1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Tỷ lệ hiện mắc và các yếu tố nguy cơ liên quan bệnh tim mạch của các cán bộ thuộc ban bảo vệ và chăm sóc sức khỏe tỉnh Tây Ninh

11 145 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 11
Dung lượng 405,12 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mục tiêu nghiên cứu nhằm xác định tỉ lệ hiện mắc và các yếu tố nguy cơ liên quan bệnh tim mạch của cán bộ thuộc diện ban bảo vệ, chăm sóc sức khỏe cán bộ tỉnh Tây Ninh năm 2012. Nghiên cứu tiến hành tháng 6 năm 2012 trên 384 cán bộ tại đơn vị ban bảo vệ, chăm sóc sức khỏe cán bộ tỉnh Tây Ninh về các bệnh lý tim mạch gồm tăng huyết áp, nhồi máu cơ tim, bệnh lý mạch vành và tai biến mạch máu não

Trang 1

TỶ LỆ HIỆN MẮC VÀ CÁC YẾU TỐ NGUY CƠ LIÊN QUAN BỆNH TIM MẠCH  CỦA CÁC CÁN BỘ THUỘC BAN BẢO VỆ VÀ CHĂM SÓC SỨC KHỎE 

TỈNH TÂY NINH 

Bùi Chánh Tông*, Nguyễn Hồng Hoa**, Lê Hoàng Ninh*** 

TÓM TẮT 

Đặt  vấn  đề: Bệnh tim mạch hiện là vấn đề y tế công cộng tại nhiều quốc gia do tỉ lệ tử vong và tàn phế 

đứng hàng đầu các nhóm bệnh mạn tính không lây. Tại Việt Nam, đời sống nhân dân ngày càng được cải thiện,  lối sống người dân dần thay đổi như chế độ ăn nhiều chất béo, ít vận động đã góp phần làm tăng tỉ lệ mắc các  bệnh tim mạch trong dân số, đặc biệt ở những cán bộ lãnh đạo. Hầu hết cán bộ tại tỉnh Tây Ninh ở độ tuổi trên 

45 (chiếm 75%) nhiều áp lực công việc, ít thời gian vận động thể lực, việc đánh giá tỉ lệ bệnh tim mạch và các yếu 

tố nguy cơ trong nhóm đối tượng này là cần thiết. 

Mục tiêu: Xác định tỉ lệ hiện mắc và các yếu tố nguy cơ liên quan bệnh tim mạch của cán bộ thuộc diện Ban 

Bảo vệ, chăm sóc sức khỏe cán bộ tỉnh Tây Ninh năm 2012. 

Phương  pháp  nghiên  cứu: Nghiên cứu cắt ngang được tiến hành tháng 6 năm 2012 trên 384 cán bộ tại 

đơn vị Ban Bảo vệ, chăm sóc sức khỏe cán bộ Tỉnh Tây Ninh về các bệnh lý tim mạch gồm tăng huyết áp, nhồi  máu cơ tim, bệnh lý mạch vành và tai biến mạch máu não 

Kết quả:. Trong các bệnh tim mạch, tăng huyết áp, bệnh lý mạch vành, lần lượt chiếm tỉ lệ hơn 50%, gần 

23%. Các yếu tố liên quan đến bệnh lý tim mạch tìm thấy trong nghiên cứu này là tuổi từ 40 trở lên, tình trạng  đương chức, và số năm hút thuốc lá. 

Kết luận: Chính quyền cần phối hợp với y tế để triển khai các hoạt động định kỳ tầm soát hội chứng rối loạn 

lipid máu, đái tháo đường, bệnh tim mạch, truyền thông đặc biệt cho cán bộ, công chức tỉnh Tây Ninh, đặc biệt  tập trung nhóm cán bộ từ 40 tuổi trở lên.  

Từ khoá: Bệnh tim mạch, cán bộ công chức, yếu tố nguy cơ bệnh tim mạch. 

ABSTRACT 

PREVALENCE AND RISK FACTORS OF CARDIOVASCULAR DISEASE AMONG CIVIL SERVANTS   TAKEN CARE AT DEPARTMENT OF HEALTH PROTECTION ANDCARE IN TAY NINH PROVINCE 

Bui Chanh Tong, Nguyen Hong Hoa, Le Hoang Ninh 

* Y Hoc TP. Ho Chi Minh * Vol. 18 ‐ Supplement of No 6‐ 2014: 57 – 67 

Background: Cardiovascular disease is a public health concern in many countries due tohigh mortality and 

morbidity  rates.  In  Vietnam,  improvement  in  living  conditions,  changes  in  life‐style  such  as  high  fat  diet,  sedentary life have increased the number of people who suffer from cardiovascular diseases, especially among civil  servants. Most of civil servants in Tay Ninhaged 45 years or over (75%) work underhigh pressure, and have a  little time for physical activities. Thus, it is necessary to evaluate the prevalence of cardiovascular disease and risk  factors in this population.  

Objectives: To determine the prevalence of cardiovascular disease and risk factors among civil servants who 

aretaken care at theDepartment of Health Protection and Care in Tay Ninh province in 2012. 

Methods: Across‐sectional study was conducted in June 2012. The study population consisted of 384 civil 

*Ban Bảo vệ và Chăm sóc sức khỏe tỉnh Tây Ninh   

**Khoa Y Tế Công Cộng, Đại học Y Dược TP. Hồ Chí Minh  ***ViệnY Tế Công Cộng TP. Hồ Chí Minh 

Trang 2

servants with cardiovascular disease who were taken careat the Department of Health Protection and Care in Tay  Ninh province. 

Result:  The  prevalences  ofhypertension  and  coronary  artery  disease  wereover  50%  and  nearly  23% 

respectively. The study showed that age of 40 and over, employment, and the number of years of smoking were  associated with cardiovascular disease. 

Conclusion: The co‐operation between the local government and health authorities is essential to implement 

communiation  activities  and  periodic  screeningfor  dyslipidemia,  diabetes,  cardiovascular  disease  among  civil  servants, especially thoseaged 40 and over. 

Key words: cardiovascular disease, civil servant, prevalence, risk factors. 

