị CHRM

về sức khỏe răng (DHC-IOTN) là 48,3%, về thẩm mỹ răng (AC-IOTN) là 25,5%, có yêu cầu điều trị CHRM là 18,3% Không có sự khác biệt có ý nghĩa về nhu cầu, yêu cầu điều trị CHRM giữa học sinh nam và nữ, giữa thành thị và nông thôn (p>0,05)

Kết luận: Tỷ lệ sai khớp cắn và nhu cầu điều trị CHRM của học sinh 12 tuổi tại TP TDM, tỉnh Bình Dương

năm 2012 khá cao Nhu cầu điều trị CHRM cao hơn yêu cầu điều trị CHRM của học sinh Các yếu tố có ý nghĩa

dự báo yêu cầu điều trị CHRM của học sinh là: sai lệch vị trí răng >2mm, sự không hài lòng của học sinh về hàm răng, yêu cầu điều trị CHRM của phụ huynh cho con

Từ khóa: sai khớp cắn, nhu cầu điều trị CHRM, yêu cầu điều trị CHRM

ABSTRACT

ORTHODONTIC TREATMENT NEED AND DEMAND OF SCHOOL CHILDREN AGED 12 YEARS IN

THU DAU MOT CITY, BINH DUONG PROVINCE (2012)

Nguyen Thi Kim Yen, Nguyen Thi Kim Anh

* Y Hoc TP Ho Chi Minh * Vol 17 - Supplement of No 2 - 2013: 97 - 104

Objective: To assess the normative need, demand for orthodontic treatment and related factors

schoolchildren aged 12 years in Thu Dau Mot city, Binh Duong province (2012)

Methods: Cross-sectional study The sample consisted of 420 schoolchildren aged 12 years in Thu Dau Mot

city, Binh Duong province, randomly selected from different geographical area The orthodontic treatment needs

(IOTN) and occlusal features were calculated for the total sample The related factors and demand for orthodontic treatment were assessed with a questionnaire

Results: The malocclusion traits were: contact point displacement >2mm (61.7%), overjet >4mm (13.8%),

overbite >4mm (12.6%), anterior crossbite (10.2%), posterior crossbite (6.4%) According to the classification of Angle, the prevalence of Class I, Class II, and Class III malocclusions was 66%, 3.6% and 11% The DHC and the

AC of the IOTN classified respectively 48.3% and 25.5% of the children as having a definite need for orthodontic treatment 18.3% of the schoolchildren expressed a demand for orthodontic treatment There were no significant

Trang 2

gender or geographical areas differences concerning this need, demand for orthodontic treatment

Conclusion: The prevalence of malocclusion and the need for orthodontic treatment were high The

prevalence of need for orthodontic treatment far exceeds the demand of schoolchildren Contact point displacement

>2mm, dissatisfaction with dental appearance and parents' desire for treatment are strong predictors for schoolchildren' demand for orthodontic treatment

Key words: Malocclusion, orthodontic treatment need, orthodontic treatment demand, IOTN