ĐẶT VẤN ĐỀ 

Bệnh tim mạch hiện là vấn đề y tế công cộng 

tại  nhiều  quốc  gia  do  tỉ  lệ  tử  vong  và  tàn  phế 

đứng hàng đầu các nhóm bệnh mãn tính không 

lây.  Theo  ước  tính  của  Tổ  chức  Y  tế  Thế  giới 

(WHO), hàng năm có khoảng 17,5 triệu người tử 

vong  do  bệnh  tim  mạch.  Tử  vong  do  bệnh  tim 

mạch chiếm 1/3 tử vong chung của toàn thế giới 

(17/50 triệu ca tử vong), trong đó 80% tập trung 

ở các quốc gia đang phát triển, trong đó có Việt 

Nam.  Từ  những  năm  50  của  thế  kỷ  trước,  các 

bệnh  tim  mạch  và  các  yếu  tố  nguy  cơ  đã  được 

tập trung nghiên cứu nhằm khống chế tỉ lệ mắc 

và tử vong tại nhiều quốc gia(8). 

Tại Việt Nam, đời sống nhân dân ngày được 

cải thiện nhiều so với những năm 80 của thế kỷ 

trước. Sự tăng trưởng kinh tế giúp cải thiện đời 

sống người dân đồng thời cũng thay đổi lối sống 

của họ thay đổi chế độ ăn, ít vận động, đặc biệt 

những đối tượng hành chính sự nghiệp, những 

cán bộ viên chức làm công tác lãnh đạo quản lý. 

Lối  sống  ít  vận  động,  ăn  nhiều  dầu  mỡ,  chất 

đạm, uống nhiều rượu bia làm gia tăng nguy cơ 

mắc  bệnh  tim  mạch,  tăng  huyết  áp,  đột  quỵ. 

Chìa khóa để chúng ta dự phòng có hiệu quả các 

bệnh tim mạch là hành động kiểm soát các yếu 

tố nguy cơ tim mạch. 

Tại  tỉnh  Tây  Ninh,  hầu  hết  các  cán  bộ  lãnh 

đạo  đều  trên  45  tuổi  (chiếm  75%)(23).  Với  nhiệm 

vụ lãnh đạo quản lý giải quyết những công việc 

có  tính  chất  quyết  định  phát  triển  của  tỉnh  Tây 

Ninh;  áp  lực  công  việc  đối  với  bản  thân  luôn 

căng  thẳng,  dự  Hội  nghị  nhiều,  có  ít  thời  gian 

vận  động  thể  lực  cho  bản  thân.  Theo  ghi  nhận  của WHO, lối sống tĩnh tại kết hợp với ăn uống  không hợp lý là nguyên nhân gia tăng các bệnh 

lý tim mạch. Hiện nay, chưa có nghiên cứu nào  thực hiện đánh giá các yếu tố nguy cơ liên quan  bệnh  tim  mạch  trên  đối  tượng  cán  bộ  lãnh  đạo  tại tỉnh Tây Ninh. Nhằm xác định tỷ lệ hiện mắc 

và các yếu tố nguy cơ liên quan bệnh tim mạch  của các cán bộ thuộc Ban Bảo vệ, chăm sóc sức  khỏe  cán  bộ  tỉnh  Tây  Ninh  năm  2012,  nghiên  cứu sẽ cung cấp cái nhìn tổng quan về các yếu tố  nguy cơ mắc bệnh tim mạch trên các đối tượng 

là  cán  bộ  để  đưa  ra  những  can  thiệp  cho  đối  tượng có nguy cơ mắc bệnh nói riêng và toàn bộ  cán bộ lãnh đạo tại tỉnh Tây Ninh nói chung. 

Mục tiêu nghiên cứu 

1.  Xác định tỉ lệ hiện mắc các bệnh tim mạch  của cán bộ. 

2.  Xác  định  các  yếu  tố  nguy  cơ  liên  quan  bệnh tim mạch. 

3.  Xác  định  mối  liên  quan  giữa  bệnh  tim  mạch với đặc điểm dân số xã hội của đối tượng  nghiên cứu. 

4. Xác định mối liên quan giữa tỉ lệ hiện mắc  bệnh tim mạch với các yếu tố nguy cơ 

ĐỐI  TƯỢNG ‐ PHƯƠNG  PHÁP  NGHIÊN  CỨU  Thiết kế nghiên cứu 

Nghiên cứu cắt ngang vào tháng 6 năm 2012  tại đơn vị Ban Bảo vệ, chăm sóc sức khỏe cán bộ  Tỉnh Tây Ninh. 

Trang 3

Đối tượng nghiên cứu 

Cán  bộ  thuộc  diện  quản lý  của  Ban Bảo  vệ, 

chăm sóc sức khỏe cán bộ tỉnh Tây Ninh tại thời 

điểm nghiên cứu. 

Phương pháp nghiên cứu 

Cỡ  mẫu  là  384.  Chọn  mẫu  ngẫu  nhiên  đơn 

dựa  vào  danh  sách  cán  bộ  được  quản  lý  năm 

2012. 

Tiêu chí đưa vào 

Cán  bộ  có  tên  trong  danh  sách  ở  địa  bàn  8 

huyện và một thị xã, cán bộ đương chức hoặc đã 

nghỉ hưu từ các Ban, Ngành tỉnh đến Ban khám 

sức khỏe tập trung vào thời điểm nghiên cứu. 

Tiêu chí loại ra 

Những  cán  bộ  không  đến  khám  sức  khỏe 

trong cả 3 ngày tổ chức khám sức khỏe. 

Phương pháp xử lý số liệu 

Xử  lý  số  liệu  bằng  phần  mềm  Stata  12. 

Thống  kê  mô  tả  bằng  các  bảng  tần  số  và  tỷ  lệ 

phần trăm cho các biến số định tính (biến số nhị 

giá,  biến  số  danh  định),  trung  bình,  độ  lệch 

chuẩn, trung vị, khoảng tứ phân vị cho các biến 

số định lượng (liên tục và không liên tục). Thống 

kê  phân  tích  sử  dụng  kiểm  định  chi  bình 

phương, kiểm định chính xác Fisher, để xét các 

mối  liên  quan  giữa  2  biến  số  nhị  giá.  Hồi  qui 

logistic  được  sử  dụng  để  kiểm  định  mối  liên 

quan  giữa  biến  số  phụ  thuộc  là  biến  nhị  giá  và 

biến số độc lập là biến danh định hoặc biến định 

lượng.  Hồi  qui  tuyến  tính  đơn  biến  được  sử 

dụng  để  kiểm  định  mối  liên  quan  giữa  biến  số 

phụ  thuộc  là  biến  số  định  lượng  hoặc  biến  số 

danh định thứ tự có tính khuynh hướng với biến 

số độc lập là biến số định tính hoặc định lượng. 