ĐẶT VẤN ĐỀ

Khảo sát nhu cầu điều trị CHRM trong các

điều tra dịch tễ về sức khỏe răng miệng là xác

định tình trạng sai khớp cắn, tình trạng thẩm

mỹ răng miệng của cộng đồng và xác định các

đối tượng cần phải được điều trị CHRM Đánh

giá nhu cầu và yêu cầu điều trị CHRM không

chỉ là vấn đề quan trọng của các nhà dịch tễ

mà còn là vấn đề quan tâm của các nhà điều

trị lâm sàng CHRM, cũng như của các nhà

hoạch định chính sách

Đã có nhiều nghiên cứu trên thế giới về nhu

cầu và yêu cầu điều trị CHRM Tỷ lệ nhu cầu và

yêu cầu điều trị CHRM thay đổi tùy thuộc vào

cộng đồng dân cư do có sự khác nhau về điều

kiện, ý thức chăm sóc răng miệng, về văn hóa,

kinh tế xã hội cũng như nhận thức về thẩm mỹ

Tỉnh Bình Dương hiện nay chưa có nghiên

cứu nào về vấn đề này Tiến hành điều tra nhu

cầu và yêu cầu điều trị CHRM của học sinh tại

thành phố Thủ Dầu Một (TP TDM), tỉnh Bình

Dương là việc làm cần thiết, là cơ sở để lập kế

hoạch phù hợp về nhân sự, đào tạo, ngân sách…

dành cho chương trình chăm sóc sức khoẻ răng

miệng nói chung và CHRM nói riêng tại tỉnh

Bình Dương

Mục tiêu nghiên cứu

Xác định tỷ lệ các đặc điểm sai khớp cắn, nhu

cầu, yêu cầu điều trị CHRM của học sinh 12 tuổi

tại TP TDM tỉnh Bình Dương năm 2012 và các

yếu tố liên quan

ĐỐI TƯỢNG - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Đối tượng nghiên cứu

420 học sinh 12 tuổi tại các trường trung học

cơ sở tại TP TDM tỉnh Bình Dương được chọn

ngẫu nhiên phân tầng theo thành thị và nông thôn Đặc điểm của mẫu là trẻ có sức khỏe bình thường, chưa được điều trị CHRM

Phương pháp nghiên cứu

Thiết kế nghiên cứu

Cắt ngang mô tả

Phương tiện nghiên cứu

Dụng cụ khám răng, thước đo (thước IOTN),

phiếu khám, bảng câu hỏi, hóa chất kiểm soát

nhiễm khuẩn Nội dung chính của bảng câu hỏi gồm: nguồn thông tin về CHRM, sự hài lòng về hàm răng của học sinh, yêu cầu điều trị CHRM

Các biến số nghiên cứu và cách đánh giá

Khám răng mặt và sử dụng thước IOTN để xác định các đặc điểm khớp cắn (tương quan răng cối theo phân loại của Angle, độ cắn chìa,

độ cắn phủ, cắn chéo răng sau, sai lệch vị trí răng) và nhu cầu điều trị CHRM của học sinh theo IOTN

Đánh giá yêu cầu điều trị CHRM của học sinh và các yếu tố liên quan qua bảng câu hỏi Đánh giá yêu cầu điều trị CHRM của phụ huynh cho con qua bảng câu hỏi

Các yếu tố liên quan với nhu cầu, yêu cầu điều trị CHRM là: giới tính, vùng địa dư, đặc điểm khớp cắn, nguồn thông tin CHRM, sự không hài lòng về hàm răng

Xử lý - Phân tích sô liệu

Nhập số liệu và phân tích với phần mềm SPSS for Windows 19 Sử dụng chỉ số Kappa, phép kiểm Chi-square, phép kiểm xác suất chính xác Fisher, phân tích hồi quy logistic đa biến

KẾT QUẢ - BÀN LUẬN

Mẫu nghiên cứu gồm: 360 học sinh ở tầng

Trang 3

thành thị và 60 học sinh ở tầng nông thôn phù

hợp với tỷ lệ tổng số học sinh theo vùng địa dư

(86 % là thành thị và 14 % là nông thôn); có 168

học sinh nam (40 %) và 252 học sinh nữ (60 %)

Không có sự khác biệt về giới giữa thành thị và

nông thôn (p>0,05)

Đặc điểm khớp cắn

Đặc điểm sai khớp cắn có tỷ lệ cao nhất là sai

lệch vị trí răng (61,7 %), kế đến là cắn chìa >4mm

(13,8%), cắn phủ >4mm (12,6%), cắn chéo răng

trước (10,2%), cắn chéo răng sau (6,4%) Học sinh

12 tuổi tại TP TDM tỉnh Bình Dương trong

nghiên cứu này có tương quan răng cối theo

phân loại của Angle như sau: nhiều nhất là hạng

I (66%), hạng III (11%) nhiều hơn hạng II (3,6%);