KẾT QUẢ 

Đặc tính dân số học của các đối tượng trong 

nghiên cứu 

Trong  384  cán  bộ  nghiên  cứu  tỉ  lệ  nam  giới 

cao hơn  gấp  4  lần tỷ  lệ nữ  giới.  Nhóm tuổi  tập 

trung chủ yếu từ 50 – 69 tuổi (63,5%). Tỉ lệ giữa 

nhóm cán bộ hiện còn đương chức và nhóm hưu 

trí là tượng đương nhau. Theo sự đánh giá chủ  quan về sức khỏe hiện tại, 87,2% sức khỏe bình  thường.  Gần  2/3  các  cán  bộ  có  chỉ  số  BMI  bình  thường  (18,5  –  25),  1/3  các  cán  bộ  có  tình  trạng  thừa cân (BMI >25). 

Bảng 1: Đặc tính dân số học của đối tượng nghiên cứu 

Đặc tính (n=384)

Tần

số % Đặc tính (n=384)

Tần

số %

Giới tính Sức khỏe hiện tại (chủ quan của đối tượng) Nam 313 81,5 Rất tốt 28 7,3

Nữ 71 18,5 Tốt 19 5,0 Nhóm tuổi Bình thường 335 87,2 Dưới 40 tuổi 5 1,3 Xấu 2 0,5 40-49 tuổi 56 14,6 Tình trạng dinh dưỡng

50-59 tuổi 164 42,7 Thiếu cân (BMI < 18,5) 11 2,9 60-69 tuổi 80 20,8 Bình thường (18,5 <

BMI < 25) 260 67,7

70 tuổi trở lên 79 20,6 Thừa cân (BMI ≥ 25) 113 29,4 Nghề nghiệp Đương chức 192 50,0

Hưu trí 192 50,0

Đặc điểm các bệnh tim mạch 

Bảng 2: Đặc điểm các bệnh tim mạch 

Bệnh tim mạch Tần số % Bệnh tim mạch Tần số %

Nhồi máu cơ tim (NMCT) 7 1,8 Tai biến mạch máu não (TBMMN) 9 2,3 Bệnh lý mạch

vành (BMV) 88 22,9Tăng huyết áp (THA) 201 52,5 Bệnh tim mạch (BTM) (Có 1 trong 4 bệnh nêu

trên)

229 59,6

Các  bệnh  lý  tim  mạch  được  khảo  sát  trong  nghiên cứu bao gồm tăng huyết áp, nhồi máu cơ  tim,  bệnh  lý  mạch  vành  và  tai  biến  mạch  máu  não.  Ngoài  ra,  không  có  cán  bộ  nào  có  bệnh  lý  tim  mạch  khác  ngoài  4  bệnh  nêu  trên.  Tăng  huyết áp chiếm tỷ lệ cao nhất (hơn 50%). 

Mối  liên  quan  giữa  các  bệnh  lý  tim  mạch  với các đặc tính dân số học 

Từ 40 tuổi trở lên, tỉ lệ cán bộ có nhồi máu cơ  tim, bệnh lý mạch vành, tai biến mạch máu não,  tăng huyết áp, bệnh tim mạch lần lượt tăng gấp  3,8 lần (KTC 95%: 1,4‐10,9), 2 lần (KTC 95%: 1,5‐

2,5), 3,1 lần (KTC 95%: 1,4‐7,1), 2,2 lần (KTC 95%: 

1,8‐2,8), 2,4  lần  (KTC  95%: 1,9‐3,1)  khi  tăng mỗi 

10 tuổi. Tăng mỗi 1 tuổi, tỉ lệ cán bộ có nhồi máu cơ 

Trang 4

tim,  bệnh  lý  mạch  vành,  tai  biến  mạch  máu  não, 

tăng  huyết  áp,  bệnh  tim  mạch  lần  lượt  tăng  10% 

(KTC 95%: 2%‐18%), 6% (KTC 95%: 4%‐8%), 8% 

(KTC 95%:2%‐15%), 8% (KTC 95%: 5%‐10%), 8% 

(KTC 95%:6%‐11%). Tỷ lệ cán bộ đương chức có 

bệnh  lý  mạch  vành,  tăng  huyết  áp,  bệnh  tim 

mạch tương ứng cao gấp 0,4 lần (KTC 95%: 0,3‐

0,7), 0,6 lần (KTC 95%: 0,5‐0,7), 0,6 lần (KTC 95%: 

0,5‐0,8 lần) cán bộ hưu trí. Tỷ lệ cán bộ có bệnh 

lý mạch vành, tăng huyết áp, bệnh tim mạch lần  lượt tăng gấp 2,6 lần (KTC 95%: 1,2‐5,2), 1,5 lần  (KTC  95%:  1,02‐2,1),  1,5  lần  (KTC  95%:  1,1‐2,2)  khi tình trạng sức khỏe theo đánh giá chủ quan  càng xấu. Tỉ lệ cán bộ có tăng huyết áp tăng gấp  1,6  lần  (KTC  95%:  1,1‐2,4)  khi  tình  trạng  dinh  dưỡng  của  cán  bộ  tăng  lên  một  bậc  (thiếu  cân  đến  cân  nặng  bình  thường,  cân  nặng  bình  thường đến thừa cân – béo phì). 

Bảng 3:Kiểm định mối liên quan giữa các bệnh lý tim mạch với các đặc tính dân số học 

Yếu tố

n

(%) p

SĐKH (KTC95%)

(KTC95%)

(KTC95%)

(KTC95%)

(KTC95%)

Giới tính Nam (2,2) 7 0,36

(21,7)

(2,9)

(54,3)

(61,0)

Nhóm tuổi

< 40 tuổi (0,0) 0

0,01 c

3,8(1,4-10,9) g

0 (0,0)

<0,01 c 2,0 (1,5-2,5) g

0 (0,0)

0,01 c 3,1 (1,4-7,1) g

0 (0,0)

<0,01 a 2,2(1,8-2,8) d

0 (0,0)

<0,01 c 2,4 (1,9-3,1) g

40-49

tuổi

0

(0,0)

6 (10,7)

0 (0,0)

11 (19,6)

15 (26,8) 50-59

tuổi

1

(0,6)

25 (15,2)

1 (0,6)

79 (48,2)

91 (55,5) 60-69

Đương chức Đương

chức

1

(0,5)

(14,1)

<0,01 a 0,4 (0,3-0,7) d 0

(0,0)

(38,0)

<0,01 a 0,6(0,5-0,7) d 89

(46,4)