có 10,7 % tương quan răng cối hai bên phải và

trái khác nhau, có 8,8% không xác định tương

quan răng cối do mất (hoặc vỡ) răng cối lớn thứ

nhất Kết quả này tương tự với nghiên cứu của

Nhu cầu điều trị CHRM

Nghiên cứu đánh giá nhu cầu điều trị

xác định các mức độ về sức khỏe răng

định mức sẵn giúp cho việc xác định các mức độ

về sức khỏe răng được chính xác, nhanh chóng

Khi khám răng ở cộng đồng, sử dụng thước

thông thường để đo thì rất khó thấy và cần

nhiều thời gian

Học sinh có nhu cầu (cần điều trị CHRM) về

sức khỏe răng (DHC-IOTN) là 48,3%, về thẩm

mỹ răng (AC-IOTN) là 25,5% Tỷ lệ học sinh cần

điều trị CHRM (mức 4-5 DHC-IOTN) trong

nghiên cứu của chúng tôi khá cao, tương tự các

nghiên cứu nhu cầu điều trị CHRM đánh giá

theo IOTN ở lứa tuổi 12 trên thế giới ở

Malaysia(1), Senegan(16), Thụy Sỹ(8) Do đó, cần

tăng cường biện pháp CHRM phòng ngừa,

CHRM can thiệp cho học sinh tại TP TDM tỉnh

Bình Dương

Nhu cầu điều trị CHRM đánh giá theo

IOTN không có sự khác biệt có ý nghĩa giữa học sinh nam và nữ, giữa thành thị và nông thôn tại TP TDM tỉnh Bình Dương (p>0,05) Kết quả này tương tự như các nghiên cứu ở

thấy không có sự khác biệt có ý nghĩa về nhu cầu điều trị CHRM theo giới

Kết quả nghiên cứu cho thấy có sự nhất trí trung bình giữa nhu cầu điều trị CHRM đánh giá về sức khỏe răng (DHC-IOTN) và thẩm mỹ răng (AC-IOTN) (chỉ số Kappa là 0,53) Nhu cầu điều trị CHRM về sức khỏe răng (DHC-IOTN) (48,3%) cao hơn nhu cầu điều trị CHRM về thẩm

mỹ răng (AC-IOTN) (25,5%) và sự khác biệt này

có ý nghĩa thống kê (p<0,001) Sự khác nhau này

là do nhu cầu điều trị CHRM về sức khỏe răng (DHC-IOTN) được xác định căn cứ vào các đặc điểm sai khớp cắn Mất răng cối lớn, răng cối nhỏ mọc lệch, cắn chéo răng sau, cắn sâu gây chấn thương nướu, ảnh hưởng nhiều đến sức khỏe răng miệng, nhưng về mặt thẩm mỹ, các bất thường này không được chú ý Trong khi nhu cầu điều trị CHRM về thẩm mỹ răng (AC-IOTN) chỉ đánh giá các khía cạnh thẩm mỹ của khớp cắn nhìn từ phía trước (do đó, nhu cầu điều trị về thẩm mỹ răng có ít hơn), và có nhiều tính chủ quan

Nghiên cứu này cho thấy có sự liên quan

có ý nghĩa giữa nhu cầu điều trị CHRM về sức khỏe răng (DHC-IOTN) và các đặc điểm sai khớp cắn của học sinh như: cắn chéo răng trước (p<0,05), cắn phủ> 4mm (p<0,01), cắn chéo răng sau (p<0,001), sai lệch vị trí răng

>2mm (p<0,001) Trong các học sinh cần điều trị CHRM ở TP TDM tỉnh Bình Dương (2012), các đặc điểm sai khớp cắn chiếm tỷ lệ nhiều nhất là sai lệch vị trí răng (trong đó, sai lệch vị trí răng>4mm là 29%), kế đến là cắn phủ

>4mm (18,7%), cắn chìa >4mm (16,3 %)

Có thể do tỷ lệ sai lệch vị trí răng khá cao nên nhu cầu điều trị CHRM về sức khỏe răng trong nghiên cứu này nhiều hơn các nghiên cứu trong

Trang 4

Đà Nẵng (32%)(17) (Bảng 1)

Bảng 1 Nhu cầu, yêu cầu điều trị CHRM đánh giá

theo IOTN của các nghiên cứu thực hiện ở Việt Nam.