<0,01 a 0,6(0,5-0,8) d

Sức khỏe hiện tại Rất tốt (0,0) 0

2 (7,1)

0,01 c 2,6 (1,2-5,2) g

0 (0,0)

11 (39,3) 0,04 c 1,5(1,0-2,1) h

13 (46,4) 0,02 c 1,5(1,1-2,2) g

Bình

thường

7

(2,1)

86 (25,7)

8 (2,4)

181 (54,0)

207 (61,8)

Tình trạng dinh dưỡng Thiếu

cân

1

(9,1)

5 (45,5)

0 (0,0)

4 (36,4) 0,03 c 1,6(1,1-2,4) h

6 (54,6)

Bình

thường

3

(1,2)

55 (21,2)

5 (1,9)

129 (49,6)

148 (56,9)

0,08(0,06-0,11) h

0,08(0,01-0,15) h

a : Kiểm định χ 2 ;  b : Kiểm định chính xác Fisher;  c : Hồi qui logistic;  d : PR;  g : OR,  h : HSTQ; //: Không xác định;  

 

Trang 5

Mối liên quan giữa các bệnh lý tim mạch với các yếu tố, hành vi nguy cơ 

Bảng 4:Kiểm định mối liên quan giữa các bệnh lý tim mạch với các yếu tố và hành vi nguy cơ 

Yếu tố

n (%) p (KTC95%) SĐKH n (%) p (KTC95%) SĐKH (%) n p (KTC95%) SĐKH n (%) p (KTC95%) SĐKH n (%) p (KTC95%) SĐKH Tiền sử gia đình

Tim mạch

Có (2,6) 3 0,43

(26,3)

(1,8)

(58,8)

(64,9)

Đái tháo đường

Có (0,0) 0 1,00

(35,3)

(0,0)

(76,5)

Thói quen

Hút thuốc lá

Có (2,3) 3 0,69

(18,5)

(1,5)

(50,0)

(56,9)

Thời gian HTL

1-10 năm (0,0) 0

1 (12,5)

<0,01 c 1,7 (1,2-2,3) d

0 (0,0)

3 (37,5)

<0,01 c 1,5 (1,1-2,1) d

3 (37,5)

<0,01 c 1,7(1,2-2,4) d

Lượng thuốc lá / ngày

> 10

điếu/ngày

2

(3,2)

(27,1)

0,03 a 2,4 (1,1-5,4) d 1

(1,7)

(44,1)

(54,2)

≤ 10

điếu/ngày

0

(0,0)

7 (11,3)

1 (1,6)

34 (54,8)

37 (59,7)

Uống rượu / bia

Có (0,5) 1 0,06

(17,2)

<0,01 a 0,6 (0,4-0,9) d 2

(1,0)

(48,5)

(55,1)

Ăn trái cây

Có (1,9) 7 1,00

(23,0)

(2,4)

(52,2)

(59,6)

Ăn rau

Hoạt động thể lực

Có (1,3) 4 0,18

(21,7)

(2,0)

(53,0)

(59,3)

Trang 6

Yếu tố

n (%) p (KTC95%) SĐKH n (%) p (KTC95%) SĐKH (%) n p (KTC95%) SĐKH n (%) p (KTC95%) SĐKH n (%) p (KTC95%) SĐKH

Thời gian

(0,03-0,1) h

a : Kiểm định χ 2 ;  b : Kiểm định chính xác Fisher;  c : Hồi qui logistic;  d : PR;  g : OR,  h : HSTQ; //: Không xác định. 

SĐKH:số đo kết hợp 

Tỉ  lệ  cán  bộ  có  bệnh  lý  mạch  vành  trong 

nhóm cán bộ có uống rượu/bia gấp 0,6 lần (KTC 

95%:  0,4‐0,9)  trong  nhóm  không  có  uống 

rượu/bia. Trong nhóm cán bộ có hút thuốc lá, tỉ 

lệ cán bộ có bệnh lý mạch vành, tăng huyết áp, 

bệnh  tim  mạch  lần  lượt  tăng  gấp  1,7  lần  (KTC 

95%:  1,2‐2,3),  1,5  lần  (KTC  95%:  1,1‐2,1),  1,8  lần 

(KTC 95%: 1,2‐2,4) khi số năm hút thuốc lá tăng 

mỗi 10 năm. Tăng mỗi 1 năm hút thuốc lá, tỉ lệ 

cán  bộ  có  bệnh  lý  mạch  vành,  tăng  huyết  áp, 

bệnh tim mạch lần lượt tăng 5% (KTC 95%: 1%‐

8%),  5%  (KTC  95%:2%‐8%),  6%  (KTC  95%:3%‐

10%).  Trong  nhóm  cán  bộ  có  hút  thuốc  lá,  tỉ  lệ 

cán bộ có bệnh lý mạch vành trong nhóm cán bộ 

hút thuốc lá trên 10 điếu/ngày gấp 2,4 lần (KTC 

95%: 1,1‐5,4) trong nhóm cán bộ hút thuốc lá từ 

10 điếu trở xuống/ngày. Tỉ lệ cán bộ có bệnh tim 

mạch  trong  nhóm  cán  bộ  có  người  trong  gia 

đình  bị  đái  tháo  đường  gấp  1,3  lần  (KTC  95%: 

1,1‐1,6)  trong  nhóm  không  có  người  trong  gia 

đình bị đái tháo đường. 

Mối liên quan giữa bệnh tim mạch với đái 

tháo đường, rối loạn lipid máu 

Bảng 5: Các mối liên quan giữa bệnh tim mạch với 

các bệnh có liên quan 

Yếu tố p-value PR (hoặc OR) KTC95%

Đái tháo đường < 0,001 1,71 1,51-1,94

Rối loạn lipid máu 0,001 1,53 1,15-2,04

Tỉ lệ cán bộ có bệnh tim mạch trong nhóm có 

bệnh  đái  tháo  đường  gấp  1,71  lần  (KTC95%: 

1,51‐1,94)  trong  nhóm  không  có  bệnh  đái  tháo  đường.  Tỉ  lệ  cán  bộ  có  bệnh  tim  mạch  trong  nhóm có hội chứng rối loạn lipid máu gấp 1,53  lần (KTC 95% là 1,15‐2,04) trong nhóm không có  hội chứng rối loạn lipid máu. 

Xét nhiễu và tương tác, hiệu chỉnh mối liên  quan 

Trong  các  mối  liên  quan  được  khảo sát,  các  yếu  tố  có  liên  quan  đến  bệnh  tim  mạch  là  tuổi,  tình  trạng  đương  chức,  đánh  giá  sức  khỏe  theo  chủ quan của cán bộ, chỉ số BMI, tiền sử gia đình 

có mắc bệnh đái tháo đường, thời gian hút thuốc 

lá,  tình  trạng  mắc  đái  tháo  đường  và  rối  loạn  lipid máu của cán bộ. Trong đó, tuổi, tình trạng  đương  chức  và  tiền  sử  gia  đình  mắc  bệnh  đái  tháo  đường  của  cán  bộ  có  mối  liên  quan  đồng  thời đến bệnh tim mạch và đái tháo đường của  bản thân cán bộ. 

Xét mối liên quan từng cặp các yếu tố có liên  quan đến bệnh tim mạch của cán bộ cho thấy có  yếu tố đồng liên quan một cách có ý nghĩa thống 

kê giữa tuổi, tình trạng đương chức với các yếu 

tố  liên  quan  còn  lại.  Giữa  các  yếu  tố  liên  quan  còn  lại  (ngoài  yếu  tố  tuổi  và  tình  trạng  đương  chức), không có sự đồng liên quan nào khác tồn  tại. Ngoài ra, yếu tố tiền sử gia đình có người bị  đái  tháo  đường  không  có  bất  cứ  hiện  tượng  đồng liên quan nào với các yếu tố khác. 

Bảng 6:Hồi qui logistic đa biến phân tầng theo tình trạng đương chức của cán bộ 

Cán bộ hưu trí (n=58) p(Wald chi2) = 0,058; Pseudo R2 = 16,38

Tuổi 0,046 0,058 0,426 -0,067-0,159

Chỉ số BMI 0,042 0,137 0,759 -0,227-0,311 Thời gian hút thuốc lá 0,049 0,029 0,094 -0,008-0,106

Tình trạng đái tháo đường 1,908 1,220 0,118 -0,482-4,298

Trang 7

Tình trạng rối loạn lipid máu 0,395 0,944 0,675 -1,454-2,245

Cán bộ đương chức (n=70) p(Wald chi2) = 0,02; Pseudo R2 = 24,25

Tuổi 0,155 0,075 0,038 0,008-0,301 Sức khỏe hiện tại 0,041 0,445 0,927 -0,831-0,913 Chỉ số BMI 0,083 0,156 0,595 -0,223-0,388

Thời gian hút thuốc lá 0,025 0,040 0,533 -0,054-0,104

Tình trạng đái tháo đường 0,977 1,131 0,388 -1,240-3,193 Tình trạng rối loạn lipid máu 1,802

(6,06)*

0,859 (5,21)*

0,036 0,118-3,486

(1,13-32,66)*

*: OR 

Tiến hành phân tích hồi qui logistic đa biến 

phân  tầng  theo  tình  trạng  đương  chức  của  cán 

bộ  cho  thấy  sau  khi  phân  tầng  theo  tình  trạng 

đương chức, bệnh tim mạch của cán bộ thực sự 

không bị ảnh hưởng bởi đánh giá sức khỏe chủ 

quan của cán bộ, chỉ số BMI, thời gian hút thuốc 

lá và tình trạng đái tháo đường của cán bộ. Mối 

liên quan được tìm thấy giữa bệnh tim mạch và 

các yếu tố này khi phân tích riêng lẻ từng yếu tố 

chủ  yếu  bị  nhiễu  bởi  sự  tác  động  của  tuổi  đến 

các  yếu  tố  này  và  tình  trạng  rối  loạn  lipid  của 

cán  bộ.  Ngoài  ra,  phân  tích  phân  tầng  còn  cho 

thấy mô hình các yếu tố tác động này chỉ thực sự 

có  ý  nghĩa  giải  thích  cho  tình  trạng  bệnh  tim 

mạch trên nhóm cán bộ đương chức và phù hợp 

đến  24,25%  đối  với  dân  số  nghiên  cứu,  mà 

không  thể  giải  thích  được  một  cách  có  ý  nghĩa 

thống  kê  cho  tình  trạng  bệnh  tim  mạch  trên 

nhóm cán bộ hưu trí. 

BÀN LUẬN 

Đặc điểm dân số học, tính đại diện, độ bao 

phủ của kết quả nghiên cứu 

Cán bộ được lựa chọn vào nghiên cứu đúng 

theo  kỹ  thuật  chọn  mẫu.  Tỉ  lệ  nam  cao  hơn  nữ 

cho thấy sự phân bố giới tính mất cân bằng. Cán 

bộ công chức tuổi đời, tuổi nghề cao dẫn đến cấu 

trúc phân bố độ tuổi tập trung chủ yếu trong độ 

tuổi  trên  40  tuổi,  đặc  biệt  là  nhóm  tuổi  50  –  69 

tuổi. Kết quả chưa phản ánh đúng tình trạng sức 

khỏe  cán  bộ  trẻ.  Nhóm  cán  bộ  đương  chức  và 

nhóm cán bộ hưu trí phân bố cân đối. Tỉ lệ người 

cao tuổi rất cao hơn xu hướng phát triển dân số 

Việt Nam(22) nhưng phù hợp bởi đối tượng được 

khảo  sát  là  cán  bộ  công  chức  và  đặc  thù  thâm  niên công tác lâu năm. 

So sánh đánh giá chủ quan về tình trạng sức  khỏe  và  đánh  giá  thông  qua  các  hạn  chế,  khó  khăn,  cho  thấy  một  sự  đối  lập.  Nhận  thức  của  cán bộ về sức khỏe của mình chưa thực sự phù  hợp, vì vậy ý thức dự phòng, khả năng phát hiện  sớm bệnh và can thiệp giảm yếu tố nguy cơ chưa  được quan tâm đúng mức.  

Chỉ số BMI và tình trạng dinh dưỡng của các  cán  bộ  đứng  trước  nguy  cơ  tiền  béo  phì.  Tỉ  lệ  thừa cân – béo phì ở cán bộ cao hơn nhiều so với  thống  kê  của  Viện  Dinh  Dưỡng  trong  dân  số  thành phố năm 2010(24). Là cán bộ công chức của  tỉnh với đặc thù công việc chủ yếu là công việc  tĩnh  tại,  thói  quen  giao  tiếp  xã  hội,  tình  trạng  dinh  dưỡng  và  các  chế  độ  vận  động  là  những  nguy cơ điển hình dẫn đến tiền béo phì. 