địa ựiểm

(tỉnh)

Cỡ

mẫu

Tuổi DHC (%) (mức 4-5)

AC (%) (Ảnh 8 Ờ 10)

Yêu cầu (%)

đà Nẵng

(2003)(17)

TP.HCM

(2006)(26)

đồng Nai

(2011)(24)

386 9-11

Bình Dương

2012

Nói chung, sai khớp cắn thường gặp trong

các đối tượng có nhu cầu điều trị CHRM (mức

4-5 của DHC-IOTN) là sai lệch vị trắ răng(1, 4, 7, 11)

Nguyên nhân gây sai lệch vị trắ răng thường

gặp nhất là do thiếu khoảng mọc răng Thiếu

khoảng có thể do sâu răng mặt bên làm giảm

kắch thước gần - xa của răng sữa dẫn đến thiếu

chỗ cho răng thay thế, do răng sữa mất sớm,

khoảng mất răng hẹp lại vì các răng kế cận

nghiêng, di chuyển vào khoảng trống do mất

răng Do vậy, việc giữ gìn bộ răng sữa có thể

giúp duy trì chức năng ăn nhai và ngăn ngừa bất

hài hòa của chiều dài, chiều ngang cung răng

Ngành RHM tại Bình Dương chưa có đơn vị

chuyên điều trị cho răng trẻ em Nhân lực

chuyên trách về công tác Nha học đường tại TP

TDM tỉnh Bình Dương nói riêng và tỉnh Bình

Dương nói chung quá ắt Thực tế, đa số phụ

huynh chưa biết rõ tầm quan trọng của bộ răng

sữa, không chú trọng đến việc bảo tồn và phục

hồi các răng sữa, không muốn trám răng sữa sâu

mà chỉ muốn nhổ răng (thậm chắ còn nhổ răng

cối lớn thứ nhất)

Học sinh sống ở nông thôn mất (hoặc vỡ lớn)

răng cối lớn thứ nhất (18,3%) nhiều hơn học sinh

sống ở thành thị (7,2%), sự khác biệt này có ý

nghĩa thống kê (p<0,01) Về vùng địa dư, học

sinh và phụ huynh sống ở nông thôn chưa quan

tâm chăm sóc các răng sau (có lẽ do các răng này

không ảnh hưởng trực tiếp đến thẩm mỹ, và

nghĩ là còn răng mọc thay thế)

Răng hô, răng mọc không đều hoặc sai khớp

cắn không những gây bất hài hòa về mặt thẩm

mỹ và chức năng giữa các cấu trúc sọ mặt, mà còn ảnh hưởng về mặt tâm lý, làm giảm sự tự tin trong giao tiếp của bệnh nhân Các mục đắch của điều trị CHRM là: cải thiện chức năng của bộ răng, cải thiện sức khỏe răng miệng, cải thiện

chỉ là thẩm mỹ mà còn có ảnh hưởng nhiều đến chất lượng cuộc sống Tại Việt Nam nói riêng và trên thế giới nói chung, nhu cầu điều trị CHRM tăng cùng với sự phát triển của dân số và sự phát triển của kinh tế xã hội

Yêu cầu điều trị CHRM

Học sinh có yêu cầu (muốn điều trị CHRM) là 18,3% Yêu cầu điều trị CHRM của học sinh TP TDM tỉnh Bình Dương ắt hơn kết