Các yếu tố nguy cơ 

Độ tuổi của cán bộ được khảo sát tương đối  cao, là một yếu tố nguy cơ cao đối với các bệnh  tim mạch, tình trạng sức khỏe, các chức năng bộ  phận  cơ  thể(15).  Chỉ  số  BMI,  tình  trạng  dinh  dưỡng là báo hiệu nguy cơ bệnh mãn tính không  lây,  đặc  biệt  có  liên  quan  đến  nội  tiết,  dinh  dưỡng,  tim  mạch  như  đái  tháo  đường,  rối  loạn  lipid máu, tăng huyết áp là rất cao(17). 

Tỷ  lệ  cán  bộ  mắc  bệnh  đái  tháo  đường  (14,32%) rất cao so với tỉ lệ đái tháo đường ở khu  vực  Tây  Nam  Bộ  theo  điều  tra  của  Bệnh  viện  Nội tiết Trung ương năm 2012 (7,2%)(1). Với đặc  điểm độ tuổi trung bình tương đối cao, tỉ lệ này  tương ứng cao một cách có thể lý giải.  

Trang 8

Tăng  huyết  áp  được  biết  đến  là  một  trong 

những bệnh lý tim mạch, là một yếu tố nguy cơ 

của  một  số  bệnh  tim  mạch  có  nguy  kịch  như 

nhồi máu cơ tim, tai biến mạch máu não, bệnh lý 

mạch vành, đột quỵ(8). Nghiên cứu cho thấy tỷ lệ 

cán bộ bị tăng huyết áp tương đối cao, cao hơn 

rất nhiều  so  với  thống kê  tỷ  lệ tăng huyết áp  ở 

người dân Việt Nam(25). Tỷ lệ tăng huyết áp cao 

là một tiền đề cho tình trạng và các yếu tố nguy 

cơ liên quan đến bệnh tim mạch. Thời gian mắc 

bệnh  tăng  huyết  áp  kéo  dài,  đồng  thời  với  độ 

tuổi ngày càng tăng cao có khả năng dẫn đến các 

bệnh  lý  tim  mạch  nguy  kịch,  ảnh  hưởng  đến 

chất lượng cuộc sống cũng như có thể dẫn đến 

đột quỵ, tai biến, thậm chí tử vong.  

Nghiên cứu cho thấy tỷ lệ cán bộ có gia đình 

có  người  bị  bệnh  tim  mạch  tương  đối  cao  (gần 

30%).  Tiền  sử  gia  đình  cũng  được  chứng  minh 

qua nhiều nghiên cứu cho thấy có mối liên quan 

và  là  một  trong  những  nguy  cơ  dẫn  đến  bệnh 

tim  mạch  do  yếu  tố  di  truyền,  đặc  biệt  đối  với 

bệnh lý mạch vành. 

Rối loạn lipid máu cũng được xem như một 

trong những yếu tố nguy cơ có liên quan đến các 

bệnh tim mạch và được chứng minh qua nhiều 

nghiên cứu trong và ngoài nước(2,12). Nghiên cứu 

này cho thấy rối loạn lipid ở các cán bộ chiếm tỉ 

lệ rất cao. Đặc điểm đối tượng nghiên cứu là các 

cán bộ công chức, thói quen ăn uống, sinh hoạt, 

vận động của các cán bộ dẫn đến nhiều nguy cơ 

tăng lượng cholesterol toàn phần và thành phần 

lipid  không  tốt  cho  cơ  thể.  Tình  trạng  này  cần 

được báo động, nguy cơ mắc các bệnh tim mạch 

theo đó tăng cao, đặc biệt đối với các cán bộ có 

độ tuổi trung niên.  

Nghiên cứu cho thấy tỷ lệ cán bộ hiện có hút 

thuốc lá tương đối cao và thời gian hút thuốc lá 

tương  đối  lâu,  lượng  nhiều  (hơn  1/2  gói  mỗi 

ngày). Tính chất công việc của các cán bộ phần 

lớn là lao động trí óc và thói quen hút thuốc khi 

làm  việc hoặc  khi  sử  dụng  rượu/bia cũng được 

khảo  sát  thấy  trong  nhiều  nghiên  cứu.  Tình 

trạng hút thuốc  lá  nhiều  cho  thấy nguy  cơ  mắc 

bệnh tim mạch và một số biến chứng nặng như 

xơ vữa động mạch, nhồi máu cơ tim, đột quỵ các  cán bộ tăng cao. 

Tình  trạng  uống  rượu  bia  của  các  cán  bộ  được  khảo  sát  cho thấy  là một nguy cơ  đối  với  bệnh tim mạch, tăng huyết áp, tổn thương gan,  cũng như các biến chứng hệ thần kinh. Đối với  người  dân  Việt  Nam  nói  riêng  và  thế  giới  nói  chung,  rượu  bia  thường  được  sử  dụng  nhiều  trong  giao  tiếp  xã  hội,  được  xem  như  là  một  trong  những  loại  thức  uống  phổ  biến,  đặc  biệt  với  các  đối  tượng  có  công  việc  đặc  thù  thường  xuyên phải giao tiếp xã hội(16). Đây cũng là một  vấn đề cần được cảnh báo. 

Các bệnh lý tim mạch 

Các  bệnh  lý  tim  mạch  gồm  tăng  huyết  áp,  nhồi  máu  cơ  tim,  bệnh  lý  mạch  vành,  tai  biến  mạch  máu  não  là  nguyên  nhân  chính  gây  tử  vong như kèm theo đái tháo đường, tăng huyết 

áp, nhồi máu cơ tim, đột quỵ(7,19). Trong nghiên  cứu cho thấy bệnh tim mạch được khảo sát chủ  yếu là tăng huyết áp, nhồi máu cơ tim, bệnh lý  mạch  vành,  tai  biến  mạch  máu  não.  Đây  là  những bệnh tim mạch rất phổ biến trên toàn thế  giới  nói  chung  và  ở  Việt  Nam  nói  riêng(2,11,20,12).  Nghiên cứu vẫn chưa khai thác được những cán 

bộ đã qua đời do nguyên nhân có liên quan trực  tiếp hoặc gián tiếp đến bệnh tim mạch. Do đó, số  trường  hợp  nặng  (nhồi  máu  cơ  tim,  tai  biến  mạch máu não) rất ít. 

Các  đặc  điểm  dân  số  học  có  liên  quan  đến  bệnh tim mạch được tìm thấy trong nghiên  cứu 

Nghiên cứu cho thấy giới tính không có liên  quan  đối  với  bệnh  tim  mạch.  Tuy  nhiên,  nhiều  tài  liệu  cho  thấy  nam  giới  thực  sự  có  nguy  cơ  mắc các bệnh động mạch vành, đột quỵ và bệnh  tim mạch cao hơn nữ giới(4,8,13,14,16,6). Nghiên cứu 

có sự khác biệt lớn so với các tài liệu trước đây. 