Nghiên cứu cho thấy không có sự khác biệt

có ý nghĩa về yêu cầu điều trị CHRM giữa học sinh nam và nữ (p>0,05) Kết quả này tương tự

khảo sát 743 sinh viên (17- 24 tuổi) ở Tây Ban Nha, kết quả là nữ có yêu cầu điều trị nhiều hơn

có thể do các lứa tuổi nghiên cứu khác nhau Ở lứa tuổi 12, mối quan tâm về thẩm mỹ giữa nam

và nữ chưa có sự khác biệt rõ, khi lớn hơn (17- 24 tuổi), nữ đã có sự quan tâm về thẩm mỹ nhiều hơn nam

Kết quả của nghiên cứu là không có sự khác biệt có ý nghĩa về yêu cầu điều trị CHRM học sinh tại TP TDM tỉnh Bình Dương giữa thành thị

và nông thôn (p>0,05)

Sai khớp cắn và yêu cầu điều trị CHRM của học sinh

Có sự liên quan có ý nghĩa thống kê giữa yêu

cầu điều trị CHRM của học sinh với các sai khớp cắn như: cắn chìa >4 mm (p<0,001), cắn chéo răng trước (p<0,05), cắn phủ >4 mm (p<0,05), sai lệch vị trắ răng >2mm (p<0,001) Đây chắnh là các

Trang 5

đặc điểm sai khớp cắn biểu hiện ở vùng răng

trước, rất dễ nhìn thấy và ảnh hưởng nhiều đến

thẩm mỹ Điều này, tương tự với kết quả của

Josefsson E (2009) là học sinh có yêu cầu điều trị CHRM khi có các sai khớp cắn dễ thấyở vùng răng trước(13)

Bảng 2 Phân tích hồi quy logistic các yếu tố liên quan đến yêu cầu điều trị CHRM của học sinh

Các yếu tố OR chưa hiệu chỉnh

(KTC 95%)

OR hiệu chỉnh (*) (KTC 95%) p

Sai lệch vị trí răng

DHC-IOTN

AC- IOTN

Nguồn thông tin về CHRM của học sinh

Hài lòng của học sinh

Yêu cầu của phụ huynh

Kiểm định χ2 , hồi quy logistic: (*) OR đã hiệu chỉnh khi xét chung tất cả các yếu tố trong bảng, giới tính của học sinh và vùng địa dư

Qua phân tích hồi quy logistic, học sinh có

sai lệch vị trí răng > 2 mm có khuynh hướng

muốn điều trị CHRM gấp 4,3 lần học sinh có sai

lệch vị trí răng ≤2 mm (Bảng 2) Cần phải tăng

cường giáo dục SKRM, nâng cao nhận thức về

hậu quả trầm trọng của các đặc điểm sai khớp

cắn, để người dân biết và có yêu cầu điều trị

CHRM không chỉ khi có răng hô, răng mọc lệch

mà còn khi có cắn chéo răng sau, cắn hở…

Nguồn thông tin về CHRM và yêu cầu điều

trị CHRM của học sinh

Phần lớn học sinh trong nghiên cứu chưa

biết về CHRM (38,5%) Nguồn cung cấp thông

tin CHRM qua bác sỹ RHM (16%), có 24,5% học

sinh biết qua phương tiện truyền thông, 21% học

sinh biết qua người thân Tỷ lệ học sinh ở nông

thôn chưa biết về CHRM (51,7%) nhiều hơn ở

thành thị (36,4%), sự khác biệt này có ý nghĩa

thống kê (p<0,05)

Với mức độ tiếp cận về CHRM không nhiều,

nguồn cung cấp thông tin CHRM qua bác sỹ RHM (có giá trị về mặt chuyên môn) quá ít, học sinh (đặc biệt là ở nông thôn) chưa hiểu rõ về điều trị CHRM nên tỷ lệ học sinh trong nghiên cứu muốn điều trị CHRM còn ít

Sự không hài lòng về hàm răng và yêu cầu điều trị CHRM của học sinh

Đa số học sinh hài lòng về hàm răng của mình (70%), không hài lòng về hàm răng (30%), không có sự khác biệt có ý nghĩa về sự không hài lòng về hàm răng giữa học sinh nam và nữ giữa thành thị và nông thôn (p>0,05) Ở lứa tuổi 12, nhận thức và sự quan tâm về thẩm mỹ giữa nam

và nữ chưa có sự khác biệt nhiều Điều này góp phần làm cho không có sự khác biệt có ý nghĩa

về yêu cầu điều trị CHRM của học sinh theo giới, theo vùng địa dư

Học sinh không hài lòng về hàm răng của mình có khuynh hướng muốn điều trị CHRM gấp 8,8 lần học sinh đã hài lòng (p<0,001) (Bảng

Trang 6

2) Tương tự, nghiên cứu của Badran SA (2010)

cho thấy: yếu tố quan trọng nhất ảnh hưởng yêu

cầu điều trị CHRM là sự không hài lòng về hàm

Học sinh ở TP TDM, tỉnh Bình Dương (2012)

không hài lòng về hàm răng của mình do răng

mọc không đều 60%, kế đến là do hô (11,9%),

móm (7,9%) Nghiên cứu của Wang G (1999) cho

thấy khoảng 2/3 trẻ em không hài lòng về hàm

răng của chính mình, nhưng chỉ có 40% trong số

Vì sao các học sinh ở TP TDM tỉnh Bình

Dương không muốn điều trị CHRM? Đó là do

học sinh đã hài lòng với hàm răng của mình

(72,8%), do sợ nhổ răng (27,2%)

Nếu học sinh biết về CHRM nhiều hơn, hoặc

được bác sĩ khám và tư vấn sẽ biết lợi ích của

điều trị CHRM (cải thiện thẩm mỹ, chức năng và

tâm lý), hoặc ở lứa tuổi lớn hơn trẻ sẽ chấp nhận

nhổ răng để điều trị cải thiện thẩm mỹ, thì có thể

tỷ lệ học sinh muốn điều trị CHRM sẽ tăng lên

Yêu cầu điều trị CHRM của phụ huynh cho

con

Có 23,3% phụ huynh ở TP TDM tỉnh Bình

Dương muốn điều trị CHRM cho con, không

muốn điều trị là 76,7% Tỷ lệ phụ huynh muốn

điều trị CHRM cho con ở TP TDM tỉnh Bình

Dương ít hơn các nghiên cứu thực hiện tại Đồng

Nẵng (53,4%)(17)

Kết quả nghiên cứu cho thấy không có sự

khác biệt có ý nghĩa về yêu cầu điều trị CHRM

của phụ huynh theo giới của học sinh, theo vùng

địa dư (p>0,05) Phụ huynh ở vùng nông thôn

chưa biết về CHRM (38,3%) nhiều hơn vùng

thành thị (12,5%) Tỷ lệ phụ huynh chưa biết về

CHRM ở TP TDM, tỉnh Bình Dương (16,2%)

tương đương với phụ huynh học sinh ở Đồng

Phụ huynh muốn điều trị CHRM cho con thì

khuynh hướng học sinh có yêu cầu điều trị

CHRM tăng gấp 11,9 lần so với học sinh mà phụ

huynh không muốn điều trị CHRM cho con (Bảng 2) Theo Marque LS (2009) yêu cầu điều trị CHRM của phụ huynh cho con, sai lệch vị trí răng >2mm là các yếu tố liên quan có ý nghĩa

12 tuổi, nhận thức và sự quan tâm về thẩm mỹ chưa cao, các yêu cầu của trẻ còn phụ thuộc nhiều vào cha mẹ Mong muốn điều trị CHRM cho con của phụ huynh có ảnh hưởng rất lớn đến điều trị CHRM của học sinh