Về giới tính, có thể do sai lệch ngẫu nhiên trong  quá trình nghiên cứu, hoặc do sự chênh lệch quá  lớn  trong  cơ  cấu  giới  tính  của  mẫu  nghiên  cứu 

Trang 9

dẫn đến không thể đưa ra kết luận chính xác và 

hợp lý. 

Một trong những yếu tố xem là nguy cơ chính 

yếu  của  bệnh  tim  mạch  chính  là  tuổi.  Nhiều 

nghiên cứu trước và nghiên cứu này khẳng định 

tuổi càng cao thì nguy cơ mắc bệnh tim mạch càng 

tăng.  Bên  cạnh  đó,  tuổi  cao  cũng  là  một  trong 

những  nguy  cơ  trực  tiếp  đến  một  số  bệnh  khác 

xuất phát từ suy thể chất, tinh thần do tuổivà đóng 

vai trò phát triển của các bệnh tim mạch. 

Giả  thuyết  tiền  đề  xem  tình  trạng  đương 

chức là yếu tố nguy cơ bệnh tim mạch bởi áp lực 

công  việc  và  stress  đã  được  chứng  minh  là  có 

ảnh  hưởng  đến  các  bệnh  tim  mạch.  Tuy  nhiên, 

kết quả nghiên cứu lại hoàn toàn ngược lại. Xem 

xét lại các mối liên quan, kết luận này có sai lệch 

bởi yếu tố gây nhiễu là tuổi. Cán bộ có tuổi càng 

cao  thì  tỷ  lệ  về  hưu  càng  cao,  tuổi  ảnh  hưởng 

trực tiếp đến các bệnh tim mạch. Như vậy, yếu 

tố  đương  chức  thực  sự  không  ảnh  hưởng  đến 

tình trạng bệnh tim mạch, có thể gây nhiễu các 

mối liên quan khác. Bên cạnh đó, cần xem xét lý 

do  về  hưu  của  cán  bộ.  Cán  bộ  có  các  bệnh  tim 

mạch hoặc các bệnh lý kèm theo không còn đủ 

sức khỏe để tiếp tục đương chức, buộc về hưu. 

Ngoài  ra,  nghiên  cứu  cho  thấy  cán  bộ  tự 

đánh  giá  sức  khỏe  mình  càng  xấu  thì  tỉ  lệ  có 

bệnh tim mạch càng cao. Cán bộ có các bệnh tim 

mạch  hoặc  các  bệnh  liên  quan  đều  đang  được 

điều  trị.  Chính  vì  nhận  thức  được  tình  trạng 

bệnh tật của mình, các cán bộ sẽ chủ quan đánh 

giá tình trạng sức khỏe của mình xấu hơn bình 

thường.  Các  bệnh  tim  mạch  có  ảnh  hưởng  đến 

sức  khỏe,  chất  lượng  cuộc  sống,  đe  dọa  tính 

mạng. Vì mang các bệnh tim mạch, sức khỏe của 

các cán bộ suy yếu rõ đẫn đến sự đánh giá chủ 

quan về sức khỏe cũng theo đó mà xấu đi. 

Yếu tố nguy cơ 

Có  mối  liên  quan  có  ý  nghĩa  thống  kê  giữa 

bệnh tim mạch với các tiền sử gia đình đái tháo 

đường, thời gian hút thuốc lá, nhưng lại không 

có  mối  liên  quan  với  tiền  sử  gia  đình  bệnh  tim 

mạch,  tình  trạng  hút  thuốc  lá,  lượng  thuốc  lá 

hút,  uống  rượu,  bia,  thói  quen  ăn  rau  quả,  trái  cây và tình trạng vận động. 

Bệnh  lý  mạch  vành  được  chứng  minh  qua  một số nghiên cứu tài liệu trước đây là có yếu tố 

di truyền(8). Tuy nhiên, nghiên cứu này cho thấy  không có mối liên quan. Kết luận này chưa phản  ánh chính xác yếu tố di truyền của các bệnh tim  mạch.  Sai  lệch  có  khả  năng  xảy  ra  trong  quá  trình  nghiên  cứu  vì  thiết  kế  nghiên  cứu  chưa  chuyên biệt để đánh giá yếu tố di truyền. Đánh  giá  tiền  sử  bệnh  của  gia  đình  sai  lệch  do  hồi  tưởng, đặc biệt đối với các cán bộ cao tuổi. Ở cán 

bộ cao tuổi, các thành viên trong gia đình đôi khi 

đã qua đời. Bên cạnh đó, đối với thế hệ ông bà,  cha  mẹ,  khả  năng  phát  hiện  các  bệnh  mạn  tính  tương  đối  khó  bởi  điều  kiện  khoa  học  kỹ  thuật  còn  hạn  chế,  hầu  như  chỉ  dựa  vào  thăm  khám  lâm sàng, không được hỗ trợ xác định các chỉ số  cận lâm sàng. 

Tương  tự,  yếu  tố  tiền  sử  gia  đình  đái  tháo  đường cũng có sai lệch. Tiền sử gia đình đái tháo  đường qua nghiên cứu này lại có mối liên quan  với tình trạng hiện mắc các bệnh tim mạch. Tuy  nhiên, nhiều nghiên cứu đã chứng minh tiền sử  gia  đình  đái  tháo  đường  là  nguy  cơ  đái  tháo  đường của các cán bộ(3,10,18,21) và chính yếu tố hiện  mắc  đái  tháo  đường  có  liên  quan  trực  tiếp  đến  bệnh tim mạch. 