Phụ huynh muốn điều trị CHRM cho con chủ yếu vì lý do thẩm mỹ ( để con đẹp hơn 61,8%), vì lý do chức năng có ít hơn (để con ăn nhai tốt hơn 20,6 %), kế đến là để dễ chãi răng (13,7 %), (lý do khác là 3,9%) Mong muốn cải thiện thẩm mỹ là động cơ chủ yếu, là sự quan tâm lớn nhất để bệnh nhân muốn được điều trị

từng dân tộc và từng giai đoạn lịch sử Đối với người Việt, nét mặt nhìn nghiêng hơi nhô hoặc răng mọc lệch vẫn chấp nhận được Do đó, phụ huynh và học sinh chỉ đến khám khi các sai lệch của trẻ quá trầm trọng Một số người không nhận ra vấn đề cần điều trị, một số khác cảm thấy cần điều trị nhưng không đủ khả năng cho chi phí điều trị(19)

Liên quan nhu cầu và yêu cầu điều trị CHRM

Kết quả nghiên cứu có sự liên quan có ý nghĩa giữa nhu cầu và yêu cầu điều trị CHRM của học sinh (p<0,001) Tuy nhiên, qua phân tích hồi quy logistic đa biến, nhu cầu điều trị CHRM

về sức khỏe răng (DHC-IOTN) và thẩm mỹ răng (AC-IOTN) không là yếu tố có ý nghĩa dự báo yêu cầu điều trị CHRM của học sinh (Bảng 2)

Do đó, để thiết lập chương trình về CHRM không những phải ước lượng nhu cầu mà còn phải ước lượng yêu cầu điều trị CHRM

Nhu cầu điều trị CHRM theo IOTN cao hơn yêu cầu điều trị CHRM của học sinh ở TP TDM tỉnh Bình Dương năm 2012 Có sự khác biệt có ý nghĩa giữa tỷ lệ nhu cầu và yêu cầu điều trị CHRM tương tự như kết quả của các nghiên cứu

Trang 7

trong nước tại TP HCM (26), Đồng Nai (24), TP Đà

Nẵng (17) và nước ngoài tại Pêru (4), Jordan(11),

các bác sĩ RHM đánh giá nhu cầu điều trị CHRM

chủ yếu dựa vào các sai khớp cắn và chức năng,

có tính khách quan nhất định Trong khi, yêu cầu

điều trị CHRM có tính chủ quan, phụ thuộc vào

điều kiện kinh tế, nhận thức thẩm mỹ của từng

cá nhân, văn hóa, chủng tộc, giới tính, tuổi…

Chỉ số Kappa giữa yêu cầu điều trị CHRM

của học sinh ở TP TDM tỉnh Bình Dương và nhu

cầu điều trị (DHC-IOTN) là 0,15; (AC-IOTN) là

0,25 Như vậy, có sự nhất trí tương đối thấp giữa

nhu cầu và yêu cầu điều trị CHRM Rõ ràng, có

các học sinh cần phải điều trị CHRM nhưng học

sinh và phụ huynh đều chưa quan tâm, chưa

nhận ra vấn đề cần phải điều trị, chưa biết về

CHRM nên không có yêu cầu điều trị CHRM

Do đó, cần phổ biến cho người dân về hậu quả

trầm trọng của các sai khớp cắn và lợi ích của

CHRM phòng ngừa Đây chính là biện pháp

hiệu quả và kinh tế trong chăm sóc sức khỏe

răng miệng

KẾT LUẬN

Đặc điểm sai khớp cắn của học sinh 12 tuổi ở

TP TDM tỉnh Bình Dương có tỷ lệ cao nhất là sai

lệch vị trí răng >2mm (61,7 %), kế đến là cắn chìa

>4mm (13,8%), cắn phủ >4mm (12,6%), cắn chéo

răng trước (10,2%), cắn chéo răng sau (6,4%)

Nhu cầu điều trị CHRM khá cao và cao hơn

yêu cầu điều trị CHRM của học sinh Học sinh

cần điều trị CHRM về sức khỏe răng là 48,3%, về

thẩm mỹ răng là 25,5%, có yêu cầu điều trị

CHRM là 18,3 Không có sự khác biệt có ý nghĩa

về nhu cầu, yêu cầu điều trị CHRM giữa học

sinh nam và nữ, giữa thành thị và nông thôn

Các yếu tố có ý nghĩa dự báo yêu cầu điều trị

CHRM của học sinh là: sai lệch vị trí răng >2mm,

sự không hài lòng của học sinh về hàm răng, yêu

cầu điều trị CHRM của phụ huynh cho con

TÀI LIỆU THAM KHẢO

treatment need in 5.112 Malaysian children using the IOTN

and DAI indices Community Dent Health, 18(4):242-248

adolescent Kuwaitis: prevalence, severity and manpower requirements Med Princ Pract, 19(5):348-354

self-perceived aesthetics on the self-esteem of a sample of Jordanian adolescents Eur J Orthod 32(6): 638-644

orthodontic treatment need of a Peruvian university population Head Face Med, 2: 22

treatment need indices Progress in Orthodontics,

12(2):132-142

orthodontic treatment priority Eur J Orthod, 20:20-309

treatment in the child population of the United Kingdom Eur

J Orthod,16:395-399

Dental Aesthetic Index and Dental Health Component of the Index of Orthodontic Treatment Need as Tools in Epidemiological Studies Int J Environ Res Public Health, 8(8): 3277-3286

treatment demand among Chinese young adults in Hong Kong Oral Health Prev Dent, 7(1):83-91

trạng khớp cắn ở người Việt trong độ tuổi 17-27 Tập san Hội hình thái học Việt Nam, 11(2): 22-31

and clinician perceived need and normative orthodontic treatment need Eur J Orthod, 26(3): 265-271

western region of Saudi Arabia: a research report Head Face Med 18(2): 2

perceived orthodontic treatment need in adolescents of Swedish and immigrant background Eur J Orthod,

31(1):95-102

of reproducibility of DAI and IOTN indexes in a Brazilian scene Cien Saude Colet, 15(3):785-792

SM (2009) Factors associated with the desire for orthodontic treatment among Brazilian adolescents and their parents BMC Oral Health,9: 34

Orthodontic Treatment Need and Demand in Senegalese School Children Aged 12–13 Years An Appraisal Using IOTN and ICON Angle Orthod, 77(2): 323-330

chỉnh hình răng mặt qua điều tra trên học sinh 12 tuổi thành phố Đà Nẵng Luận văn Thạc sỹ Y học Đại học Y Dược TP

Hồ Chí Minh: 49, 54, 58-60, 63-64

Prevalence and factors related to malocclusion and orthodontic treatment need in children and adolescents in Italy Eur J Public Health,17(6):637-641

Orthodontics Chapter 1,5 Mosby 3-23, 130-161

Trang 8

JM, Manzanera D (2011) Orthodontic treatment need in a

12-year-old population in the Western Sahara Eur J Orthod,

(33):377-380

everity of malocclusion between two centres in the United

Kingdom and Malaysia: A preliminary investigation Annals

Dent Univ Malaysia, 2:15-19

assessment of orthodontic treatment need for the population

of eastern Nepal World J Orthod, 10(4):311-316

ML (2006).Orthodontic treatment need in French

schoolchildren: an epidemiological study using the Index of

Orthodontic Treatment Need Eur J Orthod, 28(6):605-609

chỉnh hình răng mặt của học sinh từ 9 đến 11 tuổi tại huyện Thống Nhất, tỉnh Đồng Nai Luận văn Thạc sỹ Y học Đại học

Y Dược TP Hồ Chí Minh: 103-104

Treatment need (IOTN) in a school population and referred population J Orthod, 28(1):45-52

trị chỉnh hình răng mặt của học sinh 11 tuổi tại thành phố Hồ Chí Minh Luận văn Thạc sỹ Y học Đại học Y Dược TP Hồ Chí Minh: 45, 49

need and demand of Hong Kong Chinese children Chin J Dent Res, 2(3-4):84-92

Ngày đăng: 21/01/2020, 23:25

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w