Trong các hành vi nguy cơ, chỉ có duy nhất  thời gian hút thuốc lá trong nhóm các cán bộ có  hút thuốc lá là có liên quan đến bệnh tim mạch.  Kết quả rất khác so với rất nhiều tài liệu về bệnh  tim mạch. Sai lệch do hành vi hút thuốc lá, uống  rượu  bia,  ít  vận  động,  chế  độ  ăn  uống  không  hợp lý thường đi kèm với nhau và chính vì khả  năng có các yếu tố nguy cơ, nhiều yếu tố nguy 

cơ cùng xuất hiện, dẫn đến tình trạng các cán bộ  nếu  có  các  bệnh  lý  tim  mạch  xuất  hiện  bởi  các  yếu tố  nguy  cơ này,  cũng  là những biến  chứng  nặng dễ dẫn đến tử vong do bệnh tim mạch(20).  Ngoài  ra,  trong  nhóm  các  cán  bộ  hiện  có  hút  thuốc  lá,  thời  gian  hút  thuốc  lá  lâu  thì  nguy  cơ  mắc bệnh tim mạch càng cao. Kết quả hoàn toàn 

Trang 10

phù hợp với nhiều nghiên cứu trước và cũng là 

một trong những dấu hiệu cho thấy hút thuốc lá 

có liên quan đến bệnh tim mạch, thay vì không 

có liên quan như kết quả nghiên cứu này đưa ra. 

Xem  xét  sự  tương  tác  giữa  các  yếu  tố  liên 

quan đến tình trạng bệnh tim mạch của các cán 

bộ,  nghiên  cứu  cho  thấy  các  yếu  tố  liên  quan 

theo giả thuyết có tác động đến tình trạng bệnh 

tim  mạch  một  cách  có  ý  nghĩa  thống  kê  trong 

nhóm cán bộ đương chức và không có tác động 

trong nhóm cán bộ hưu trí. 

Hạn chế của nghiên cứu 

Nghiên cứu tồn tại hạn chế là chưa xem xét 

các yếu tố bệnh tim mạch dẫn đến tử vong, chỉ 

khảo sát cán bộ hiện còn sống, là những cán bộ 

có ít, không có các hành vi nguy cơ. Nghiên cứu 

chưa  phản  ảnh  ảnh  hưởng  của  bệnh  tim  mạch 

đối với tình hình tử vong. Mặt khác, việc hồi cứu 

chính  xác  lượng  rượu,  bia,  số  lượng  thuốc  hút, 

cũng như lượng rau quả ăn trung bình mỗi ngày 

dễ  dẫn  đến  sai  lệch  hồi  tưởng.  Để  đánh  giá  rõ 

nét sự tương quan giữa các hành vi nguy cơ với 

bệnh tim mạch. Cần có một nghiên cứu đoàn hệ 

hồi  cứu  hoặc  nghiên  cứu  sống  còn  là  cần  được 

thực  hiện.  Để  hạn  chế  các  sai  lệch  hồi  tưởng 

không mong muốn, công cụ thu thập dữ liệu cần 

được  thiết  kế  phù  hợp,  áp  dụng  nhật  ký  ăn 

uống, nhật ký sinh hoạt là biện pháp có thể khắc 

phục sai lệch này và khả thi để ứng dụng cho các 

nghiên cứu tương tự sau này. 

KẾT LUẬN 

Qua nghiên cứu cắt ngang mô tả 384 cán bộ 

thuộc diện quản lý của Ban Bảo vệ, chăm sóc sức 

khỏe  cán  bộ  tỉnh  Tây  Ninh  nhằm  mục  tiêu  xác 

định  tỷ  lệ  hiện  mắc  và  các  yếu  tố  nguy  cơ  liên 

quan  bệnh  tim  mạch  của  các  cán  bộ  đã  được 

thực hiện vào tháng 6 năm 2012.  

Các bệnh tim mạch mà các cán bộ hiện mắc 

là nhồi máu cơ tim, bệnh lý mạch vành, tai biến 

mạch máu não và tăng huyết áp, với tỉ lệ tương 

ứng là 1,8%, 22,9%, 2,3% và 52,5%. Hầu hết các 

cán bộ có bệnh nêu trên đều đang điều trị. Tỉ lệ 

mắc các bệnh tim mạch nói chung là 59,6%. 

Có mối liên quan có ý nghĩa thống kê giữa:  Bệnh nhồi máu cơ tim với tuổi và thời gian  hoạt động thể lực nhẹ của cán bộ; 

Bệnh  lý  mạch  vành  với  tuổi,  tình  trạng  đương  chức,  sự  đánh  giá  sức  khỏe  chủ  quan,  thời gian hút thuốc lá, lượng thuốc lá điếu (trong  nhóm cán bộ có hút thuốc lá) và uống rượu / bia  của cán bộ; 

Tai  biến  mạch  máu  não  với  tuổi,  tình  trạng  đương chức, sự đánh giá sức khỏe chủ quan của  cán bộ; 

Tăng  huyết  áp  với  tuổi,  tình  trạng  đương  chức,  tình  trạng  sức  khỏe  theo  đánh  giá  chủ  quan, chỉ số khối cơ thể và thời gian hút thuốc lá  của cán bộ; 

Bệnh tim mạch nói chung với tuổi, tình trạng  đương  chức,  tình  trạng  sức  khỏe  theo  đánh  giá  chủ quan, chỉ số khối cơ thể, tiền sử gia đình đái  tháo đường và thời gian hút thuốc lá của cán bộ;   Bệnh tim mạch với bệnh đái tháo đường và  rối loạn lipid máu. 

ĐỀ XUẤT – KIẾN NGHỊ 

Nghiên cứu đặc thù trên đối tượng là các cán 

bộ chính quyền của tỉnh, qua nghiên cứu, một số 

đề xuất, kiến nghị như sau: 

Chính quyền cần phối hợp với y tế để triển  khai kiểm tra sức khỏe định kỳ tầm soát rối loạn  lipid  máu  cho  cán  bộ  tỉnh  diện  Ban  BảoVệ  sức  khỏe tỉnhTây Ninh, đặc biệt tập trung nhóm cán 

bộ từ 40 tuổi trở lên. Hoạch định chiến lược, dự  thảo chính sách điều trị, kiểm soát hội chứng rối  loạn lipid máu. 

Ngành  y  tế  cần  phối  hợp  với  các  đơn  vị  truyền  thông,  tiến  hành  truyền  thông  giáo  dục  sức  khỏe  định  kỳ  về  đái  tháo  đường,  rối  loạn  lipid  máu,  tăng  huyết  áp  nhằm  giảm  tỉ  lệ  các  bệnh  trong  cán  bộ  công  chức  tỉnh.  Vận  động,  truyền  thông  giáo  dục  sức  khỏe,  thay  đổi  hành 

vi  sử  dụng  rượu  bia,  thuốc  lá,  đặc  biệt  đối  với  cán bộ có các yếu tố nguy cơ như tuổi cao, chỉ số  BMI  cao,  triệu  chứng,  dấu  hiệu  bệnh  tim  mạch  phổ biến giúp phát hiện sớm. 

Ngày đăng: 21/01/2020, 23:09

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w